Trêng ®¹i häc s ph¹m hµ néi 2
Phßng sau ®¹i häc
TRẦN THỊ HẢI YẾN
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỚI SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2013
Trêng ®¹i häc s ph¹m hµ néi 2
Phßng sau ®¹i häc
TRẦN THỊ HẢI YẾN
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN VỚI SỰ
NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC
Chuyên ngành: Toán giải Tích
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học
TS. Vi Thái Lang
TIỄN.................................................................................................................................15
CHƯƠNG 2. NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN TRONG SỰ NGHIỆP
ĐỔI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY...........................................................18
2.1. SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI ĐẤT NƯỚC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA.................18
2.1.1. Bối cảnh đất nước trước thời kì đổi mới............................................................18
2.1.2. Tình hình quốc tế và nhu cầu đổi mới nhận thức...............................................21
2.2. SỰ NHẬN THỨC VÀ QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM..................................21
2.2.1. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều
kiện cụ thể của Việt Nam.............................................................................................22
2.2.2. Tổng kết thực tiễn gắn với hoàn thiện lý luận về CNXH ở Việt Nam...............23
CHƯƠNG 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG VÀ PHÁT TRIỂN
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.....27
3.1. QUÁN TRIỆT NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN TRONG TOÀN ĐẢNG, TOÀN DÂN...................................................................27
3.2. TẠO RA BƯỚC CHUYỂN BIẾN MỚI VỀ NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG TA........30
3.3. KẾT HỢP LÝ LUẬN VỚI THỰC TIỄN TRONG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.....33
Trong khoản 2, điều 3, Luật giáo dục ghi Hoạt động giáo dục phải được thực hiện theo
nguyên lý : học đi đôi vói hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn với
2
thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Ở nước
ta, nguyên lí giáo dục được khẳng định tại Đại hội lần thứ III của Đảng Cộng sản Việt
Nam (1960). Từ đó đến nay, trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước đã
khẳng định lại nhiều lần. Đồng thời trong các sách giáo khoa về giáo dục và nhiều công
còn quán triệt nguyên tắc này vào trong công cuộc đổi mới đất nước. Nhờ đó,
bước đầu đất nước đã đạt được những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên chúng
ta cũng mắc một số sai lầm: tách rời lý luận và thực tiễn, không ít cơ quan
Nhà nước tồn tại bệnh quan liêu, giáo điều, kinh nghiệm. Hơn nữa, trong tình
hình hiện nay, nhân loại đã và đang chuyển từ văn minh công nghiệp sang văn
minh trí tuệ nhưng Việt Nam vẫn trong tình trạng lạc hậu về kĩ thuật, công
nghệ so với các nước trên thế giới. Nếu chúng ta không tích cực nghiên cứu,
hoàn thiện lý luận thì sự tụt hậu đó ngày càng xa hơn.
Nhận thức được vấn đề trên, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính
sách đổi mới toàn diện đất nước. Đó chính là sự vận dụng nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện mới,
trước hết là vấn đề đổi mới tư duy, sau đó đổi mới cách thức làm việc và quản
lý cho phù hợp thực tiễn Việt Nam; đồng thời tổng kết thực tiễn gắn liền với
hoàn thiện lý luận về CNXH cũng là một yêu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta.
Với tất cả lí do trên, tôi chọn đề tài: “Nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác – Lênin với sự nghiệp đổi mới đất
nước” nhằm mục đích nghiên cứu một cách kĩ lưỡng, có hệ thống về nguyên
tắc này và việc vận dụng nguyên tắc trong thời đại mới, góp phần hoàn thiện
lý luận để xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam.
2. Lịch sử vấn đề
“Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác
- Lênin với sự nghiệp đổi mới đất nước” được nhiều tác giả, nhiều nhà
nghiên cứu triết học đề cập đến, thậm chí có nhiều bài viết sâu và có hệ thống
4
nhưng về cơ bản, việc vận dụng nguyên tắc này vào hoàn cảnh cụ thể của
từng quốc gia vẫn là vấn đề cần được nghiên cứu.
6. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận là quan điểm biện chứng, quan điểm duy vật lịch sử
của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp logic
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp tổng hợp, quy nap, diễn dịch...
7. Ý nghĩa bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu có ý nghĩa thiết thực đối với tôi trong việc làm quen với
công tác nghiên cứu khoa học, rèn luyện phương pháp tiếp cận những vấn đề
triết học, nhận thức về khoa học chuyên ngành. Đồng thời, bài nghiên cứu
cũng làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn và mối quan hệ biện
chứng giữa chúng. Từ đó đóng góp một phần nhỏ cơ sở khoa học cho việc
vạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về vấn đề gắn lý luận
với thực tiễn.
6
7
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1. NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1. Lý luận
Khái niệm
Lý luận, tiếng Hy Lạp là theo Ria, có nghĩa là sự quan sát, nghiên cứu,
thảo luận.
tượng, là quá trình đi sâu vào bản chất của sự vật, hiện tượng. Nhận thức lý
tính là nhận thức đáng tin cậy vì nó phản ánh thế giới khách quan một cách
sâu sắc, đầy đủ hơn.
Các giai đoạn của quá trình nhận thức có mối quan hệ biện chứng với
nhau. Trên thực tế, chúng thường đan xen với nhau trong quá trình nhận thức,
song chúng cũng có nhiệm vụ, chức năng khác nhau. Nhận thức cảm tính là
cơ sở nền tảng để hình thành và phát triển nhận thức lý tính. Trái lại, không
có nhận thức lý tính thì không nắm bắt được bản chất, quy luật vận động và
phát triển sinh động của sự vật. Vì vậy, cần phát triển nhận thức cảm tính lên
nhận thức lý tính.
Từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn: con đường nhận thức chân lí còn
phải đi từ nhận thức lý tính đến thực tiễn vì nhận thức không chỉ là giải thích
thế giới mà còn khái quát lý luận để phục vụ, cải tạo thế giới. Tức là mọi lý
luận đều phải được kiểm nghiệm trong thực tiễn khách quan. Có thể nói, thực
tiễn là cơ sở, mục đích, động lực của nhận thức và là tiêu chuẩn để kiểm tra
chân lý.
Như vậy, lý luận được hình thành từ thực tiễn thông qua hoạt động cụ thể
của con người. Có nhiều quan niệm khác nhau về lý luận nhưng theo Từ điển
triết học do Cung Kim Tiến biên soạn: lý luận là hệ thống những tri thức đã
9
được khái quát tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên
hệ cơ bản của hiện thực [22, tr.680].
1.1.2. Thực tiễn
Khái niệm
Thực tiễn (Practice) là phạm trù cơ bản trong lý luận nhận thức Mác - xít.
V.I. LêNin cho rằng: Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm
thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức [19, tr.167]. Trong lịch sử triết học,
biệt giữa con người và con vật. Chỉ con người mới có các hoạt động thực tiễn,
còn con vật hành động theo bản năng. Để tồn tại và thỏa mãn những nhu
cầu ngày càng cao của mình, con người thông qua các hoạt động lao động sản
xuất không những khai thác những cái sẵn có trong tự nhiên mà còn tạo ra
những cái không sẵn, những cái nhân tạo. Vì vậy thực tiễn là phương thức tồn
tại cơ bản của con người, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ
con người với thế giới.
Các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử xã hội có các trình độ phát
triển khác nhau của hoạt động thực tiễn. Do đó thực tiễn mang tính lịch sử xã hội.Vì: hoạt động thực tiễn là dạng hoạt động cơ bản của con người. Đó là
hình thức hoạt động đặc thù của loài người, luôn diễn ra trong một bối cảnh
văn hóa nhất định. Là một sản phẩm lịch sử, hoạt động thực tiễn luôn vận
động và phát triển không ngừng theo các giai đoạn lịch sử. Trình độ phát triển
của thực tiễn được đánh giá ở trình độ, khả năng chinh phục, khai thác, tái tạo
giới tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của con người. Hoạt động thực tiễn
không phải là hoạt động của cá nhân người mà là hoạt động của loài người,
trước hết là của đông đảo quần chúng nhân dân - những người trực tiếp tham
gia hoạt động sản xuất ra của cải vật chất.
Thực tiễn là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người. Hoạt động
thực tiễn có mục đích cao nhất là cải tạo hiện thực. Con người nhận thức thế
11
giới hiện thực và tích cực tác động một cách có mục đích để cải tạo nó. Trên
cơ sở đó, thế giới mới bộc lộ những đặc tính, bản chất, nội dung, quy định,...
nhờ đó con người mới có tri thức về thế giới. Có như vậy, con người mới có
thể cải tạo hiện thực theo điều kiện của sự phát triển tự nhiên và xã hội.
Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn
Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, phong phú. Có ba dạng cơ bản: hoạt
động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động thực nghiệm
Con người có quan hệ với thế giới bên ngoài không phải được bắt đầu từ
lý luận, nghệ thuật hay triết học...mà là thực tiễn. Chính trong quá trình hoạt
động thực tiễn mà ý thức nhận thức của con người được hình thành và phát
triển. Bằng sự tác động của mình vào các sự vật, hiện tượng làm cho chúng
bộc lộ những thuộc tính, những mối liên hệ và quan hệ khác nhau giữa chúng,
giúp con người nhận thức và có tri thức về thế giới đó. Như vậy, thực tiễn
cung cấp những tài liệu, tri thức...cho nhận thức lý luận. Mọi tri thức dù là
trực tiếp hay gián tiếp xét đến cùng đều bắt nguồn từ thực tiễn. Đồng thời,
thông qua thực tiễn mà những nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng đặt ra đối
với nhận thức, nó tạo nên động lực thúc đẩy nhận thức không ngừng phát
triển. Tất cả mọi phát minh, sáng chế, mọi lý thuyết khoa học đều do đòi hỏi
của thực tiễn đặt ra.
Thực tiễn là động lực của nhận thức, chính từ thực tiễn đã đề ra những
nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức. Hoạt động thực
tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý
luận...do đó nó thúc đẩy sự ra đời, phát triển của các ngành khoa học. Mác và
Ăngghen có nhận xét: Khi thực tiễn có nhu cầu đòi hỏi thì nó thúc đẩy sự phát
triển của khoa học hơn cả mười trường đại học.
13
Nhờ hoạt động thực tiễn và thông qua hoạt động thực tiễn đã tạo ra các
phương tiện, công cụ ngày càng hiện đại. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để
con người đi sâu tìm hiểu, khám phá thế giới.
Cũng nhờ quá trình hoạt động thực tiễn mà bản thân con người cũng
được biến đổi theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn, các giác quan của con
người ngày càng trở nên nhanh nhaỵ hơn, điều đó giúp con người phản
ánh thế giới khách quan ngày càng đúng đắn hơn, chính xác hơn.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, nhận thức của con người không có
nhưng lý luận cũng có tác động tích cực trở lại thực tiễn. Lý luận là sự phản
ánh khái quát hiện thực khách quan, nó được biểu hiện bằng ngôn ngữ - cái
vở vật chất của tư duy. Lý luận có tính năng động, sáng tạo, có thể phản ánh
sự vật sâu sắc hơn, đầy đủ hơn.
Lý luận là kim chỉ nam cho mọi hoạt động, soi đường, dẫn dắt chỉ đạo
thực tiễn; chỉ rõ phương hướng và tìm ra biện pháp hiệu quả để đạt mục đích
thực tiễn. Lênin khẳng định: Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể
có phong trào cách mạng [ 18, tr.30].
Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con người trở lên chủ động tự
giác, hạn chế tình trạng mò mẫm tự phát. Nếu không có lý luận đúng đắn và
khoa học hướng dẫn, chỉ đạo thì hoạt động của con người sẽ kém hiệu quả. Vì
vậy, Hồ Chí Minh ví không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi [20,
tr.234]. Tuy nhiên, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao trong sự phản ánh
hiện thực nên lý luận có thể xa rời thực tiễn và rơi vào ảo tưởng. Do đó, cần
quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức
khoa học và hoạt động cách mạng.
Bản thân Lênin cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của lý luận: lý luận
cách mạng không phải là giáo điều, nó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động
cách mạng. Lý luận không phải cứng nhắc mà đầy tính sáng tạo, cho nên nó
cần được bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ thực tiễn sinh động.
15
Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Vì vậy, không nên coi kinh nghiệm là tất cả, tuyệt đối hóa
kinh nghiệm mà coi nhẹ lý luận. Bác Hồ dạy rằng: có kinh nghiệm mà không
có lý luận cũng như một mắt sáng, một mắt mờ [20, tr.234].
Trong mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn, xét cho cùng,
thực tiễn vẫn là yếu tố quyết định, còn lý luận có tính độc lập tương đối. Sự
thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức [19, tr.
167], các nhà triết học Mácxít đã giúp chúng ta phân biệt được quan điểm duy
vật biện chứng với các quan điểm triết học khác.
Việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn giúp
chúng ta tránh được một số căn bệnh như: giáo điều, bệnh kinh nghiệm...đã
tồn tại khá lâu ở các nước XHCN thời kì trước. Nguyên nhân của những căn
bệnh trên là do: con người nhận thức sai lầm, vi phạm nguyên tắc thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn. Một khi đã rút ra được bài học, tránh sai lầm trên,
chúng ta sẽ tìm thấy hướng đi đúng đắn cho đất nước. Muốn vậy, không được
đề cao lý luận đến mức xa rời thực tiễn, rơi vào bệnh chủ quan duy ý chí.
Liên Xô là nước CNXH đầu tiên trên thế giới, được đánh giá là một quốc
gia rất mạnh về tư tưởng và lý luận. Để có bước phát triển hưng thịnh như
ngày nay, nếu chỉ phát huy vai trò của lý luận thì chưa đủ, Liên Xô còn đúc
kết lý luận từ thực tiễn, gắn chặt thực tiễn với lý luận. Sau khi cách mạng
tháng Mười thắng lợi, Chính sách cộng sản thời chiến đã trở nên lỗi thời. Đáp
ứng yêu cầu của thực tiễn, các nhà lãnh đạo Liên Xô đã ban hành Chính sách
kinh tế mới (NEP) với nhiều nội dung, trong đó có nội dung quan trọng là bãi
bỏ chế độ trưng thu, trưng mua lương thực thừa -thay vào đó là thuế lương
thực, tạo cơ sở phát huy sức sáng tạo, tích cực chủ động của nhân dân, tạo ra
khối lượng lớn của cải vật chất, đưa nền kinh tế nước Nga tiến lên. Đó là một
17
minh chứng rất nhỏ về việc vận dụng đúng đắn nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn của các nước trên thế giới.
Với một nước quá độ lên CNXH có điểm xuất phát thấp như Việt Nam
thì việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn càng trở lên
quan trọng, là tất yếu khách quan. Khi vận dụng lý luận xây dựng CNXH, các
nước phải căn cứ vào điều kiện cụ thể của dân tộc. Không được áp dụng máy
thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế có nhiều thiếu sót. Trong báo cáo
chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội V do đồng chí Lê
Duẩn trình bày, đã chỉ ra: chúng ta chưa lường được hết khó khăn, phức tạp
của con đường đi lên CNXH từ một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn phổ
biến. Với nền công nghiệp lạc hậu, trong những năm 76 - 80, Đảng chủ
trương đẩy mạnh công nghiệp hóa là chưa phù hợp vì chưa đủ điều kiện cần
thiết. Mặt khác, đất nước ta vẫn duy trì cơ chế quản lý kinh tế kế hoạch hóa
tập trung, quan liêu, bao cấp, xa rời thực tế.
19
Về bố trí cơ cấu kinh tế
Thực tiễn đất nước sau 1975 gặp nhiều khó khăn về chính trị, kinh tế, xã
hội. Đảng ta muốn đi nhanh để xây dựng cơ cấu kinh tế mà chưa tính hết
những khó khăn đó. Tại Đại hội V, Đảng đề ra chính sách: Kết hợp đúng đắn
công nghiệp và nông nghiệp, tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, đưa
nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn XHCN, trong một cơ cấu kết hợp chặt
chẽ và đúng đắn nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp
nặng. [6, tr.55- 56]. Trong quá trình thực hiện, chúng ta lại không kết hợp
chặt chẽ ngay từ đầu nông nghiệp và công nghiệp thành một cơ cấu hợp lí.
Đồng thời chưa sử dụng hiệu quả khả năng mở rộng kinh tế với nước ngoài.
Nhận thấy sự không phù hợp về cơ cấu kinh tế đề ra ở Đại hội V, Đại hội
VI của Đảng nhận định phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo cơ cấu hợp
lý, yêu cầu cấp bách đặt ra là phải đưa nông nghiệp lên vị trí hàng đầu [9,
tr.480].
Về thực tiễn cải tạo XHCN, củng cố quan hệ sản xuất mới, sử dụng các
thành phần kinh tế
Về nội dung cải tạo: Đại hội V quyết tâm đẩy mạnh cải tạo XHCN hoàn
thành về cơ bản việc hợp tác hóa nông nghiệp ở các tỉnh Nam Bộ với hình
hàng hóa có trong tay.
Trong lĩnh vực tư tưởng và công tác tổ chức cán bộ
Về tư tưởng: bộc lộ sự lạc hậu về lý luận và sự vận dụng các quy luật
kinh tế khách quan trong thời kì quá độ. Mặc dù chúng ta đang ở chặng đầu
tiên nhưng Đảng đề ra mục tiêu qua cao về CNXH. Đó là tư tưởng duy ý chí,
giản đơn hóa thực tiễn làm cho lý luận xa rời thực tiễn.
Từ sự lạc hậu về tư tưởng dẫn đến sự trì trệ, chậm đổi mới về công tác
cán bộ. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ vào cơ quan lãnh đạo và quản lý các cấp
còn theo quan niệm cũ, mang nặng tính hình thức. Công tác giáo dục và quản
21
lý cán bộ, nhân viên thiếu chặt chẽ. Phong cách lãnh đạo và lề lối làm việc
mang nặng chủ nghĩa quan liêu.
2.1.2. Tình hình quốc tế và nhu cầu đổi mới nhận thức
Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, xu thế loài người tiến lên với nhiều
thành tựu quan trọng. Với việc hình thành nền kinh tế thị trường làm cho sản
xuất và trao đổi hàng hóa phát triển. Thị trường được mở rộng ra phạm vi
toàn thế giới. Cùng với đó là xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế.
Với việc tham gia các tổ chức ASEAN, APEC...đặc biệt là việc gia nhập
WTO mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức cho đất nước ta.
Thêm vào đó là sự bùng nổ mạnh mẽ của khoa học, công nghệ ở tất cả các
lĩnh vực. Trong sự phát triển đó, tri thức - trí tuệ trở thành động lực phát triển
chủ yếu của xã hội. Muốn hội nhập thì Việt Nam phải xây dựng cho mình
những tiền đề cần thiết như kinh tế, chính trị, văn hóa...và vai trò không thể
thiếu của lý luận trong quá trình phát triển theo hướng tiếp cận nền kinh tế tri
thức.
Đồng thời, tình hình quốc tế hiện nay cũng có nhiều diễn biến phức tạp,
sự chống phá của các thế lực thù địch với CNXH bằng âm mưu diễn biến hòa
Vận dụng các quy luật kinh tế của thời kì quá độ, Đảng ta chủ trương
thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của nhà
nước. Đại hội X của Đảng khẳng định: trên cơ sở ba chế độ sở hữu (toàn dân,
tập thể, tư nhân) hình thành năm thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà
nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, kinh tế Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, nó cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững
chắc của nền kinh tế quốc dân.