Chuyên đề 3: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin
I. Quan điểm mácxít về thực tiễn và mối quan hệ biện chứng giữa thực tiễn và lý
luận
1. Thực tiễn
Thực tiễn là hoạt động vật chất “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử xã hội, nhằm
cải tạo tự nhiện và xã hội.
a. Thực tiễn là một hoạt động vật chất
- Trong hoạt động vật chất, con người sử dụng các phương tiện, công cụ, sức
mạnh vật chất của mình để tác động vào tự nhiên, xã hội nhằm cải tại, biến
đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình. Đây là một quá trình tương tác
giữa chủ thể và khách thể. Trong đó, chủ thể hướng vào việc cải tạo khách
thể. Cho nên thực tiễn trở thành khâu trung gian nối liền ý thức con người
với thế giới bên ngoài.
b. Hoạt động thực tiễn có mục đích
- Hoạt động thực tiễn là bản chất của con người.
- Động vật chỉ hoạt động theo bản năng để phù hợp với thế giới bên ngoài
một cách thụ động. Con người chủ động thích nghi với thế giới bên ngoài
bằng cách cải tạo thể giới thoả mãn theo nhu cầu của mình.
- Khi hoạt động thực tiễn, để đạt hiệu quả cao, con người tạo ra những vật
phẩm không có sẵn trong tự nhiên, đó chính là những công cụ, và sử dụng
chúng.
c. Thực tiễn có tính chất lịch sử xã hội
- Trình độ và hình thức hoạt động thực tiễn thay đổi qua các giai đoạn khác
nhau của xã hội.
- Hoạt động thực tiễn không thể được tiến hành không chỉ một vài cá nhân
mà là tòan xã hội
d. Các dạng cơ bản và không cơ bản của thực tiễn
Dạng cơ bản:
- Hoạt động sản xuất vật chất – là một dạng họat động nguyên thủy và cơ
bản và nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
- Hoạt động chính trị xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các
- Tri thức kinh nghiệm : được thu thập từ quan sát và thí nghiệm. Bao gồm:
+ tri thức kinh nghiệm thông thường thu được từ quan sát hằng ngày trong
cuộc sống và lao động sản xuất.
+ tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những thí nghiệm khoa
học.
Tích cực: vài trò không thể thiếu trong cuôc sống, là cơ sở để kiểm tra, sửa
đổi, bổ sung lý luận đã có, tổng kết khái quát thành lý luận mới.
Hạn chế: sự hiểu biết về các mặt riêng rẽ, rời rạc, chưa sâu sắc.
Không nên coi thường kinh nghiệm, song cũng không nên cường điệu;
không nên dừng lại ở kinh nghiệm mà cần nâng cao lên trình độ lý luận.
- Trình độ Lý luận: là tri thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm. Lý luận
không tự phát mà có được trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm và từ những lý
luận co sở.
+ tri thức lý luận mang tính trừu tượng và khái quát. Nhận thức sâu sắc về
bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng.
Tích cực: Lý luận tác động lại thực tiễn và thành định hướng cho các hành
động thực tiễn.
Hạn chế: do gián tiếp và trừu tương nên có khả năng xa rời thực tiễn và trở
thành ảo tưởng, giáo điều.
Coi trong lý luận, không cường độ và coi thường thực tiễn, tách lý luận
khỏi thực tiễn.
II. Phê phán bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
1. Bệnh kinh nghiệm và giáo điều ở cán bộ nước ta, nguyên nhân và cách khắc phục
2. Vai trò của lý luận trong thời đại ngày nay
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
triết học Mác - Lênin
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn
đạt được trong 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do
Đảng cộng sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận
của chủ nghĩa Mac-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách
Trong qúa trình hoạt động cải biến thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, thực tiễn rèn luyện các giác quan của
con người làm cho chúng tinh tế hơn, trên cơ sở đó phát triển tốt hơn. Nhờ đó con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới,
khám phá những bí mật của nó, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới. Thực tiễn còn đề ra những nhu cầu,
nhiệm vụ, phương hướng phát triển của nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học.
Thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo công cụ, phương tiện máy móc mới, hỗ trợ con người trong qúa trình nhận thức, khám phá,
chinh phục thế giới. Ăngghen cho rằng, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, của sản xuất sẽ thúc đẩy nhận thức khoa học phát triển
nhanh hơn hàng chục trường đại học.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý. Theo Mac và Ăngghen thì “Vấn
đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận
mà là một vấn đề của thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Tất nhiên, nhận thức xã hội còn
có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn lô gic nhưng tiêu chuẩn lô gic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng
nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn.
Đó là tư tưởng cơ bản của Mac-Ăngghen khi đưa phạm trù thực tiễn vào nội dung của lý luận nhận thức, tư tưởng đó đã được
Lênin bảo vệ và phát triển sâu sắc hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trong đó Lênin
nhắc lại luận cương thứ hai của Mac về Phoi-ơbăc và Người kết luận “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm
thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”. Tư tưởng của Lênin về vai trò của thực tiễn đối với nhận thức vẫn đang là nguyên
tắc phương pháp luận quan trọng hướng dẫn chúng ta trong hoạt động thực tiễn, trong nghiên cứu khoa học. Nếu không bám sát
thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với
đúng nghĩa của nó.
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan. Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù, các
nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản chất của
lý luận là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng nhận thức.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri thức khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội
tích trữ lại trong qúa trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải mọi lý luận đều
trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn
không làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy
luật của các sự vật, hiện tượng khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu
hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
tiễn quy định. Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận thức, lý luận. Thực
tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt
thực tiễn.
Trên cơ sở nhận thức và vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn phải chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo
điều. Chúng ta coi trọng kinh nghiệm thực tiễn và không ngừng tích luỹ vốn kinh nghiệm quý báu đó.Song chỉ dừng lại ở trình
độ kinh nghiệm, thỏa mãn với vốn kinh nghiệm của bản thân, coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa kinh nghiệm đồng thời coi
nhẹ lý luận, ngại học tập, nghiên cứu lý luận, ít am hiểu lý luận, không quan tâm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất lý luận thì sẽ
rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực
tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh vực do vậy đễ rơi vào bệnh kinh nghiệm chủ nghiã.
Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh giáo điều. Nết tuyệt đối hóa lý luận, coi lý luận là bất di
bất dịch, việc nắm lý luận chỉ dừng lại ở những nguyên lý chung chung trừư tượng không chú ý đến những hoàn cảnh lịch sử cụ
thể của sự vận dụng lý luận thì dễ mắc bệnh giáo điều.
Thực chất những sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều đều là vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Để ngăn ngữa, khắc phục có hiệu qủa hai căn bệnh trên phải coi trọng cả lý luận và thực tiễn.
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với việc nghiên cứu, giải quyết các vấn đề của qúa trình phát triển xã
hội, nhất là trong thời đại ngày nay khi thực tế cuộc sống đang đặt ra và đòi
hỏi phải giải quyết rất nhiều những vấn đề lý luận và thực tiễn nảy sinh của
việc xây dựng, phát triển dời sống kinh tế, văn hóa của xã hội. Hơn lúc nào
hết lý luận Mac – Lênin trong sự thống nhất cao với thực tiễn phải thể hiện
vai trò hướng dẫn, chỉ đạo trong công việc, giải quyết những vấn đề cấp
bách và trọng đại do cuộc sống hiện thực đặt ra cho chúng ta trong công
cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay. Những thành qủa
mà chúng ta có được ngày hôm nay là kết qủa của sự năng động, sáng tạo
của Đảng, Nhà nước ta trong qúa trình vận dụng nguyên tắc thông nhất
giữa lý luận và thực tiễn vào hoàn cảnh lịch sử Việt nam trong thời kỳ qúa
độ lên chủ nghĩa xã hội.