nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn với con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở việt nam hiện nay - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN HOÀNG LAN ANH

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN VỚI CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ
NGHĨA XÃ HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

NGUYỄN HOÀNG LAN ANH

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN VỚI CON ĐƯỜNG QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ
HỘI BỎ QUA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
Chuyên ngành: Toán giải tích
Mã số: 60 46 01 02

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học
TS. Vi Thái Lang




1

MỤC LỤC
MỤC LỤC………………………………………………………………………….1
LỜI

MỞ

ĐẦU............................................................................................................3
NỘI DUNG................................................................................................................7
Chương 1: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa

Mác – Lênin………………………………………………………………….7
1.1 Một số khái niệm cơ bản………………………………………….7
1.1.1 Lý luận…………………………………………………….7
1.1.2 Thực tiễn…………………………………………………..8
1.2. Sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn………….10
1.2.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận…………………….10
1.2.2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn…………………….11
1.2.3. Ý nghĩa của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn của chủ nghĩa Mác- Lênin ……………………………………………...13
Chương 2: Lựa chọn con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN

nước ta hiện nay phù hợp với nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn của chủ nghĩa Mác- Lênin …….……………………...........................15
2.1 Quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam là một tất
yếu…………………………………………………………………………...15

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: con đường đi lên của nước ta là
sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Đây là một nhận thức đúng đắn, nó là sự vận dụng lý luận hình thái kinh tếxã hội của triết học Mác- Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nó đảm
bảo nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa, có phải là phủ định hoàn toàn chủ nghĩa tư bản không?
Và bỏ qua là bỏ qua cái gì? Thì không phải ai cũng nắm rõ và hiểu sâu sắc
về vấn đề này. Bản thân Đảng ta cũng đã từng có nhận thức sai lầm về vấn
đề này, đã từng phủ định sạch trơn chủ nghĩa tư bản. Tuy nhiên Đảng ta đã
Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


4

kịp thời phát hiện và tiến hành sửa sai, nhận thức lại con đường quá độ lên
chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa một cách đúng
đắn và sâu sắc hơn. Điều đó được thể hiện rõ trong cương lĩnh xây dựng đất
nước thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Xuất phát từ những lý do trên nên tôi chọn đề tài: “Nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác- Lênin với con đường
quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam
hiện nay”.
2. Lịch sử nghiên cứu đề tài:
Việc lựa chọn con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
TBCN có ý nghĩa cực kì quan trọng đối với cách mạng Việt Nam nên đã có
rất nhiều công trình, rất nhiều bài báo, tạp chí nghiên cứu dưới nhiều góc độ
khác nhau. Dưới đây là một số công trình tiêu biểu:
- “Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt
Nam”, tác giả: Dương Phú Hiệp, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà

phạm vi bài tiểu luận này, tôi chỉ tập trung chứng minh cho việc lựa chọn
con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam phù hợp với
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác- Lênin,
bằng việc chỉ ra tính tất yếu và thực chất con đường quá độ lên CNXH bỏ
qua chế độ TBCN ở nước ta hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài:
5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài nghiên cứu được dựa trên những quan điểm lý
luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh. Đồng thời, cũng dựa trên các quan điểm của Đảng về con đường quá
độ lên chủ nghĩa xã hội. Để từ đó, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực
Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


6

tiễn của con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở nước ta hiện
nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng một số phương pháp
chủ yếu sau:
+ Phương pháp hệ thống hóa
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp diễn dịch, quy nạp
+ Phương pháp lịch sử- cụ thể
6. Giả thuyết khoa học:
Tiểu luận góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa cơ sở lý luận và thực
tiễn của chủ nghĩa Mác- Lênin với con đường quá độ lên CNXH bỏ qua chế
độ TBCN ở Việt Nam.


đầu của quá trình nhận thức. Đó là giai đoạn con người sử dụng những giác

Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


8

quan để tác động trực tiếp vào các sự vật trong thế giới khách quan nhằm
nắm bắt các sự vật ấy. Đây là giai đoạn đầu của qua trình nhận thức nó bao
gồm 3 hình thức là cảm giác, tri giác và biểu tượng. Trong nhận thức cảm
tính đã tồn tại cả cái bản chất lẫn cái không bản chất, cả cái tất nhiên và
ngẫu nhiên, cả cái bên trong lẫn bên ngoài về sự vật. Vì vậy, chúng ta không
thể dừng lại ở hình thức nhận thức cảm tính, mà nhận thức phải ở một trình
độ mới cao hơn về chất, đó chính là trình độ nhận thức lý tính hay còn gọi là
giai đoạn tư duy trừu tượng.
Nhận thức lý tính là giai đoạn phản ánh gián tiếp, trừu tượng và khái
quát những thuộc tính, những đặc điểm bản chất của đối tượng. Đây là giai
đoạn thực hiện chức năng quan trọng nhất là tách ra và nắm lấy cái bản chất
có tính quy luật của các sự vật hiện tượng.
Nếu chỉ dừng lại ở nhận thức lý tính thì con người mới chỉ có những tri
thức về đối tượng, con người mới chỉ có khả năng giải thích được thế giới,
tuy nhiên cuộc sống đòi hỏi con người không những giải thích được thế giới
mà còn phải cải tạo được thế giới đó. Chính vì vậy, những tri thức ấy phải
được quay trở lại thực tiễn, giúp con người cải tạo thế giới.
Như vậy ta thấy rằng lý luận được hình thành từ thực tiễn thông qua
hoạt động cụ thể của con người, nhờ khả năng tư duy, nhận thức của mình
con người đã khái quát được lý luận từ thực tiễn, từ đó bản thân lý luận cũng
có tác động tích cực để cải tạo thực tiễn.

của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của
đối tượng nghiên cứu.
Ba dạng hoạt động thực tiễn trên có chức năng, vai trò khác nhau song
chúng có mối liên hệ hữu cơ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó,
hoạt động sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


10

1.2. Sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn:
Nội dung của nguyên tắc này là sự tác động qua lại, sự liên hệ ràng
buộc lẫn nhau giữa lý luận và thực tiễn.
1.2.1. Vai trò của thực tiễn đối với lý luận:
Thực tiễn có vai trò rất quan trọng. Trước hết nó cung cấp tài liệu cho
nhận thức để hình thành nên lý luận. Mọi tri thức suy cho đến cùng đều bắt
nguồn từ thực tiễn.
Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng phát triển của nhận
thức. Nghiên cứu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng tổng kết
kinh nghiệm và khái quát lý luận. Từ đó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của
lý luận, của khoa học. Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức được thể hiện
ở chỗ thực tiễn là cơ sở, động lực và là mục đích của lý luận. Như chúng ta
đã biết, các ngành khoa học ra đời vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn
của con người. Chẳng hạn, xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của con người cần
phải đo đạc diện tích và đo lường sức chứa của những cái bình, từ sự tính
toán thời gian và sự chế tạo cơ khí. Mà toán học đã ra đời và phát triển. Hay
sự xuất hiện học thuyết Mác vào những năm 40 của thế kỉ XIX cũng bắt

điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý
luận về nhận thức.
1.2.2. Vai trò của lý luận đối với thực tiễn:
Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là mối quan hệ biện chứng, trong
đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định lý luậnđiều đó được thể hiện ở chỗ, thực
tiễn là cơ sở, động lực, mục đích và là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý. Tuy
nhiên, lý luận có tính độc lập tương đối, nó tác động tới thực tiễn theo hai
hướng tích cực và tiêu cực.
- Về mặt tích cực: lý luận khoa học phản ánh đúng hiện thực khách
quan. Nó góp phần hạn chế tính mò mẫm, tự phát, tăng cường tính tự giác,
chủ động tích cực trong hoạt động của con người. Tức là lý luận góp phần
xác định mục tiêu, khuynh hướng, là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn
đạt hiệu quả cao hơn.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


12

Mác cho rằng: lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó
thâm nhập vào quần chúng, lý luận được xem như kim chỉ nam cho hành
động. Nó có thể dự kiến được phương thức vận động phát triển của sự vật,
hiện tượng, phương hướng phát triển của thực tiễn. Lênin cho rằng, không
có sách thì không có tri thức. Không có tri thức cách mạng thì không có lý
luận cách mạng. Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách
mạng.
Chủ nghĩa Mác-Lênin là lý luận khoa học của giai cấp công nhân được
hình thành và phát triển trong phong trào đấu tranh cách mạng, nó là ngọn

chủ nghĩa Mác- Lênin:
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nguyên tắc cao nhất và căn bản
của chủ nghĩa Mác- Lênin. Nó có vai trò quan trọng trong thực tiễn cuộc
sống và hoạt động nghiên cứu khoa học.
Nó khắc phục được những hạn chế của các quan điểm duy vật siêu hình
và chống lại quan điểm của chủ nghĩa duy tâm là chưa thấy vai trò của thực
tiễn. Đồng thời, nhờ việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận nhận thức, Mác
và Ăng-ghen đã tạo ra bước chuyển biến cách mạng trong nhận thức, giúp
chúng ta phân biệt được quan điểm duy vật biện chứng với các quan điểm
triết học khác.
Giúp cho các nước xã hội chủ nghĩa tránh được một số căn bệnh như
giáo điều, bệnh kinh nghiệm tồn tại khá lâu ở các nước này. Các căn bệnh
đó là do con người quá đề cao lý luận hoặc thực tiễn, vi phạm nguyên tắc
thống nhất giữa chúng. Vì vậy muốn tránh sai lầm và tìn hướng đi đúng đắn
cho đất nước, các Đảng cộng sản không được đề cao thực tiễn, hạ thấp lý
luận hay ngược lại không được đề cao lý luận đến mức xa dòi thực tiễns, rơi
vào bệnh chủ quan duy ý chí.
Bệnh giáo điều và kinh nghiệm ở nước ta có nguyên nhân cơ bản là sự
yếu kém về lý luận. Sự yếu kém về lý luận khiến cho chúng ta không nhận
thức đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước
ta. Việc hiểu một cách đơn giản, xơ cứng, phiến diện lý luận Mác-Lênin dẫn
đến sự vận dụng lý luận ấy vào thực tiễn cách mạng còn nhiều sai lầm.

Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


14


phong trào cách mạng thế giới đứng trước những thử thách đầy cam go,
những người hoang mang, dao động về lý tưởng đã khuyến cáo Đảng Cộng
sản Việt Nam từ bỏ chủ nghĩa Mác- Lênin, từ bỏ con đường xã hội chủ
nghĩa, bởi họ cho rằng đến thành trì của chủ nghĩa xã hội như Liên Xô mà
còn không đứng vững được, thì một đất nước nhỏ bé, nghèo nàn, lạc hậu
như Việt Nam chúng ta làm sao có thể đi lên CNXH được.
Một câu hỏi đặt ra: có thật là như vậy không?

Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


16

Lịch sử vận động và phát triển của lịch sử Việt Nam, thực tiễn phát
triển của thế giới suốt thế kỷ XX, cũng như thập niên đầu thế kỷ XXI đã bác
bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc trên, đồng thời chứng minh rằng,
nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan, phù hợp với
xu thế vận động tiến bộ của thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể ở Việt Nam.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ( bổ sung ,
pháy triển năm 2011) khẳng định: ” Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện
nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác
nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích
quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó nhăn, thách thức,
nhưng sẽ có bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người
nhất định sẽ tiến tới CNXH”. Trong xu thế vận động chung đó thì Việt Nam
đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chon đúng đắn của
Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế

triển của mình. Sự bỏ qua này đã và đang diễn ra trong lịch sử. Từ thực tiễn
lịch sử xã hội loài người có thể rút ra ba nhận xét: một là, khi vạch ra một sơ
đồ tiến hóa xã hội từ hình thái kinh tế xã hội thấp lên hình thái kinh tế xã hội
cao hơn là chúng ta đã trật tự hóa theo thời gian các trình độ phát triển của
nền văn minh nhân loại nằm rải rác trong không gian. Hai là, khi một hình
thái kinh tế xã hội đi đến chỗ kết thúc, thì xã hội có thể tiến lên một trong
nhiều hình thái xã hội cao hơn, chứ nhất thiết không chỉ tiến lên một hình
thái xã hội cao hơn. Ba là, loài người nói chung thì nhất thiết phải trải qua
cả 5 hình thái kinh tế xã hội, nhưng từng nước cụ thể thì không nhất thiết
phải tuần tự trải qua cả 5 hình thái kinh tế xã hội, có thể bỏ qua một hoặc
một vài hình thái kinh tế xã hội, đi tắt để tiến lên hình thái cao hơn, tùy
thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể đặc thù của từng nước. Điều đó hoàn toàn
phù hợp với quy luật khách quan.
Thứ ba, cũng như lịch sử xã hội loài người nói chung, trong thời đại
ngày nay, việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam hoàn toàn phù hợp với yêu cầu khách quan của nền
kinh tế. điều đó được quy định bởi:

Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT


18

Một là, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở nước ta có những điều kiện
khách quan bên ngoài và bên trong để quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua
chế độ tư bản chủ nghĩa.
Điều kiện bên ngoài là sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng
khoa học và công nghệ làm cho lực lượng sản xuất thế giới phát triển đạt

cấp, nền kinh tế nước ta nảy sinh một yêu cầu khách quan là: chuyển kinh tế
tự nhiên lên kinh tế sản xuất hang hóa, thúc đẩy sản xuất hang hóa nhỏ phát
triển lên thành sản xuất lớn dựa trên cơ sở kĩ thuật, công nghệ hiện đại. Để
đáp ứng yêu cầu trên nền kinh tế nước ta có thể lựa chon một trong hai xu
hướng sau: hướng thứ nhất, để nền kinh tế phát triển tự phát chuyển thành
nền kinh tế TBCN, trên cơ sở phân hóa những người sản xuất hàng hóa nhỏ,
do tác động của quy luật giá trị. Nhưng theo hướng này, chủ nghĩa tư bản ra
đời, sẽ dẫn đến những hậu quả sau: chính quyền do chính nhân dân ta dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã phải tốn bao xương máu mới
giành được, sẽ bị mất, và chính nhân dân lao động lại rơi xuống địa vị làm
thuê và bị bóc lột. Chính vì vậy, nước ta không thể đi theo xu hướng này
không thể phát triển theo con đường TBCN. Bản thân chủ nghĩa tư bản là
một chế độ xã hội lỗi thời về mặt lịch sử, sớm hay muộn cũng phải thay thế
bằng một chế độ xã hội mới, phát triển ở trình độ cao hơn, với giai đoạn đầu
là chủ nghĩa xã hội. Với sự phát triển mạnh mẽ của toàn cầu hóa, chính chủ
nghĩa tư bản cũng đã và đang tạo ra những tiền đề vật chất - kĩ thuật để
chuyển sang CNXH.
Xu hướng thứ hai, là thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế
độ tư bản chủ nghĩa dựa trên cơ sở củng cố chính quyền nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân; dựa vào khối liên minh công- nông- trí thức để tổ chức
và huy động mọi nguồn lực của quần chúng nhân dân tiến hành công nghiệp
hóa hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa, tạo lập cơ sở vật chất- kĩ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Con dường
này hoàn toàn mới mẻ và không ít khó khăn, nhưng giảm bớt được đau khổ
cho nhân dân lao động. Những thành tựu đã đạt được sau 25 năm đổi mới đã
chứng tỏ: chọn con đường thứ hai này là đúng hướng, phù hợp với cả lợi ích
của cả dân tộc, và hoàn cảnh lịch sử cụ thể ở nước ta, phù hợp với xu thế
phát triển của thời đại.Bởi có lẽ, chỉ có CNXH mới đem lại cho nhân dân lao
Tiểu luận triết học


tiến hành thắng lợi cuộc tổng khởi nghĩa tháng tám năm 1945 sau cách mạng
tháng Tám, Đảng ta và nhân dân ta thiết tha mong muốn hòa bình để xây
dựng đất nước, song bọn thực dân đế quốc đã đem quân xâm lược nước ta
Tiểu luận triết học

Nguyễn Hoàng Lan Anh . K16 – TGT



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status