Tiếp thu và vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn của CN Mác - Lênin vào điều kiện của CM Việt Nam theo tư tưởng HCM - Pdf 26

Tiếp thu và vận dụng sáng tạo nguyên tắc thống nhất giữa lí luận và thực tiễn của CN Mác -
Lênin vào điều kiện của CM Việt Nam theo tư tưởng HCM
Để giải quyết tốt mọi nhiệm vụ của cách mạng đặt ra, Đảng ta phải nắm vững nguyên tắc của
chủ nghĩa Mác - Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh thấy rõ cán bộ,
đảng viên của Đảng phải được học tập lý luận, hiểu lý luận và biết vận dụng lý luận để giải quyết
công việc cách mạng. Người đã đặt ra câu hỏi với cán bộ, đảng viên là vì sao phải học tập lý
luận?
Để giải quyết tốt mọi nhiệm vụ của cách mạng đặt ra, Đảng ta phải nắm vững nguyên tắc của
chủ nghĩa Mác - Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh thấy rõ cán bộ,
đảng viên của Đảng phải được học tập lý luận, hiểu lý luận và biết vận dụng lý luận để giải quyết
công việc cách mạng. Người đã đặt ra câu hỏi với cán bộ, đảng viên là vì sao phải học tập lý
luận? Hồ Chí Minh cho rằng, một Đảng mạnh là một Đảng phải có lý luận tiền phong hướng
dẫn. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam cho hành động của mình, nên đã lãnh đạo
cách mạng thu được những thắng lợi to lớn và căn bản. Nhưng mặt khác, vì trình độ lý luận thấp
kém, cho nên đứng trước nhiệm vụ cách mạng ngày càng mới và phức tạp, trong việc lãnh đạo,
Đảng ta không khỏi lúng túng, không tránh khỏi sai lầm, khuyết điểm: “Đảng ta còn có nhiều
nhược điểm mà một trong những nhược điểm lớn là trình độ lý luận còn thấp kém” [1] . Vì vậy,
công tác tổ chức học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận cho cán bộ, đảng viên là công việc cần
thiết và thường xuyên của Đảng.
Đảng ta tổ chức học tập lý luận cho cán bộ, đảng viên là để “nâng cao trình độ lý luận của Đảng
ta đặng giải quyết sự đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng và tình hình thực tế của Đảng ta, để Đảng
ta có thể làm tốt hơn nhiệm vụ cách mạng vĩ đại của mình” [2] . Muốn thế phải nâng cao trình độ
lý luận chung của Đảng, phải tổ chức học tập lý luận trong Đảng, trước hết là trong những cán bộ
cốt cán của Đảng.
Cán bộ, đảng viên cần học tập, tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin như thế nào?
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh: “Lý luận phải liên hệ với thực tế” [3] . Lý luận rất cần thiết nhưng
học tập, tiếp thu lý luận mà không liên hệ và vận dụng vào thực tiễn thì không có kết quả. Cán
bộ, đảng viên học tập nâng cao trình độ lý luận là cốt để áp dụng vào thực tế. Khi học tập lý luận
thì nhằm mục đích: “Học để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận” [4] .
Người làm cách mạng phải nắm vững lý luận cách mạng để hiểu rõ mọi hoàn cảnh khó khăn,
phức tạp, xác định rõ mâu thuẫn nảy sinh và phát triển để giải quyết đúng đắn các vấn đề cách

chung, đem áp dụng một cách rập khuôn máy móc, đó cũng là giáo điều.
Hồ Chí Minh kiên quyết phê phán những cán bộ, đảng viên có tư tưởng lệch lạc trong việc học
tập và tiếp thu lý luận Mác - Lênin. Người phê phán những cán bộ, đảng viên học tập lý luận
theo kiểu học thuộc lòng sách vở, thuộc được nhiều câu, đọc được nhiều sách lý luận rồi tự cho
mình là giỏi lý luận, kiêu căng, tự mãn. Những người như vậy là giáo điều chủ nghĩa, xa rời thực
tế khách quan. Họ không phải giỏi lý luận mà thực chất là yếu kém về lý luận, lý luận suông. Do
đó, họ thường có biểu hiện lời nói không đi đôi với việc làm.
Trong bài Đạo đức cách mạng, Người đã chỉ rõ: “Có đồng chí học thuộc lòng một số sách vở về
chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ tự cho mình là hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin hơn ai hết. Song khi
gặp việc thực tế, thì họ hoặc là máy móc, hoặc là lúng túng. Lời nói và việc làm của họ không
nhất trí. Họ học sách vở Mác - Lênin, nhưng không học tinh thần Mác - Lênin. Học để trang
sức, chứ không phải để vận dụng vào công việc cách mạng”1.
Hồ Chí Minh đã chỉ rõ những khuyết điểm của cán bộ ta. Người nói: “Từ trước tới nay, Đảng ta
đã cố gắng liên hệ chặt chẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với thực tế cách mạng Việt Nam. Cán bộ và
đảng viên ta nói chung đều có phẩm chất cách mạng tốt đẹp. Nhưng chúng ta còn nhiều khuyết
điểm như: bệnh chủ quan, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa kinh nghiệm…”2. Hồ Chí Minh
mong muốn đào tạo đội ngũ cán bộ và đảng viên của Đảng từ thế hệ này sang thế hệ khác luôn
nắm vững những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin, nắm vững nguyên tắc của chủ
nghĩa Mác - Lênin về sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, để vận dụng vào thực tiễn cách
mạng Việt Nam một cách sáng tạo.
Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam, là một nhà văn hoá lớn mà
còn là người có tư tưởng triết học biện chứng sâu sắc. Người đã vận dụng sáng tạo và phát triển
lý luận Mác - Lênin trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh vận dụng mối quan hệ
biện chứng giữa lý luận cách mạng và thực tiễn vào phong trào cách mạng một cách đúng đắn.
Người đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi to lớn, đưa nước ta đi lên
con đường chủ nghĩa xã hội phù hợp với xu thế thời đại./.

GV. Trần Minh Nghĩa
tế. Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr. 234 -
235). "Làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối vừa chậm chạp vừa hay
vấp váp" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 47). Làm mò mẫm chính là biểu hiện của bệnh kinh
nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh nghiệm mà còn dẫn tới bệnh
giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận nên không hiểu thực chất lý luận, chỉ thuộc câu
chữ lý luận và do đó cũng không thể hiểu được bản chất những vấn đề thực tiên mới nảy sinh.
Do đó, không vận dụng được lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Nếu có
vận dụng thì cũng không sát thực tế không phù hợp với thực tiễn.
Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng luôn nhắc nhở rằng, có lý luận rồi thì phải kết hợp chặt chẽ với
kinh nghiệm thực tế, liên hệ với thực tiễn nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông, tức bệnh
giáo điều. Người khẳng định, "Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như
cái đích để hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên" (Hồ Chí
Minh, 1995, tập 5, tr. 235). Như vậy cũng có nghĩa là lý luận suông, lý luận sách vở thuần túy.
"Lý luận cốt để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế
là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực
hành, thì khác nào một cái hòm đựng sách" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5 tr. 234). Do đó, khi vận
dụng lý luận vào thực tiễn phải xuất phát từ thực tiễn, nếu không cũng mắc phải bệnh giáo điều.
Như vậy, lý luận chỉ có ý nghĩa đính thực khi được vận dụng vào thực tiễn phục vụ thực tiễn,
đóng vai trò soi đường, dẫn đắt, chỉ đạo thực tiễn. Đồng thời, khi vận dụng lý luận vào thực tiễn
thì phải phù hợp điều kiện thực tiễn. Rõ ràng, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Hồ Chí
Minh phải được hiểu là, thực tiễn - lý luận, lý luận - thực tiễn luôn hòa quyện, thống nhất với
nhau, đòi hỏi nhau, cần đến nhau, tạo tiền đề cho nhau phát triển.
Hồ Chí Minh không để lại những tác phẩm chuyên khảo về sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn, nhưng ở nhiều bài viết, bài nói Người luôn luôn đề cập tới nguyên tắc cơ bản này bằng
nhiều cách nói, cách viết, cách diễn đạt khác nhau nhằm giúp cán bộ, đảng và quần chúng nhân
dân dễ nhớ, dễ hiểu, dễ vận dụng. Cả cuộc đời của Người là tấm gương sáng về việc quán triệt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Một trong những biểu hiện sinh động ấy là,
trong hoạt động cách mạng Người luôn luôn sâu sát thực tế, gắn bó với cơ sở, gần gũi với nhân
dân. Trong khoảng 10 năm từ 1955 - 1965, Hồ Chí Minh đã thực hiện trên 700 lượt đi thăm, tiếp
xúc với cán bộ, bộ đội, công nhân, giáo viên, bác sĩ, nông dân, các cụ phụ lão, các cháu thanh,

Mác - Lênin. Tư tưởng này của Hồ Chí Minh cho tới nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực
tiễn đối với chúng ta. Người cũng lưu ý rằng, không nên coi chủ nghĩa Mác - Lênin là kinh
thánh, là những công thức có sẵn, cứng nhắc (Hồ Chí Minh, 1995, tập 6, tr. 247). Có như vậy thì
việc nghiên cứu, học tập vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin mới có hiệu quả. Cùng với việc chống
giáo điều trong học tập chủ nghĩa Mác - Lênin thì còn phải chống giáo điều trong vận dụng lý
luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, ngành khác. Người căn dặn cán bộ, đảng viên:
"Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước
anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr.
449). Để chống cả hai loại giáo điều này, theo Hồ Chí Minh thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý
luận với thực tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với thực
tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ thực tiễn nước nhà.
Người cũng nhấn mạnh rằng, cùng với việc chống bệnh giáo điều thì phải đề phòng, ngăn ngừa
chủ nghĩa xét lại. Bởi lẽ, nếu không có quan điểm đúng đắn trong việc quán triệt nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn thì người ta dễ nhấn mạnh thái quá những đặc điểm dân tộc
để phủ nhận những giá trị phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin. "Nhưng nếu quá nhấn mạnh đặc
điểm dân tộc để phủ nhận giá trị phổ biến của những kinh nghiệm lớn, cơ bản của các nước anh
em, thì sẽ mắc sai lầm nghiêm trọng của chủ nghĩa xét lại, (Hồ Chí Minh, 1995, tập 8, tr. 449).
Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết dùng lý luận đã học được để tổng kết
kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác. "… công việc gì bất kỳ thành công hoặc
thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái
chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới" (Hồ Chí Minh, 1995, tập 5, tr.
243). Người còn nhấn mạnh " cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới,
lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm" (Hồ Chí
Minh, 1995, tập 5, tr. 417). Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh
nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý
luận cần được "bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động" (Hồ Chí
Minh, 1995, tập 8, tr. 496). Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý
luận mới. Cứ như vậy, lý luận luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới
được rút ra từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường dẫn dắt bởi lý luận
đã được bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc

Đến với chủ nghĩa Mác- Lênin- học thuyết cách mạng đúng đắn nhất, khoa học nhất và tìm
được lý luận tiên tiến soi đường, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Quảng Châu- Trung Quốc,
chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng kiểu mới ở Việt Nam.
Cũng trong những năm tháng đó, một trong những nội dung Người giảng cho những người yêu
nước Việt Nam là phải nắm vững và không ngừng nâng cao trình độ lý luận, đặc biệt là gắn liền
lý luận với thực tiễn. Vì vậy, lời của Lênin: “Không có lý luận cách mệnh thì không có cách
mệnh vận động” đã được in trang trọng ngay phần mở đầu của tác phẩm Đường Kách mệnh
(1927)- tác phẩm kinh điển gối đầu của những người cách mạng Việt Nam.

Sau đó, chủ nghĩa Mác-Lênin vào được Việt Nam, tỏ rõ sức sống mãnh liệt, được bổ sung và
phát triển trong điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng chính là nhờ Chủ tịch Hồ Chí Minh- Người
luôn đứng vững trên nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Cùng với việc chống giáo
điều trong học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, những người cộng sản Việt Nam còn phải chống
giáo điều trong vận dụng lý luận cũng như kinh nghiệm của nước khác, như Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nói: "Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm
của các nước anh em là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều [1]. Tránh cả hai
loại giáo điều này, thì biện pháp cơ bản là phải gắn lý luận với thực tiễn cách mạng nước nhà.
Trên tinh thần đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm kim chỉ nam,
trở thành đội tiền phong của giai cấp công nhân và của cả dân tộc. Trong suốt những năm lãnh
đạo nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng giải phóng đất nước “Đảng ta không những đã giành
được quyền lãnh đạo cách mạng trong cả nước mà còn giữ vững được quyền lãnh đạo đó trên
mọi lĩnh vực” [2].

Tuy nhiên, trong quá trình Đảng ta cầm quyền, lãnh đạo toàn dân vừa bảo vệ thành quả của
cuộc cách mạng tháng Tám 1945 và xây dựng chế độ xã hội mới, thì đã xuất hiện những bất
cập. Bên cạnh những thành tích rất đáng tự hào, cũng đã có không ít những bài học đau lòng
xảy ra trong thực tế. Đó là khi người cán bộ, đảng viên phần lớn xuất thân từ nông dân và công
nhân, chưa có điều kiện, thậm chí không có điều kiện học tập, nghiên cứu đến nơi đến chốn,
nên trình độ còn nhiều hạn chế. Họ tuy nhiệt thành cách mạng, gương mẫu đi đầu, trưởng thành
trong phong trào, song sự yếu kém về trình độ, và thói quen “ít đọc sách và suy nghĩ” đã dẫn họ

TƯ Đảng về xuất bản loại sách người tốt việc tốt, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn căn dặn: Hiểu chủ
nghĩa MácLênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống
không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác Lênin được. Đó chính là: "Học tập lý
luận thì nhằm mục đích để vận dụng chứ không phải học lý luận vì lý luận, hoặc để tạo cho
mình một cái vốn lý luận để sau này đưa ra mặc cả với Đảng" [6].

2. Mỗi cán bộ đảng viên phải gắn lý luận với thực tiễn

Tuy lý luận là rất cần thiết, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ có lý luận rồi thì phải kết hợp lý
luận với kinh nghiệm thực tế, nếu không lại mắc phải bệnh lý luận suông - bệnh giáo điều.
Người khẳng định, "Lý luận cũng như cái tên (hoặc viên đạn). Thực hành cũng như cái đích để
hắn. Có tên mà không bắn, hoặc bắn lung tung, cũng như không có tên" [7], nên người cán bộ,
đảng viên không thể chỉ lý luận theo sách vở thuần túy. Bởi lẽ, "lý luận cốt để áp dụng vào công
việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào công việc thực tế là lý luận suông. Dù xem được
hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành, thì khác nào một cái hòm
đựng sách", vì vậy, khi vận dụng lý luận phải luôn xuất phát từ thực tiễn, nếu không cũng sẽ
duy ý chí, chủ quan, giáo điều.

Để cán bộ, đảng viên luôn thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, khắc phục bệnh kinh nghiệm,
thì trước hết họ cần phải khắc phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận, vì rằng, kém lý luận,
khinh lý luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Vì theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có
lý luận thì chỉ dựa vào kinh nghiệm, dẫn tới tuyệt đối hóa kinh nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu
tố quyết định thành công trong hoạt động thực tiễn. Và khi bệnh kinh nghiệm trầm trọng, kéo
dài, tổn hại gây ra sẽ không nhỏ. Thực tế cho thấy, có không ít cán bộ, đảng viên "chỉ bo bo giữ
lấy kinh nghiệm lẻ tẻ. Họ không hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng.
Vì vậy, họ cứ cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng"[8]. Quên
rằng, "kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về
một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ"
[9], họ thực không hiểu, thậm chí cố tình không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn.


3. Gắn lý luận với thực tiễn trong công tác giáo dục và rèn luyện cán bộ đảng viên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh

Di sản lý luận Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại (bao gồm những bài nói, bài viết, bài phát biểu) về
sự cần thiết phải học tập lý luận, phải gắn lý luận với thực tiễn cho cho đội ngũ cán bộ, đảng
viên chính là những chỉ dẫn, những biện pháp cơ bản nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh
nghiệm và bệnh giáo điều. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát hiện ra bệnh giáo điều, bệnh kinh
nghiệm, hậu quả của việc không nhận thức đúng đắn vai trò của lý luận, không gắn lý luận với
thực tiễn đang ngự trị trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Những biểu hiện: “thuộc làu làu”, “tầm
chương trích cú”, hoặc biết “dăm ba chữ”,v.v của cán bộ, đảng viên chỉ làm mất đi sự hấp dẫn
và sức sống của học thuyết Mác-Lênin – một học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại
vốn có giá trị nhận thức và cải tạo cao.

Nếu chỉ hiểu những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh nói thôi thì chưa đủ, mỗi cán bộ, đảng viên của
Đảng còn phải học tập tinh thần, quan điểm, thái độ quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn của Người, phải không ngừng học hỏi và sâu sát thực tiễn. Phải khắc phục bệnh giáo
điều, bệnh kinh nghiệm và đổi mới tư duy bằng cách ý thức sâu sắc hơn trách nhiệm chính trị
và nghĩa vụ của bản thân bằng cách học và học tập không ngừng để “trở thành một người cộng
sản có học thức”.

Chúng ta đều biết “chân lý là cụ thể, cách mạng là sáng tạo”. Điều này đúng trong mọi hoàn
cảnh, và càng có ý nghĩa sâu sắc hơn trong bối cảnh đất nước ta đang thực hiện đổi mới và hội
nhập. Khắc nghiệt của thực tiễn đang hàng ngày, hàng giờ nảy sinh những tình huống, những
vấn đề và những câu hỏi không thể tìm được đáp án từ sách vở, từ lý luận đã có. Hơn nữa thực
tiễn sinh động biến đổi và phát triển không ngừng luôn yêu cầu chúng ta phải hành động chứ
không thể ngồi chờ có lý luận rồi mới hành động. Vì vậy, để cán bộ đảng viên xứng đáng là
người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của nhân dân như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng mong
muốn, chúng ta phải học ở Người phương pháp dùng lý luận tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để
rồi bổ sung cho lý luận những kết luận mới, phù hợp với thực tiễn. Đó chính là phương pháp
luận Hồ Chí Minh: “Công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần nghiên cứu cội

chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, hơn bao
giờ hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng không những cần phải thấm nhuần chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, mà còn phải dám nghĩ, dám làm, để lãnh đạo quần chúng, biến
đường lối của Đảng thành kết quả và thành công trong cuộc sống.

Những điều Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn, không chỉ là bài học tư tưởng quý giá, mà
còn có ý nghĩa đặc biệt thiết thực đối với mỗi người cán bộ, đảng viên chúng ta hôm nay, nhất
là trong bối cảnh toàn Đảng đang ra sức thực hiện Cuộc vận động học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh ./.

Nguồn: Theo TCBTGTW- ĐT


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status