TIỂU LUẬN:VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LENIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY - Pdf 12


TP. Hồ Chí Minh, năm 2006

MÁC – LÊ NIN TRONG CÔNG TÁC GIẢNG DẠY

(Tiểu luận triết học chương trình cao học và nghiên cứu sinh không
chuyên triết)

Họ và Tên : Nguyễn Hồng Sơn
Chức danh : P.GĐ Trung tâm TNTH Ô TÔ
Học vò : Kỹ sư ô tô
Đơn vò công tác : Trường ĐH Công Nghiệp TPHCM
TP. Hồ Chí Minh, năm 2006
MỞ ĐẦU



Phạm trù thực tiễn:
Các nhà duy vật trước Mác đã có công lao lớn trong việc phát triển thế
giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghóa duy tâm, tôn giáo và thuyết
không thể biết. Tuy nhiên, lý luận của họ còn nhiều khuyết điểm, mà trong đó
khuyết điểm lớn nhất là không thấy được hoạt động có tính chất lòch sử – xã hội
đối với nhận thức, do đó chủ nghóa duy vật của họ manh tính
trực quan
. Mác chỉ
rõ : “
Khuyết điểm chủ yếu, từ trước cho đến nay của mọi chủ nghóa duy vật (kể
cả chủ nghóa duy vật của Feuerbach) là không thấy dượcvai trò của thực tiễn
”.
Phơbách, nhà triết học duy vật lớn nhất trước Mác, tuy có đề cập tới thực
tiễn, song ông không thấy được thực tiễn như là một hoạt đông vật chất cảm
tính, có tính năng động của con người. Do đó, ông coi thường hoạt động thực
tiễn, xem tực tiễn là cái gì đó có tính chất
con buôn, bẩn thỉu
, ông không hiểu
được vai trò của thực tiễn . ng không hiểu dược vai trò, ý nghóacủa thực tiển
đối với việc nhận thức và cải tạo thế giới. Đối với ông chỉ có hoạt động lý luận
mới là quan trọng và mới là hoạt động
đích thực
của con người .
Các nhà duy tâm tuy đã thấy được mặt năng động, sáng tạo trong hoạt
động của con người nhưng lại phát triển lên một cách trừu tượng, thái quá. Vì
vậy, chủ nghóa duy tâm cũng chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần chứ
không hiểu nó như là một hoạt động hiện thực, hoạt độngvật chất cảm tính của
con người . Khi đề cập đến “
ý niệm thực tiễn

lòch sử xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội .
Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người, mà chỉ
là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý
luận), hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động
cảm tính
của con người.
Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụ
vật chất , sức mạmh vật chất của mình tác động vào tự nhiên, xã hội để cải tạo,
biến đổi chúng phù hợp vớ nhu cầu của mình. Bằng hoạt động thực tiễn, con
người làm biến đổi bản thân sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi
hình ảnh của sự vật trong nhân thức. Do đó, hoạt động thực tiễn la hoạt động có
tính năng động, sánh tạo, là hoạt động đối tượng hóa, là quá trình chuyển hóa
cái tinh thần thành cái vật chất. Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa
chủ thể và khách thể, trong đó chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể; trên
cơ sở đó nhận thức khách thể. Vì vậy, thực tiễn trở thành khâu trung gian nối
liền ý thức con người với thế giới bên ngoài .
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động
đặc trưng cho con người. Nếu động vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thích
nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn
– như là một hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà cải tạo thế giới để
thoả mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách có chủ động, tích cực với thế
giới và để làm chủ thế giới. Con người không thể thỏa mãn với những gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn. Con người phải tiến hành lao động
sản xuất để làm ra của cài vật chất để nuôi sống mình . Để lao động và lao
động có hiệu quả, con người phải biết chế tạo ra công cụ và sử dụng công cụ
lao động. Bằng hoạt động thực tiễn , trức hết là lao động sản xuất, con người
tạo nên những vật phẩm vốn không có sẵn trong thiên nhiên. Không có hoạt
động đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được. Vì

thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật. - Hình thức cơ bản thứ hai của thực tiễn là hoạt động chính trò – Xã hội
nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã
hội.
- Với sự ra đời và phát triển của khoa học, hình thức cơ bản thứ ba của
thực tiễn cũng xuất hiện – đó là hoạt động thực nghiệm khoa học .
Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng trở nên quan trọng do sự phát
triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại.
Trên cơ sở những hình thức cơ bản, những hình thức khác, không cơ bản
của thực tiễn được hình thành, chúng là các
hình thức thực tiễn phát sinh
ngay
trong các hình thức cơ bản. Đó là mặt thực tiễn của các hoạt động trong một số
lónh vực như đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo, Sở dó gọi là không cơ
bản không phải là những hình thức này kém quan trọng mà chỉ vì chúng được
hình thành và phát triển từ các hình thức cơ bản.

Lý luận là gì ?
Theo Mác, lý luận là“
sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là
sự tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy lại trong quá trình lòch
sử

Quan điểm duy vật biện chứng cho rằng, nhận thức là quá trình con người
phản ánh một cách biện chứng thế giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lòch sứ –
xã hội. Quá trình nhận thức diễn ra không đơn giản, thụ động, máy móc, nhận
thức không có sẵn, bất di bất dòch, mà là quá trình phản ánh hiện thực khách
quan vào bộ óc con người một cách năng động sáng tạo , biện chứng. Đó là quá

những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp” .
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn:
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những vấn đề cơ bản của
chủ nghóa Mác-Lê nin nói chung và của lý luận nhận thức mácxít nói riêng
.
Con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà bằng thực
tiễn. Chính từ trong quá trình hoạt động thực tiễn, cải tạo thế giới, trí tuệ con
người được phát triển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý luận, khoa học. Lý
luận, khoa học ra đời chính vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con
người. Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận. Nhận thức, lý luận sau khi
ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến
thành hành động thực tiễn của quần chúng. Giữa lý luận và thực tiễn có quan hệ
biện chứng với nhau, tác động qua lại nhau, tạo điều kiện cho nhau cùng phát
triển.
Trong mối quan hệvới lý luận, thực tiễn đóng vai trò quyết đònh vì thực
tiễn hoạt động vật chất, còn lý luận là sản phẩm của hoạt động tinh thần. Với
vai trò quyết đònh, thực tiễn là cơ sở, động lực và mục đích của nhận thức (lý luận). Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức chân lý (của lý luận). Thông qua
hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ
những thuộc tính, những quy luật và tính quy luật để con người nhận thức chúng.
Trong hoạt động thực tiễn, con người tiến hành biến đổi thế giới và đồng thời
cũng biến đổi bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của
mình. Nhận thức không phải chỉ để nhận thức mà có mục đích cuối cùng là giúp
con người biến đổi thế giới. Tri thức thu nhận được trong quá trình nhận thức
phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn chỉ đạo và được tổ chức thực hiện
trong thực tiễn. Như vậy, thông qua hoạt động thực tiễn, lý luận mới được kiểm
nghiệm, được vật chất hoá, hiện thực hoá, mới có sức mạnh cải tạo hiện thực.
Thực tiễn có vai trò quyết đònh đối với lý luận. Song, lý luận cũng có sự

Nguyên tắc dạy học kết hợp với đời sống và xã hội,là dựa trên những
luận điểm quan trọng có tính chất quy luật của học thuyết Mác – Lênin về sự
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, về những điều kiện và nhu cầu xã hội quy
đònh quá trình dạy học,về tính Đảng, tính giai cấp và nội dung học tập trong nhà
trường, về sự cần thiết phải kết hợp dạy và học với các nhiệm vụ của công
cuộc xây dựng xã hội chủ nghóa.
Việc thực hiện nguyên tắc dạy học này có một ý nghóa thế giới quan vô
cùng to lớn, vì nó tạo điều kiện nắm vững tư tưởng duy vật biện chứng về mối
quan hệ giữa khoa học với thực tiễn. Trong bất cứ môn học nào cũng phải giúp
cho học sinh thấy được nhu cầu của sản xuất và đời sống xã hội quyết đònh sự
phát triển những học thuyết khoa học và ngược lại các học thuyết khoa học này
cũng mở ra những triển vọng mới để hoàn thiện thực tiễn sản xuất xã hội .
Việc thực hiện nguyên tắc dạy học này còn đòi hỏi mỗi giáo viên phải
lựa chọn những ví dụ có sức thuyết phục cao, minh họa việc áp dụng một khái
niệm, một quy luật khoa học vào trong các lãnh vực công nghiệp, nông nghiệp
hay trong đời sống xã hội. Đặc biệt quan trọng là phải đưa ra các ví dụ mang
tính chất điển hình, có nghóa là phải chọn trong vô số các ví dụ, ví dụ nào là phổ
biến nhất, có ý nghóa khái quát nhất, tổng hợp nhất , có triển vọng nhất . Việc
theo dõi các thông tin mang nội dung chính trò xã hội hay các thông tin khoa
học sẽ giúp giáo viên làm tốt các yêu cầu trên. Giáo viên cũng có thể yêu cầu
học sinh lấy ví dụ của bản thân hay bổ sung cho minh họa của thày bằng những
quan sát của các em.
Trong thực tế dạy học cho chúng ta thấy sự biến đổi của thưc tiễn dạy học
thể hiện ở hai mặt : Lượng tri thức của nhân loại và khả năng nhận thức của học
sinh . Lượng tri thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng trong những năm cuối
của thập kỷ 20 cả về số lượng và chất lượng . Nếu như ngày trước, người lao động chỉ cần biết cộng trừ, nhân, chia và thậm trí có thể không biết làm tính thì
vẫn có thể làm việc trong một vài hoạt động sản xuất, thì tương lai sẽ không
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.
Giáo trình triết học Mác-Lênin
, Nhà xuất bản chính trò quốc gia, Hà Nội -
2002
2.
Triết học 1,2,3
Nhà xuất bản chính trò quốc gia
,
Hà Nội - 2001
3. Tài liệu tham khảo dùng cho cán bộ giảng dạy lý luận Mác – Lênin


Lênin trong công tác giảng dạy 8

Tài liệu tham khảo 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status