MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn một trong những nguyên tắc
cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học Các
Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận là mối liên hệ của nó trong thực
tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở trong mối quan hệ với lý luận.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng.
Một quốc gia, dân tộc muốn phát triển cần có các nguồn lực như con
người, vốn, tài nguyên thiên nhiên, khoa học công nghệ, trong đó nguồn
lực con người mang yếu tố quyết định. Việc phát huy nguồn lực con người
là nhân tố quan trọng là động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đây
cũng là một khâu tạo bước đột phá trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa sản xuất xã hội. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân
lực trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đại hội XI (2011) coi
con người là trung tâm của chiến lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát
triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với
quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.
Hiểu được vai trò của việc phát huy nguồn nhân lực, tỉnh Quảng
Bình trong những năm qua đã x ây dựng chiến lược phát huy và sử dụng
nguồn lực con người có hiệu quả, tạo động lực cho sự phát triển kinh tế - xã
hội góp phần đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở địa phương. Là một địa phương có những bước chuyển mang tính đột phá
căn bản trong phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, trước sự mở rộng và
phát triển ngày càng nhanh của nền kinh tế, đặc biệt là công nghiệp hóa,
hiện đại hóa, đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém trong việc đào tạo và quản
lý nguồn nhân lực cản trở tới sự phát triển bền vững của tỉnh.
Đế góp phần làm sáng tỏ thêm cơ sở lý luận khoa học và tổng kết
thực tiễn Quảng Bình về phát huy nguồn nhân lực, đồng thời trên cơ sở
1
thực trạng với hoàn cảnh tự nhiên, đặc điểm dân cư Quảng Bình với
những biểu hiện đặc thù trong việc phát huy nhân tố con người. Thêm vào
- TS - Trần Văn Tùng và Lê Aí Lâm (1998)
!"#$%&"'
Viện phát triển Giáo dục (2002) ()!&*+,
!-.'
- TS - Vũ Bá Thể (2005) /&
. Nxb Lao Động - Xã Hội.
- PGS - Bùi Thanh Quất (2005) 01$234
-.125
67 '
GS -S Phạm Minh Hạc789&$ ,8:
1.!;<:$=$&"'
- Nguyễn Duy Quý 2006 >? "&+/4@$#$ :.A
#=B , Tạp chí Cộng Sản số 6.
Lê Văn Quang 2006 01!CDE8? "
&+/4@67 / , Tạp chí Triết học số 8.
- GS - TS- Trần Côn F1GDE8#$#=&
;/+& " . (Kỷ yếu tọa đàm khoa học - Trung tâm Đào tạo,
bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị, Đại học Quốc gia Hà Nội). Ngoài ra
còn có nhiều bài viết của các nhà khoa học đăng trên các báo và tạp chí bàn
về những vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực Việt Nam và thế giới gần
đây.
TS - Đỗ Minh Cương, PGS -TS - Nguyễn Thị Doan (2007)
C7 , Nxb, Chính trị quốc gia.
- Phạm Văn Quốc, Đoàn Thanh Thủy ( 2012) 7H#=
:IJ, Tạp chí Nhân lực. Các tác giả khi
nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong giai
đoạn, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nội dung rộng lớn, bao chứa nhiều lĩnh
3
vực với phạm vi khái quát cao. Các đề tài đã đề cập đến vấn đề chung của
nguồn nhân lực, bước đầu đã giải quyết những vấn đề và tháo gỡ những
Cơ sở thực tiễn của đề tài: Là thực trạng phát huy nguồn nhân lực ở
tỉnh Quảng Bình giai đoạn hiện nay.
Phương pháp nghiên cứu của đề tài: Phương pháp xuyên suốt và tối
ưu trong việc nghiên cứu đề tài là phép biện chứng của chủ nghĩa duy vật,
quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể. Ngoài ra còn kết hợp các
phương pháp lôgic - lịch sử, phân tích, tổng hợp'
6. Đóng góp của đề tài.
Mặt lý luận: Đề tài nêu lên một cách có hệ thống khoa học quan
điểm của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn. Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản
Việt Nam, vận dụng quan điểm đó vào việc đánh giá thực trạng việc phát
huy nguồn nhân lực ở tỉnh Quảng Bình hiện nay.
Đề tài đã đưa ra một số giải pháp chủ yếu để nhằm phát huy nguồn
nhân lực trong giai đoạn tới, đặc biệt trong những năm 2015 - 2020 với
những bước phát triển ổn định và bền vững trong kinh tế - xã hội.
Mặt thực tiễn: Đề tài hoàn thành sẽ góp phần làm phong phú thêm
nguồn tài liệu cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
7. Kết cấu của đề tài.
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì nội dung của đề tài gồm 2 chương
6 tiết.
Chương1: Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc
căn bản trong triết học Mác - Lênin.
Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực ở
tỉnh Quảng Bình hiện nay.
5
CHƯƠNG 1
THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
LÀ MỘT NGUYÊN TẮC CĂN BẢN CỦA TRIẾT HỌC
MÁC - LÊNIN
1.1. Quan điểm của triết học Mác - Lênin về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
phải tích luỹ một lượng tri thức nhất định trong hoạt động sản xuất cũng
như hoạt động khoa học mới có thể hình thành tri thức kinh nghiệm khoa
học. Tri thức kinh nghiệm khoa học giúp các nhà khoa học hình thành lý
luận. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở trình độ thấp,
nhưng nó là cơ sở hình thành lý luận.
Lý luận là sản phẩm cao nhất của nhận thức, của sự phản ánh hiện
thực khách quan vào trong bộ não con người. Cho nên, bản chất của lý luận
là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Trong chủ nghĩa Mác - Lênin lý giải những vấn đề bản chất nhất của
nhận thức không thể tách rời những vấn đề của thực tiễn. Lênin cũng đã
nhấn mạnh rằng: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm
thứ nhất và cơ bản nhất của lý luận về nhận thức”[12, 167].
Trong tác phẩm Bút ký triết học, Lênin nhận định: “Con đường biện
chứng của quá trình nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan
chính là con đường đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư
duy trừu tượng đến thực tiễn”[12, 179].
Nhận thức là cả một quá trình biện chứng đi từ chưa biết đến biết, từ
biết ít đến biết nhiều, từ cái bộ phận đến cái toàn thể, từ nông cạn đến sâu
sắc, từ hiện tượng đến bản chất … Đúng như Lênin nhận xét: “Trong lý
luận nhận thức cũng như trong tất cả các lĩnh vực khác của khoa học cần
suy luận một cách biện chứng nghĩa là đừng giả định rằng nhận thức chúng
ta là bất di bất dịch và có sẵn mà phải phân tích xem xét sự hiểu biết như
thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và không chính xác trở nên đầy đủ và
chính xác hơn như thế nào”[12, 117].
7
Như vậy có thể thấy, nhận thức là một quá trình biện chứng diễn ra
rất phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn, trình độ, vòng khâu và hình thức
khác nhau. Tuỳ theo tính chất nghiên cứu mà quá trình đó được phân chia
thành nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính.
Nhận thức cảm tính (hay còn gọi là trực quan sinh động) là giai đoạn
sắc đến mức có thể hiện lên trong kí ức của chúng ta ngay cả khi sự vật
không còn ở trước mắt, đó chính là những biểu tượng. Trong biểu tượng
chỉ giữ lại những nét chủ yếu, nổi bật nhất của sự vật do cảm giác, tri giác
đem lại trước đó. Biểu tượng thường hiện ra khi có những tác nhân tác
động kích thích đến trí nhớ con người. Hình thức cao nhất của biểu tượng
là sự tưởng tượng, sự tưởng tượng đã mang tính chủ động sáng tạo. Tưởng
tượng có vai trò to lớn trong hoạt động sáng tạo khoa học và sáng tạo nghệ
thuật. Biểu tượng tuy vẫn còn mang tính chất cụ thể sinh động của nhận
thức cảm tính, song bắt đầu mang tính chất khái quát và gián tiếp.
Như vậy, nhận thức cảm tính là nhận thức các phương diện khác
nhau của sự vật, những mối liên hệ bên ngoài sự vật, những hiện tượng
của sự vật, những hiện tượng của sự vật được cảm thụ trực tiếp nhờ các cơ
quan cảm giác đem lại. Xét toàn bộ mà nói thì nhận thức cảm tính vẫn chỉ
là “trực quan sinh động”, là giai đoạn đầu của nhận thức, tính trực tiếp là
đặc điểm nổi bật của nó. Nhận thức cảm tính sử dụng đến hình tượng cụ
thể, sinh động để phản ánh thế giới khách quan bên ngoài, nó lấy hiện
tượng của sự vật, tức mối liên hệ bên ngoài của sự vật làm nội dung, vẫn
còn chưa đi sâu vào nhận thức bản chất của sự vật. Do vậy, nhận thức cảm
tính có sinh động nhưng vẫn chưa sâu sắc.
Nhận thức lý tính hay còn gọi là tư duy trừu tượng là giai đoạn tiếp
theo và cao hơn về chất của quá trình nhận thức, nó nảy sinh trên cơ sở
nhận thức cảm tính. Nếu chỉ bằng cảm giác, tri giác thì nhận thức của con
người sẽ rất hạn chế, bởi vì con người không thể bằng cảm giác mà hiểu
được những cái như tốc độ ánh sáng, giá trị hàng hoá, quan hệ giai cấp,
9
hình thái kinh tế - xã hội… Muốn hiểu được cái đó phải nhờ đến sức mạnh
của tư duy trừu tượng.
Tư duy trừu tượng là sự phản ánh khái quát gián tiếp hiện thực khách
quan. Tư duy phải gắn liền với ngôn ngữ, được biểu đạt thành ngôn ngữ,
ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Tư duy có tính chất năng động sáng
phán đoán tiền đề. Nếu như, phán đoán là sự liên hệ giữa các khái niệm thì
suy lý là sự liên hệ giữa các phán đoán. Suy lý là công cụ hùng mạnh của tư
duy trừu tượng thể hiện quá trình vận động của tư duy đi từ những cái đã
biết đến nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp. Có thể nói, toàn
bộ các khoa học được xây dựng trên hệ thống suy lý và nhờ suy lý mà con
người ngày càng nhận thức sâu sắc hơn, đầy đủ hơn hiện thực khách quan.
Tuy nhiên, để phản ánh đúng hiện thực khách quan trong quá trình suy lý
phải xuất phát từ những tiền đề đúng và phải tuân theo những quy tắc lôgíc.
Do đó, nếu những tiền đề của chúng ta là đúng và nếu chúng ta vận dụng
một cách chính xác những quy luật của tư duy đối với những tiền đề ấy thì
kết quả phải phù hợp với hiện thực [13, 829-830].
Nhận thức lý tính là nhận thức dựa vào tư duy trừ tượng, trên cơ sở
khái quát những tài liệu của nhận thức cảm tính, đạt tới nhận thức tính quy
luật của bản thân sự vật và những mối liên hệ bên trong, toàn thể, bản chất
của sự vật. Giai đoạn này chính là “tư duy trừu tượng”. Nhận thức lý tính là
giai đoạn nhận thức ở trình độ cao của nhận thức, nó có đặc điểm của tính
gián tiếp, tính trừu tượng, nó lấy sự phản ánh bản chất của sự vật làm nội
dung, do đó sâu sắc hơn nhận thức cảm tính.
Nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính tồn tại trong mối liên hệ
biện chứng, có liên quan mật thiết với nhau. Trước hết, nhận thức lý tính
phải dựa vào nhận thức cảm tính, làm cơ sở cho nhận thức cảm tính. Sau
nữa, nhận thức cảm tính muốn phát triển và trở nên sâu sắc trong phản ánh
sự vật thì phải nâng lên nhận thức lý tính. Giữa nhận thức cảm tính và nhận
thức lý tính có sự thống nhất biện chứng với nhau và cơ sở của sự thống
11
nhất biện chứng đó chính là “thực tiễn”. Nhận thức cảm tính được sinh ra
trong hoạt động thực tiễn và sự quá độ từ nhận thức cảm tính đến nhận thức
lý tính cũng trên cơ sở hoạt động thực tiễn.
Xét về bản chất, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ
thực tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế
F.Bêcơn (1561-1626) nhà triết học duy vật Anh, người đặt nền móng
cho sự phát triển của chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII - XVIII, khi
đề cao vai trò của tri thức ông đã nhấn mạnh nhiệm vụ của triết học là tìm
ra con đường nhận thức giới tự nhiên. Theo ông, quá trình nhận thức phải
kiên quyết chống chủ nghĩa kinh nghiệm, chủ nghĩa kinh viện. Nhận thức
phải xuất phát từ giới tự nhiên và thực nghiệm để tìm ra mối quan hệ nhân
quả, phát hiện và kiểm tra chân lý. Có thể nói Bêcơn là nhà triết học đầu
tiên thấy được vai trò của thực tiễn, của thực nghiệm khoa học trong quá
trình nhận thức, trong quá trình hình thành tri thức.
Đến Phoiơbắc, nhà triết học duy vật Đức thế kỉ XIX đã đề cập đến
vấn đề thực tiễn, nhưng đối với ông, chỉ có lí luận mới thực sự là hoạt động
chân chính của con người còn thực tiễn mang tính chất con buôn bẩn thỉu.
Ông không thấy được vai trò, ý nghĩa của thực tiễn đối với nhận thức và cải
tạo thế giới. Với ông chỉ có hoạt động lý luận mới là thật sự là hoạt động
quan trọng.
Hêgghen, nhà triết học duy tâm Đức cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ
XIX đã có một số tư tưởng hợp lý, sâu sắc về thực tiễn. Ông cho rằng chủ
thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hoá bản thân mình trong quan hệ với thế
giới bên ngoài, nhưng ông chỉ giới hạn thực tiễn ở ý niệm, ở hoạt động tư
tưởng, đối với ông thực tiễn là một suy lý lôgíc.
Các nhà triết học duy vật trước Mác cho rằng, quá trình hình thành ý
thức của con người mang tính thụ động. Chính vì vậy, Các Mác đã đánh
giá: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay
- kể cả chủ nghĩa duy vật của phoiơbắc - là sự vật hiện thực, cái cảm giác
13
được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực
quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là
thực tiễn”[17, 9-10].
E.Makhơ, nhà triết học duy tâm chủ quan người Áo đồng thời là một
trong những người sáng lập ra chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán cho rằng
vật chất. Bởi hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và
khách thể trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể trên cơ sở đó
nhận thức khách thể. Vì vậy, thực tiễn là khâu trung gian nối liền ý thức
con người với thế giới bên ngoài. Như vậy, hoạt động thực tiễn là hoạt
động bản chất của con người. Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng
nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài thì con người
nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có tính xã hội của mình để
cải tạo thế giới nhằm thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ
động tích cực với thế giới và làm chủ thế giới. Để thoả mãn nhu cầu của
mình, con người phải tiến hành sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống
mình và nhờ đó con người tạo nên những sản phẩm vốn không có sẵn trong
tự nhiên. Như vậy, không có hoạt động thực tiễn thì con người và xã hội
không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói: Thực tiễn là
phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu
tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Mỗi hoạt động
của con người đều mang tính lịch sử cụ thể. Nó chỉ diễn ra trong một giai
đoạn nhất định nào đó.
Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm
người nhưng hoạt động thực tiễn của từng cá nhân, từng nhóm người lại
không thể bị tách rời quan hệ xã hội. Xã hội quy định mục đích, đối tượng
phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn. Do đó, hoạt động thực
tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng
đồng, vì cộng đồng và do cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu đã có nhận
15
thức, đã có ý thức. Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức
về đối tượng, đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Mục
đích của hoạt động thực tiễn là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh
thần của cá nhân và xã hội. Mỗi hoạt động đều có mục đích khác nhau để
giải quyết nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục đích, mặc
cho tiến bộ xã hội.
Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động của con người nhằm cải
tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội, như đấu
tranh giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh bảo vệ hòa bình thế
giới vì sự tiến bộ xã hội loài người, đấu tranh chống ô nhiễm môi trường
bảo vệ cân bằng sinh thái, đấu tranh chống các thảm họa do các dịch bệnh
gây ra.
Hoat động chính trị - xã hội là hoạt động giúp cho con người có điều
kiện để phát huy hết khả năng sáng tạo của mình góp phần vào sự phát
triển chung của nhân loại và nếu không có các dạng hoạt động này thì sẽ
không làm thay đổi các quan hệ xã hội và như vậy sẽ không thúc đẩy xã hội
phát triển được.
Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động của các ngành khoa
học tác động làm cải biến những đối tượng nhất định trong một điều kiện
nhất định, theo một mục đích nghiên cứu nhất định, đây là dạng đặc biệt
của hoạt động thực tiễn bởi vì nó được tiến hành trong những điều kiện
nhân tạo nhằm tạo những luận cứ khoa học và để phục vụ cho hoạt động
nhận thức và hoạt động làm biến đổi giới tự nhiên, xã hội của con người.
Ngoài các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên, còn có các hoạt động
phát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế, giáo dục… các loại
hoạt động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài
người, có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng hoạt động
thực tiễn của con người.
Như vậy, mỗi hình thức hoạt động cơ bản có một chức năng quan
17
trọng khác nhau, không thể thay thế được cho nhau. Song giữa chúng có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong mối quan hệ đó hoạt động sản xuất
vật chất là hoạt động cơ bản nhất, đóng vai trò quyết định đối với các hoạt
động khác. Bởi vì nó là hoạt động nguyên thuỷ nhất, tồn tại một cách khách
quan, thường xuyên nhất trong cuộc sống của con người và nó tạo ra những
cũng như thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan
hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành
lý luận. Quá trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh
những lý luận đã đựơc khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con
người làm nảy sinh những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp
tục giải quyết. Thông qua đó, lý luận được bổ sung, mở rộng. Chính vì vậy,
Lênin nói: “Nhận thức lý luận phải trình bày khách thể trong tính tất yếu
của nó, trong những quan hệ toàn diện của nó, trong sự vận động mâu
thuẫn của nó, tự nó và vì nó”[12, 227].
Thực tiễn là động lực của lý luận: Hoạt động của con người không chỉ
là nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm
phương pháp cho hoạt động. Thực tiễn, mang lại lợi ích cho con người càng
kích thích con người tích cực bám sát thực tiễn để khái quát lý luận. Quá
trình đó diễn ra không ngừng trong sự tồn tại của con người, làm cho lý luận
ngày càng đầy đủ, phong phú và sâu sắc hơn. Nhờ vậy hoạt động con người
không bị hạn chế trong không gian và thời gian. Thông qua đó, thực tiễn đã
thúc đẩy một ngành khoa học mới ra đời - khoa học lý luận.
Thực tiễn là mục đích của lý luận: Mặc dù lý luận cung cấp những tri
thức khái quát về thế giới để làm thoả mãn nhu cầu hiểu biết của con
người, nhưng mục đích chủ yếu của lý luận là nâng cao năng lực hoạt động
của con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thoả
mãn nhu cầu ngày càng tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không
thể tạo nên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó
19
chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến
đổi trong tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người, đó thực chất là
mục đích của lý luận. Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn
của con người.
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận: Tính chân lý của lý luận
có thể nói khái quát thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận.
Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự
hình thành lý luận. Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận
thức mà còn từ nhu cầu của thực tiễn. Thực tiễn phong phú đa dạng, luôn
luôn vận động và biến đổi, nhưng để hình thành lý luận trước hết lý luận
phải đáp ứng thực tiễn. Con người nhận thức hiện thực khách quan để giải
quyết những vấn đề con người quan tâm. Năng lực của con người ngày
càng được nâng cao chính nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh,
khái quát thành tri thức lý luận. Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực
khách quan, con người không hề choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để
nhận thức. Loài người có khả năng trở thành chủ thể nhận thức để phản ánh
sự vô tận của hiện thực khách quan, nhưng để đáp ứng hoạt động thực tiễn
của con người. Đó là những lý luận mang tính phương pháp cho hoạt động
cải tạo hiện thực khách quan. Mọi hoạt động của con người đều nhằm đạt
hiệu quả cao. Lý luận, trước hết phải đáp ứng mục đích đó. Quan hệ giữa
con người với con người, giữa con người với tự nhiên đòi hỏi con người
phải có lý luận sâu sắc về chúng.
Thực tiễn chỉ đạo lý luận, ngược lại lý luận phải được vận dụng vào
thực tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn. Các Mác đã từng
nói, khi so sánh một con ong giỏi nhất với một người kiến trúc sư tồi nhất
người kiến trúc sư không bao giờ tinh xảo như con ong xây tổ nhưng hơn
hẳn con ong ở chỗ, trước khi xây dựng một công trình họ đã hình thành
được hình tượng của công trình ấy trong đầu họ. Tức là, hoạt động của
con người là hoạt động có ý thức. Ban đầu hoạt động của con người chưa
21
có lý luận chỉ đạo, song con người phải hoạt động để đáp ứng nhu cầu tồn
tại của mình. Thông qua đó, con người khái quát thành lý luận. Từ đó
những hoạt động của con người muốn có hiệu quả nhất thiết phải có lý
luận soi đường hoạt động thực tiễn của con người mới trở thành tự giác,
có hiệu quả và đạt được mục đích mong muốn.
cũng phục tùng thực tiễn, và lý luận bao giờ cũng phát triển trên cơ sở cải
tạo thực tiễn của xã hội. Vì vậy, không có sự đối lập giữa lý luận và thực
tiễn, tính độc lập của lý luận chỉ là tương đối, lý luận cách mạng không
phải hoàn toàn là thực tiễn cách mạng, tuy nhiên do lý luận được sinh ra
bởi các nhu cầu của thực tiễn xã hội nên lý luận cách mạng trở thành một
bộ phận của thực tiễn xã hội.
Tóm lại, quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một quá trình mang tính
lịch sử xã hội cụ thể. Đây là quan hệ thống nhất biện chứng nắm bắt được
tính biện chứng của quá trình đó là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng
ta có một lập trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực
dụng ,máy móc và lý luận suông. Có thể nói rằng, Các Mác là người đầu
tiên đưa phạm trù thực tiễn vào nhận thức luận, nhờ đó ông đã làm nên
cuộc cách mạng thực sự trong tư duy cũng như trong hoạt động của con
người. Đến Lênin, ông đã phát triển và nâng cao vai trò của thực tiễn trong
lý luận nhận thức. Lênin có công to lớn trong việc làm sáng tỏ mối quan hệ
biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, về học thuyết chân lý trên cơ sở khoa
học hiện đại.
1.2. Quan điểm của Đảng ta về nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực Zễn.
Chủ tịch Hồ Chí Minh người sáng lập Đảng ta đã chỉ rõ: “Thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa
Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù
quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”. Chúng ta
có thể thấy rằng cội nguồn của những đột phá, những bước tiến vượt bậc
của xã hội loài người có sự đóng góp của lý luận đích thực. Lý luận lại có
nguồn gốc, cơ sở động lực từ thực tiễn, chính thực tiễn đặt ra vô vàn những
vấn đề mà lý luận phải giải đáp và chỉ trên cơ sở đó lý luận mới thực sự giữ
23
vai trò dẫn đường, lý luận phải đi trước một bước. Chính vì vậy, việc tìm
hiểu mối liên hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn là rất cần thiết đối với
sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay.
mà lại biết thêm lý luận thì công việc tốt hơn nhiều… Những đồng chí đó,
cần nghiên cứu thêm lý luận mới thành người cán bộ toàn diện. Lý luận
suông, theo Hồ Chí Minh: Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế, lý
luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Có nhiều cán bộ, trí
thức chỉ chăm chú sách vở, học nhiều, bằng cấp lắm nhưng lại không đem
áp dụng vào công việc thực tế, họ trở thành những người lý luận suông. Hồ
Chí Minh nhắc nhở Đảng ta phải nâng cao trình độ lý luận của Đảng, phải
tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ cốt cán
của Đảng rằng học tập lý luận là một sự cấp thiết đối với Đảng ta.
Hồ Chí Minh đã đề cập đến những thiếu sót phổ biến của cán bộ ta là
kém lý luận, khinh lý luận và lý luận suông. Người nhắc nhở cán bộ phải
đem tri thức vào thực tế, lý luận phải đem ra thực hành, thực hành phải
nhằm theo lý luận. Người đưa hình ảnh “Mũi tên” và “Cái đích” để dễ hiểu
dễ nhớ. “Lý luận cũng như cái tên hoặc viên đạn. Thực hành cũng như cái
đích để bắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có
tên.”[20, 235].
Từ mối quan hệ hữu cơ đó, Người căn dặn chúng ta phải gắng học,
đồng thời học thì phải hành. Việc học lý luận và gắn lý luận với thực hành
được coi như tiêu chuẩn xác định tư cách và đạo đức của người cán bộ:
“Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận và thực
hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”[20, 249].
Hồ Chí Minh còn rất quan tâm đến mối quan hệ giữa lý luận - thực
tiễn - kinh nghiệm trong công tác cách mạng. Người nhắc nhở Đảng ta phải
kết hợp lý luận với kinh nghiệm và thực hành. Trong học tập phải theo
nguyên tắc: Kinh nghiệm và thực tế phải đi đôi với nhau. Đặc biệt trong lý
luận, Hồ Chí Minh chú trọng việc học tập lý luận Mác - Lênin cho cán bộ
25