Website: Email : Tel : 0918.775.368
Mục lục
Lời mở đầu......................................................................................................2
Nội dung..........................................................................................................3
1.Khái niệm về công nghiệp chế biến.............................................................3
2. Vai trò của chế biến nông sản……….........................................................3
2.1. Đáp ứng được nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng cao.................4
2.2. Góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản................................4
2.3. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp..........................4
2.4. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động...........................5
2.5. Một số vai trò khác..............................................................................5
3. Đặc điểm của ngành chế biến nông sản......................................................6
3.1. Ngành chế biến nông sản vừa mang tính độc lập vừa mang tính phụ
thuộc vào sản xuất nông nghiệp ................................................................6
3.2. Hoạt động của ngành chế biến nông sản thường không hoàn toàn diễn
ra trong phạm vi doanh nghiệp...................................................................6
3.3. Ngành chế biến nông sản là một bộ phận cấu thành quan trọng của cơ
sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp..........................................................7
4. Những nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp chế biến................................7
4.1. Nhóm nhân tố thị trường.....................................................................7
4.2. Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất- kỹ thuật và công nghệ...................9
4.3. Nhóm nhân tố về chính sách vĩ mô..................................................10
5. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ, kết quả và hiệu quả..................................12
5.1. Hệ thống chỉ tiêu các nhân tố............................................................12
5.1.1. Các chỉ tiêu khái quát.................................................................12
5.1.2. Chỉ tiêu kết quả tổng hợp...........................................................12
5.2. Hệ thống chỉ tiêu kết quả..................................................................13
5.2.1. Chỉ tiêu kết quả trực tiếp............................................................13
5.2.2. Chỉ tiêu kết quả tổng hợp...........................................................13
5.3. Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của chế biến nông sản.........................14
5.3.1. Mức doanh lợi............................................................................14
nông sản ở nước ta hiện nay, với đề tài là: “Một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về phát triển chế biến nông sản ở nước ta hiện nay ”.
Do hạn chế về mặt thời gian cũng như lượng kiến thức nên đề tài của em
không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Nhưng với sự giúp đỡ tận tình
của các thầy cô trong bộ môn cũng như giáo viên hướng dẫn đã giúp đỡ em
rất nhiều trong việc hoàn thành đề tài này. Em xin chân thành cảm ơn!
2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Khái niệm về công nghiệp chế biến:
Trong các tài liệu thống kê quốc tế, công nghiệp chế biến (hay còn gọi
là công nghiệp chế tạo, manufacturing ) được hiểu là toàn bộ khu vực công
nghiệp loại trừ những ngành khai khoáng, xây dựng và những ngành cung cấp
những tiện ích sinh hoạt xã hội (điện, nước, ga) thuộc mã ngành 3 trong ISIC
(Bảng mã ngành công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế ). Công nghiệp chế biến
có đặc trưng làm thay đổi về chất của các đối tượng lao động là nguyên liệu
nguyên thủy (sản phẩm của khai thác ) thành các sản phẩm trung gian và tiếp
tục biến thành sản phẩm cuối cùng.
Công nghiệp chế biến còn được hiểu là quá trình làm tăng giá trị của
nông sản. Sản phẩm chế biến có thể cất trữ lâu dài, vận chuyển đi xa mà
không bị hư hỏng. Công nghiệp chế biến có vai trò to lớn đối với nền kinh tế -
xã hội. So với nhiều ngành công nghiệp khác thì nó không đòi hỏi vốn quá
lớn, chúng ta có thể xây dựng nhanh công trình và đưa cơ sở mới vào hoạt
động, vốn chu chuyển nhanh, nhờ đó mà tạo được nguồn vốn tich lũy trong
nước, thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
Một trong những sản phẩm đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, do
đất nước giàu tiềm năng nông nghiệp là chế biến nông sản thực phẩm, và đặc
biệt là hải sản.
2. Vai trò của chế biến nông sản:
Công nghiệp chế biến có vai trò quyết định trong công nghiệp hóa và
phát triển kinh tế. Cồn nghiệp hòa thường được giải thích là quá trình trong
dàng hơn cũng như được cất trữ để bán trên thị trường lúc trái vụ, điều này
khắc phục được điểm yếu của hàng hóa nông nghiệp là mang tính thời vụ cao.
Đồng thời công nghiệp chế biến cũng góp phần làm tăng xuẩt khẩu
nông sản. Nếu chỉ xuất khẩu dưới dạng thô, sơ chế thì không thể cạnh tranh
được với các nước khác, nhất là các nước trong khu vực. Chính vì vậy phát
triển công nghiệp chế biến đẻ phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu, mở rộng thị
trường là rất cần thiết và cấp bách.
2.3. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp,
phát triển sản xuất nông sản hàng hóa và hình thành vùng
chuyên canh quy mô lớn:
Nguyên liệu cho công nghiệp chế biến phải tập trung, đồng nhất thì chế
biến mới đạt hiệu quả cao. Việc phát triển chế biến sản phẩm nào là do nắm
bắt thị trường cho nên sản xuất nông nghiệp sẽ thay đổi để đáp ứng nhu cầu
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nguyên liệu của công nghiệp chế biến. Khi xây dựng nhà máy chế biến thì vấn
đề thì vấn đề đầu tiên là phải xây dựng được vùng nguyên liệu chon chế biến
để có quy mô, công nghệ hợp lý. Quy mô, tốc độ phát triển của chế biến nông
sản phụ thuộc vào trình độ, tính chất phát triển của sản xuất nông nghiệp mặt
khác nhờ sự phát triển chế biến nông sản mà xuất khẩu nông nghiệp sẽ phát
triển theo hướng chuyên canh có năng suất cao, tỷ suất hàng hóa lớn, hiệu quả
kinh tế cao.
Công nghiệp chế biến còn có vai trò to lớn trong việc chuyển dich cơ
cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc có
hiệu quả, công nghiệp-dịch vụ ở nông thôn tăng nhanh ngành này trong cơ
cấu nông nghiệp- công nghiệp- dịch vụ. Trong nội bộ ngành nông nghiệp
cũng bố trí lại cơ cấu cây trồng, vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến theo
hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và trong
nội bộ ngành trồng trọt thì giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây
công nghiệp, cây ăn quả…
Tuy nhiên, nguyên liệu đầu vào cho ngành lại là các sản phẩm của ngành
nông nghiệp. Vì thế công nghiệp chế biến phải phù hợp với đặc điểm của sản
phẩm nông nghiệp, bị quy định bởi tính mùa vụ và quy mô của ngành nông
nghiệp, quy cách chất lượng nguyên liệu nông sản phẩm. Đây là mỗi quan hệ
hữu cơ lẫn nhau, sản xuất nông nghiệp phát triển, sản lượng lớn, chất lượng
cao, đồng đều sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho chế biến đạt hiệu quả tốt, ngược
lại chế biến phát triển sẽ là nơi tiêu nthụ sản phẩn đầu ra tốt nhất cho người
nông dân, giúp nông dân yên tâm sản xuất. Chế biến nông sản phụ thuộc vào
sản xuất nông nghiệp nên ta cần giải quyết tốt mối quan hệ này để cả hai cùng
phát triển.
3.2. Hoạt động của ngành chế biến nông sản thường không
hoàn toàn diễn ra trong phạm vi doanh nghiệp:
Đây là đặc điểm nổi bật của công nghiệp chế biến nông sản. Đối tượng
phục vụ cho chế biến là các nông sản hàng hóa vì thế trong phạm vi doanh
nghiệp thường không thể đáp ứng được nhu cầu của nhà máy mà phải thu
gom từ nhiều doanh nghiệp khác, các hộ nông dân trên dịa bàn. Đặc điểm này
đòi hỏi việc tổ chức các ngành chế biến nông sản phải gắn với hoạt động của
doanh nghiệp với các doanh nghiệp khác và của các hộ nông dân, hộ dân cư
trên địa bàn.
Bên cạnh đó vấn đề thu gom, vận chuyển cũng đóng vai trò hết sức
quan trọng, và cũng không ít khó khăn. Có khi là do nguyên liệu thô thu gom
ở các hộ nông dân thường nhỏ lẻ, khó kiểm soát, có khi là sản phẩm cồng
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
kềnh, tươi sống, khó bảo quản chuyên chở xa…Chính vì vậy doanh nghiệp
chế biến nông sản cần phải chú trọng, không được xem nhẹ vấn đề này.
3.3. Ngành chế biến nông sản là một bộ phận cấu thành
quan trọng của cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp:
Chế biến là hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất hàng hóa có sự đan
xen giữa các thành phần kinh tế và các tổ chức sản xuất kinh doanh. Phải lựa
dân đòi hỏi một lượng lớn hơn số lượng hàng hóa nông sản đã qua chế biến.
Cơ cấu dân cư ở các vùng cũng có ảnh hưởng lớn đến cầu. Đối với vùng nông
thôn mà cư dân nông thôn là chủ yếu, phần lớn nhu cầu lương thực là tịa chỗ,
tự cung ứng, chính vì vậy các sản phẩm nông sản chế biến không được tiêu
dùng phổ biến. Còn đối với các vùng thành thị, nhu cầu về nông sản chế biến
ngày càng đòi hỏi số lượng lớn và chất lượng cao…
- Nguyên liệu chế biến: cũng là một vấn đề quan trọng cần quan tâm.
Khi xây dựng nhà máy chế biến một loại nông sản nào đó thì trước hết phải
xác định được vùng nguyên liệu cho nhà máy, khả năng cung cấp nguyên liệu
cho nhà máy. Những năm qua có những doanh nghiệp vì xem nhẹ yếu tố này
nên khi đi vào hoạt động thiếu nguyên liệu hoặc nguyên liệu không đảm bảo
yêu cầu dẫn đến tình trạng công suất nhà máy đạt rất thấp, hiệu quả kém, một
số nhà máy phải đóng cửa vì thiếu nguyên liệu. Việc xây dựng các vùng
nguyên liệu tập trung cho chế biến công nghiệp vẫn tiến hành chậm. Hiệu quả
của một số ngành công nghiệp chế biến nông sản còn thấp (mía đường, rau
quả). Nhiều nhà máy chưa chủ động xây dựng vùng nguyên liệu đảm bảo đủ
cho chế biến. Việc xây dựng nhà máy chế biến và phát triển vùng nguyên liệu
còn chưa đồng bộ. Việc đầu tư cơ sở hạ tầng (đường xá, thủy lợi...) chưa theo
kịp với việc xây dựng nhà máy chế biến. Sản xuất nông nghiệp lệ thuộc vào
điều kiện tự nhiên nên nguyên liệu không phải bao giờ cũng như ý muốn mà
phải dự kiến đến những rủi ro do yếu tố khách quan mang lại. Trong một số
trường hợp còn xảy ra hiện tượng phát triển ngành chế biến nông-lâm-thuỷ
sản theo phong trào (đường, tôm, cà phê, tinh bột sắn...), nên hiệu quả không
những thấp, mà đôi khi còn gây nên những thiệt hại lớn đối với bà con nông
dân và Nhà nước. Tính mùa vụ của sản xuất nông nghiệp dẫn đến tính mùa vụ
trong chế biến nông sản. Để khắc phục những nhược điểm đó ta cần xây dựng
nhà máy chế biến một số loại nông sản xen kẽ nhau hoặc sử dụng máy móc đa
chức năng, chẳng hạn nhà máy đường lúc trái vụ có thể chế biến xen kẽ một
số sản rau quả khác.
Chất lượng nguyên liệu ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm chế
công nghệ phải đánh giá được công nghệ của nó, tránh tình trạng vừa đưa vào
sử dụng đã hỏng hóc hoặc lạc hậu gây tổn thất lớn. Công nghệ, thiết bị chế
biến không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm mà nó còn ảnh hưởng đến
giá thành sản xuất do đó cần có kế hoạch khấu hao hợp lý, giảm hao mòn vô
hình. Công nghệ thiết bị được xem là tối ưu khi nó có tuổi thọ cao, công suất
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
lớn, cho ra sản phẩm có chất lượng tốt, ít hư hao và giá thành vừa phải. Để có
được những điều đó cần chú ý những điểm sau:
+ Thiết bị phải đồng bộ, đủ phụ tùng thay thế. Yêu cầu người đi mua
phải có hiểu biết về máy móc thiết bị.
+ Thuê chuyên gia để hướng dẫn cách sử dụng, sửa chữa đồng thời đào
tạo công nhân kỹ thuật để vận hành, bảo dưỡng và quản lý thiết bị để kéo dài
tuổi thọ, phát huy công suất tối đa với hiệu quả kinh tế cao nhất.
+ Có sự liên doanh liên kết hợp tác với nước ngoài để thu hút vốn đầu
tư, thiết bị công nghệ, phương pháp sản xuất tiên tiến vào việc phát triển
mạnh công nghệ chế biến nông sản ở nước ta.
+ Phải đánh giá, xem xét một cách toàn diện, sâu sắc để lựa chọn công
nghệ, thiết bị thích hợp nhất.
4.3. Nhóm nhân tố về chính sách vĩ mô:
Một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến phát triển công
nghiệp chế biến đó là nhân tố chính sách. Nếu chính sách đúng đắn, hợp lý sẽ
khuyến khích sản xuất phát triển, ngược lại chính sách sai lệch sẽ kìm hãm
sản xuất dẫn đến trì trệ. Chính sách ở đây bao gồm nhiều chính sách ảnh
hưởng trực tiếp đến công nghiệp chế biến và những chính sách ảnh hưởng đến
sản xuất nông nghiệp, đến thị trường… Có nhiều loại chính sách, thời gian
ban hành khác nhau nên dễ gây ra sự mâu thuẫn, chồng chéo và không đồng
bộ. Cho nên khi ban hành chính sách nhà nước phải xem xét, cân nhắc kỹ để
tránh gây ra hậu quả không mong muốn.
Những chính sách quan trọng ảnh hưởng tới công nghiệp chế biến:
nhà máy thiếu nguyên liệu mà người nông dân không muốn thu hoạch vì
không dủ bù đắp chi phí. Nhà nước cần có chính sách để vừa khuyến khích
người sản xuất nông nghiệp vừa tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến phát
triển.
- Chính sách thuế, chính sách xuất khẩu: Xuất khẩu là con đường mang
lại ngoại tệ để phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH đất nước, nếu như chỉ xuất thô
thì hiệu quả không cao. Nhà nước cần đánh thuế cao vào những sản phẩm
xuất thô và quy định mức thuế thấp đối với sản phẩm tinh chế. Đó là điều
kiện thuận lợi cho các nhà sản xuất phải đầu tư phát triển công nghiệp chế
biến nông sản, vừa giải quyết tốt cho lao động trong nước vừa mang lại hiệu
quả kinh tế cao.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
5. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ, kết quả và hiệu quả
chế biến nông sản:
5.1. Hệ thống chỉ tiêu các nhân tố:
5.1.1. Các chỉ tiêu khái quát:
- Tổng số vốn sản xuất (bao gồm vốn cố định và vốn lưu động). Chỉ tiêu
này phản ánh đầy đủ nhất tư liệu sản xuất và lao động ứng trước. Ưu việt của
vốn sản xuất biểu hiện chủ yếu ở sự tập trung hoá đầy đủ nhất các nhân tố và
điều kiện vào quá trình sản xuất. Khuynh hướng chunh trong việc thay đổi các
nhân tố của vốn sản xuất thông thường là sự tăng lên của vốn lưu động trên
với việc hạ thấp chi phí lao động sống và thù lao lao động. Nhưng do các yếu
tố khác nhau cấu thành vốn sản xuất có chức năng khác nhau trong quá trình
sản xuất và tham gia không giống nhau trong việc tạo thành giá trị sản phẩm,
nên khi sử dụng chỉ tiêu này cần kèm theo chỉ tiêu khác để đảm bảo tính chất
toàn diện của quá trình chế biến nông sản.
- Tổng chi phí sản xuất (bao gồm chi phí thực tế về tư liệu sản xuất và
lao động). Chỉ tiêu này phản ánh đầy đủ nhất chi phí thực tế và nó có ý nghĩa
trực tiếp để tăng khối lượng sản phẩm. Thông qua chỉ tiêu này có thể so sánh