Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới kinh tế ở việt nam hiện nay - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

\

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC


CẦN THƠ - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
KINH TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Triết học
Mã số

: 60 22 03 01


: Hiện đại hóa


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ
bản nhất, là linh hồn của triết học Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết
học, C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó
với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý
luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và
cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận
động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống
nhất biện chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và
những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử.
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn
đạt được trong hơn 20 năm đổi mới. Có được những kết quả đó một phần lớn
là do Đảng cộng sản Việt Nam đã lấy triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ
Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, cơ sở lý luận của mình. Đảng và Nhà nước
Việt Nam luôn vận dụng nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
suốt quá trình lãnh đạo giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc cũng như
trong công cuộc xây dựng đất nước. Đặc biệt, nguyên lý này đã được vận dụng
hết sức sáng tạo và linh hoạt trong đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Thời
kỳ đổi mới đặt ra những yêu cầu phải thay đổi một cách cơ bản cả về lý luận và
thực tiễn trong đường lối lãnh đạo của Đảng cũng như trong sự phát triển mọi
mặt của đời sống xã hội.
Sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của toàn Đảng, toàn quân, toàn
dân ta đòi hỏi phải có sự thống nhất cao giữa lý luận và thực tiễn. Yêu cầu đặt

+ Dương Văn Thịnh (chủ biên), Một số chuyên đề triết học Mác –
Lênin: Dùng cho sinh viên chuyên ngành triết học, Nxb. Đại học quốc gia Hà
Nội, năm1997.


3

+ Trần Văn Thụy , Triết học – lý luận và vận dụng, Học viện Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Giới thiệu về triết học và vai trò của triết học trong đời
sống xã hội. Trình bày khái lược lịch sử triết học trước Mác và triết học Mác Lênin. Tìm hiểu về chủ nghĩa duy vật biện chứng. Nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn của triết học Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xã
hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
+ Trần Viết Quang, Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong giảng dạy triết học, Trường Đại học Vinh,
- Về vấn đề đổi mới ở Việt Nam: vấn đề này đã được nhiều người quan
tâm, nghiên cứu như:
+ Các đồng chí lãnh đạo Đảng và nhà nước có nhiều tác phẩm và bài viết
về công cuộc đổi mới như tác phẩm “Đổi mới để tiến lên” của đồng chí
Nguyễn Văn Linh gồm 2 tập do nhà xuất bản sự thật xuất bản năm 1988 và
1989. Tác phẩm đã khẳng định đổi mới là tất yếu nhằm thúc đẩy cách mạng
XHCN không ngừng phát triển. Tác phẩm “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì
CNXH” của đồng chí Đỗ Mười, gồm 5 tập do nhà xuất bản Sự thật xuất bản
năm 1992 và 1993 đã nêu lên đường lối, quan điểm, biện pháp tiến hành công
cuộc đổi mới trong tất cả các lĩnh vực.
+ Một loạt đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ do các nhà khoa
học đầu ngành chỉ đạo tập trung nghiên cứu về thời kỳ quá độ lên CNXH ở
Việt Nam như đề tài “Con đường đi lên CNXH ở Việt Nam kinh nghiệm và
lý luận” do PGS,TS Nguyễn Ngọc Long (Học viện Chính trị quốc gia Hồ
Chí Minh) làm chủ nhiệm, đề tài cấp bộ, thực hiện năm 1991, đã nghiệm
thu tháng 5/1992. Đề tài đã đề cập đến mô hình, con đường đi lên CNXH ở

của Đảng trong thời kỳ đổi mới” của PGS, TS. Tô Huy Rứa, nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012 đã trình bày nhiều vấn đề về công tác lý
luận của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước.
+ Vũ Tuấn Anh (chủ biên), Đổi mới kinh tế và phát triển, Nxb. Khoa
học xã hội, năm 1994.


5

+ Lê Đăng Doanh, Cơ sở khoa học và thực tiễn của công cuộc đổi mới
kinh tế ở Việt Nam, LATSKH kinh tế, Hà Nội, năm 1996
+ Phạm Tiến Đạt (biên soạn), Những vấn đề cơ bản về đổi mới kinh tế
ở Việt Nam và những nét cơ bản của kinh tế vĩ mô trong cơ chế thị trường có
sự quản lý của Nhà nước, Nxb. Giao thông vận tải, năm 1995.
+ Trương Ngọc Nam, Khâu trung gian trong sự phát triển xã hội và ý
nghĩa phương pháp luận của nó đối với quá trình đổi mới kinh tế Việt Nam
hiện nay, Luận án TS triết học, Hà Nội, năm 2000.
+ Nguyễn Khải (chủ biên), Việt Nam 10 năm đổi mới kinh tế, Nxb. Hà
Nội, năm 1998.
+ Phạm Xuân Nam, Đổi mới kinh tế Việt Nam – thành tựu, vấn đề và
giải pháp, Nxb. Khoa học xã hội, năm 1991.
+ Dương Xuân Ngọc (chủ biên), Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi
mới chính trị ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, năm 2012.
+ Đặng Đức Phạm, Đổi mới kinh tế - thực trạng và triển vọng, Nxb.
Tài chính, Hà Nội, năm 1997.
+ Phan Thanh Phổ, Kinh tế và đổi mới kinh tế: sách bồi dưỡng thường
xuyên chu kỳ 1999-2000 cho giáo viên THPT, Nxb. Giáo dục, năm 2000.
+ Vũ Văn Phúc, Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở
nước ta, Nxb Lý luận chính trị, 2005.
+ Một số vấn đề về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

đổi mới kinh tế và quá trình vận dụng ở Việt Nam.
- Đề xuất những giải pháp vận dụng có hiệu quả nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: vấn đề vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn vào quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam hiện nay.


7

- Phạm vi nghiên cứu: từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận và phương pháp luận mác-xít.
Trong quá trình nghiên cứu và xử lý tài liệu tham khảo, người thực hiện quán
triệt phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Phương pháp nghiên cứu
chủ yếu của đề tài là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Các phương
pháp khác như tiếp cận hệ thống, phân tích, tổng hợp,.... được sử dụng như là
những phương pháp bổ trợ cần thiết cho hai phương pháp chủ yếu nêu trên.
6. Đóng góp mới của luận văn
Thông qua việc phân tích đường lối đổi mới kinh tế trong các văn kiện
Đảng qua các kỳ đại hội và thực trạng nền kinh tế Việt Nam đề tài đề xuất
những giải pháp nhằm vận dụng tốt hơn nguyên tắc này vào quá trình đổi mới
kinh tế ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm
2 chương, 4 tiết.


8


là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri thức
khái quát tri thức kinh nghiệm.
Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không
phải mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập
tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn
không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm. Khác với kinh
nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu
biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách
quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề
ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng
trong lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận
nhận thức. V.I.Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải
là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức” [31, tr.167].
Một trong những khuyết điểm chủ yếu của lý luận nhận thức duy vật
trước Mác là chưa thấy hết vai trò của thực tiễn đối với nhận thức. Một số nhà
triết học như Ph. Bêcơn, Đ. Điđơrô.… đề cao vai trò của thực nghiệm khoa
học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận
thức. G.Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn là
hoạt động vật chất mà là hoạt động tinh thần. L.Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới
là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ được ông xem xét ở khía cạnh biểu
hiện bẩn thỉu mà thôi.
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có mục đích, mang
tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự nhiên, xã hội và bản
thân con người.
Khác với hoạt động tinh thần, hoạt động thực tiễn là loại hoạt động mà
con người sử dụng những công cụ vật chất tác động vào những đối tượng vật
chất nhất định, làm biến đổi chúng theo mục đích của mình. Đó là những hoạt
động đặc trưng và bản chất của con người. Nó được thực hiện một cách tất


của con người và nó tạo ra những điều kiện, của cải thiết yếu nhất, có tính


11

quyết định đối với sự sinh tồn và phát triển của con người. Không có hoạt
động sản xuất vật chất thì không thể có các hình thức thực tiễn khác. Các hình
thức thực tiễn khác, suy đến cùng cũng xuất phát từ thực tiễn sản xuất vật chất
và nhằm phục vụ thực tiễn sản xuất vật chất.
Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận
thức của con người được hình thành, phát triển. Thông qua hoạt động thực
tiễn con người tác động vào thế giới buộc thế giới phải bộc lộ ra những thuộc
tính, những tính quy luật để con người nhận thức chúng. Thoát ly thực tiễn,
nhận thức đã thoát ly khỏi mảnh đất hiện thực nuôi dưỡng nó phát triển vì thế
không thể đem lại những tri thức sâu sắc, xác thực, đúng đắn về sự vật, sẽ
không có khoa học, không có lý luận.
Thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo công cụ, phương tiện máy móc mới,
hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, khám phá, chinh phục thế giới.
Ph.Ăngghen cho rằng, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, của sản xuất sẽ thúc
đẩy nhận thức khoa học phát triển nhanh hơn hàng chục trường đại học. Vai
trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn
của chân lý. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của
con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải
là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề của thực tiễn. Chính trong thực tiễn
mà con người phải chứng minh chân lý” [41, tr. 9-10]. Tất nhiên, nhận thức xã
hội còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn lô gic nhưng tiêu chuẩn lô gic
không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nó cũng phụ
thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn. Đó là tư tưởng cơ bản của Mac-Ăngghen khi
đưa phạm trù thực tiễn vào nội dung của lý luận nhận thức, tư tưởng đó đã
được Lênin bảo vệ và phát triển sâu sắc hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy

sát thực tiễn, khái quát lý luận. Quá trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn
tại của con người, làm cho lý luận ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc
hơn. Nhờ vậy hoạt động của con người không bị hạn chế trong không gian và
thời gian.


13

Thực tiễn là mục đích của lý luận. Mặc dù lý luận cung cấp những tri
thức khái quát về thế giới để làm thỏa mãn những nhu cầu hiểu biết của con
người nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao những hoạt động của
con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn
nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không thể tạo
nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được
thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên
và xã hội theo mục đích của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận.
Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người.
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận. Tính chân lý của lý luận
chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan và được thực tiễn
kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thực tiễn của
con người. Do đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm.
Chính vì thế mà C. Mác nói : “vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có
thể đạt đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn không phải vấn đề lý
luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng
minh chân lý” ” [41, tr.9-10]. Thông qua thực tiễn những lý luận đạt đến chân
lý sẽ được bổ sung vào kho tàng tri thức nhân loại, những kết luận chưa phù
hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc nhận thức lại.
Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động
thực tiễn. Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải
mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chấn lý

quần chúng” [41, tr.580]. Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao, song nó
còn mang tính lịch sử, cụ thể. Do đó, khi vận dụng lý luận chúng ta còn phân
tích cụ thể mỗi tình hình cụ thể. Nếu vân dụng lý luận máy móc, giáo điều,
kinh viện thì chẳng những hiều sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại
đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn. Lý
luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của
con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn.


15

Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạng nhưng không phải không
có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức lý
luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn định hướng cho
hoạt động thực tiễn, định hướng mô hình của hoạt động thực tiễn. Vận dụng
lý luận vào hoạt động thực tiễn, trước hết từ lý luận để xây dựng mô hình thực
tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn
biến các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong
quá trình phát triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố
tiêu cực nhằm đạt kết quả cao.
Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu với thực
tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến
của thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận,
hoặc có thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Khi vận dụng lý luận
vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả có thể không, hoặc kết quả chưa
rõ ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định.
Tính năng động của lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn.
Lênin nhận xét rằng: “Thực tiễn cao hơn lý luận, vì nó có ưu điểm không
những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp” [ 32, tr.230].
Nói tóm lại, chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự

để cải tạo thực tiễn.
Tuy nhiên cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao
trong sự phản ánh hiện thực nên lý luận có khả năng xa rời thực tiễn và trở
thành ảo tưởng. Vì thế, không được cường điệu vai trò của lý luận, mặt khác
không được xem nhẹ thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó cũng
có nghĩa là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng. Nếu không bám sát thực
tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học,
không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với đúng nghĩa của nó. Và lý
luận trở thành lý luận suông.


17

Thứ hai, phải lấy thực tiễn làm tiêu chuẩn để kiểm tra tính chân lý của
lý luận. Chủ nghĩa Mác-Lênin xem xét lý luận và thực tiễn trong sự thống
nhất biện chứng. Thực tiễn là hoạt động vật chất còn lý luận là hoạt động tinh
thần, nên thực tiễn đóng vai trò quyết định trong quan hệ đối với lý luận.
Lênin viết: “Thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) nó có ưu điểm không
những của tính phổ biến mà của tính hiện thực trực tiếp” [ 32, tr.230]. Tính
phổ biến của thực tiễn đối với nhận thức (lý luận) thể hiện ở chỗ, thực tiễn là
khâu quyết định đối với hoạt động nhận thức. Một lý luận được áp dụng trong
thời gian càng dài, không gian càng rộng thì hiệu quả đạt được càng cao, càng
khẳng định tính chân lý của thực tiễn. Ngay cả một giả thiết khoa học muốn
trở thành lý luận phải thông qua hoạt động thực nghiệm kiểm tra, xác nhận.
Như vậy, chỉ có qua hoạt động thực tiễn thì lý luận mới có giá trị tham gia
vào quá trình biến đổi hiện thực.
Thứ ba, phải thường xuyên tổng kết thực tiễn để phát triển lý luận. Lý
luận là “kim chỉ nam” cho hoạt động thực tiễn. Cố nhiên để có thể giải đáp
được những vấn đề của cuộc sống, lý luận phải không ngừng liên hệ bằng

tế, không phù hợp với thực tiễn. Tuy nhiên, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt
chẽ với kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý
luận suông, tức bệnh giáo điều.
Nâng cao trình độ trí tuệ, trình độ lý luận để đủ sức giành thắng lợi
trong cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng - lý luận là vấn đề đặt ra rất cấp
thiết và gay gắt hiện nay. Nghị quyết Đại hội Đảng ta đã khẳng định: “Mọi
cán bộ, đảng viên, trước hết là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phải có kế hoạch
thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng
lực hoạt động thực tiễn. Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ,
đảng viên và phải được quy định thành chế độ” [16]. Thêm vào đó, thực tiễn
luôn luôn vận động, biến đổi không ngừng nên cần phải có tư duy lý luận,
phải không ngừng rèn luyện, nâng cao trình độ tư duy lý luận.


19

Thứ sáu, trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Chúng ta
coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm
quý báu đó song chỉ dừng lại ở trình độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh
nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm
đồng thời coi nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận,
không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy
nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện, thiếu tính lô gic, tính
hệ thống, do đó, trong hoạt động thực tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính
đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy dễ rơi vào bệnh kinh
nghiệm chủ nghĩa. Nếu tuyệt đối hóa lý luận, coi lý luận là bất di bất dịch,
việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung chung trừu tượng,
không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ thể của sự vận dụng lý luận thì
dễ mắc bệnh giáo điều. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: thực tiễn không có

quốc gia – dân tộc. Đây là những tác động phổ biến, không một nước nào được
xem là ngoại lệ, ở bên ngoài xu thế chung ấy. Thế giới toàn cầu và nền kinh tế
toàn cầu đỏi hỏi các quốc gia – dân tộc phải mở cửa, hội nhập để phát triển.
Chính trong bối cảnh ấy, chủ nghĩa xã hội hiện thực lại lâm vào một cuộc
khủng hoảng trầm trọng, đến mức trở thành một tình huống: “Tồn tại hay
không tồn tại?” Cải tổ - cải cách – đổi mới, với ý nghĩa lành mạnh, tích cực của
nó, chính là câu trả lời khẳng định cho câu hỏi mang tính tình huống nêu trên.
Đổi mới ở Việt Nam theo đường lối Đại hội VI (12/1986) của Đảng
cũng chịu sự tác động chung của tình hình thế giới đối với các nước xã hội chủ
nghĩa. Đổi mới còn được thúc đẩy bởi những đòi hỏi bức xúc, chín muồi của
tình hình trong nước, nhất là cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 .
Đổi mới ở đây thực chất là đổi mới về kinh tế, khi mà nền kinh tế xã hội kém
phát triển, định hướng chưa phù hợp. Lý luận kinh tế còn chưa phù hợp với
thực tiễn đất nước lúc bấy giờ, cơ chế quan liêu bao cấp còn đang kìm hãm sự
phát triển của nền kinh tế. Vì vậy, yêu cầu bức thiết đặt ra lúc bấy giờ là cần có



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status