Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. pot - Pdf 17

Câu hỏi: Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn. Ý nghĩa trong
việc đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm.
Bài làm:
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc
cơ bản, là linh hồn của triết học Mác – Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết
học, Các Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối lien hệ của
nó voiws thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mỗi quan hệ của
nó với lý luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện
chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn
luôn vận động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát
triển; sự thống nhất biện chứng giữa chung – vì thế - cũng có những nội
dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn
lịch sử.
Với tư cách là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng cộng sản
Việt Nam đã lãnh đạo đất nước tiến hành thành công công cuộc đổi mới, đưa
nước ta bước đầu thoát khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế xã hội, hội nhập
ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Trong công cuộc đổi mới này,
Đảng xác định trước hết phải đổi mới về tư duy, trong đó, lấy đổi mới kinh
tế làm trọng tâm.
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của
nhận thức Macxit nói riêng và chủ nghĩa Mac – Lênin nói chung.
Trong lịch sử triết học, các nhà triết học duy vật trước Mac khong
thấy được vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên
quan điểm của họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại
tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu hoạt động thực
tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại
đâu đó ngoài con người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời
sống xã hội.
Mac – Ăngghen, những nhà sang lập chủ nghĩa Mac đã khắc phục
những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và
đưa ra quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn

thực nuôi dưỡng nó phát triển, vì thế không thể đem lại những tri thức sâu
sắc, xác thực, đúng đắn về sự vật, sẽ không có khoa học, không có lý luận.
Thông qua thực tiễn, con người có được, đúc kết được những kinh
nghiệm và lý luận khoa học chính là sự khái quát từ những kinh nghiệm
thực tiễn đó. Cụ thể là trong quá trình hoạt động cải biến thế giới, con người
cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, thực tiễn rèn luyện các giác quan của
con người làm cho chúng tinh tế hơn, trên cơ sở đó phát triển tốt hơn. Nhờ
đó con người ngày càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí
mật của nó, làm cho phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới.
Thực tiễn còn đề ra những nhu cầu, nhiệm vụ, phương hướng phát triển của
nhận thức, vì thế nó luôn thúc đẩy sự ra đời của các ngành khoa học.
Thực tiễn còn là cơ sở để chế tạo công cụ, phương tiện máy móc mới,
hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức, khám phá, chinh phục thế giới.
Ăngghen cho rằng, nhu cầu cấp thiết của thực tiễn, của sản xuất sẽ thúc đẩy
nhận thức khoa học phát triển nhanh hơn hang chục trường đại học.
Thực tiễn là động lực để phát triển nhận thức, phát triển lý luận. Con
người không bao giờ thỏa mãn với nhu cầu của mình, nhu cầu đẻ ra nhu cầu.
Do đó thực tiễn của con người luôn luôn mới, do đó luôn luôn làm nảy sinh
những vấn đề mới được nhận thức, lý luận, khoa học phải lý giải, phải giải
đáp và định hướng cho thực tiễn.
Thực tiễn là mục đích của nhận thức, của lý luận. Hay nói cách khác,
thực tiễn định hướng cho sự phát triển nhận thức, lý luận, khoa học phát
triển đúng hướng, do đó có tác dụng thiết thực.
Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức còn thể hiện ở chỗ, thực tiễn là
tiêu chuẩn của chân lý. Theo Mac và Ăngghen thì “Vấn đề tìm hiểu xem tư
duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan hay không, hoàn toàn
không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề của thực tiễn. Chính
trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Tất nhiên, nhận
thức xã hội còn có tiêu chuẩn riêng, đó là tiêu chuẩn logic nhưng tiêu chuẩn
logic không thể thay thế cho tiêu chuẩn thực tiễn, và xét đến cùng nó cũng

tượng với hai tầm nông – sâu khác nhau – kinh nghiệm và lý luận.
Kinh nghiệm là những khái niệm hình thành tự phát và gắn liền trực
tiếp với kinh nghiệm sống của mọi người, không cần qua học tập – nghiên
cứu. Do đó, kinh nghiệm mang nặng tính chất cảm tính, chưa đi sâu phản
ánh bản chất và các mối lien hệ rất yếu bên trong của các đối tượng. Ví dụ:
nhà, chợ, cây, con, tình yêu, căm thù…
Lý luận là sản phẩm của sự phát triển cao của nhận thức, đồng thời thể
hiện như trình độ cao của nhận thức. Các khái niệm lý luận gắn liền với
những hệ thống lý luận nhất định. Trong hệ thống các khái niệm, phạm trù,
các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận, quy luật là hạt nhân của lý
luận, là sản phẩm của quá trình nhận thức nên bản chất của lý luận là hình
ảnh chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối
tượng nhận thức.Nếu chúng phản ánh trung thực các mối liên hệ bản chất,
các quy luật vốn có của hiện thực khách quan thì những hệ thống lý luận đó
chính là các học thuyết khoa học được kiểm nghiệm bằng thực tiễn (hay
thực nghiệm). Trái lại, đó là những lý luận giả khoa học và sớm muộn cũng
sẽ bị bác bỏ.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý
luận là tri thức khái quát tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ
rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp
những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”. Lý
luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải
mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương
đối của nó, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không
làm mất đi mối liên hệ giữa lý luận với kinh nghiệm.
Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trìu tượng và khái quát cao
nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự
vật, hiện tượng khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem
quy sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên
trong thực sự.

không được xem nhẹ thực tiến và tách rời lý luận với thực tiễn. Điều đó
cũng có nghía là phải quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong nhận thức khoa học và hoạt động cách mạng.
Trong triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac – Lênin, sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại.
Nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn trong việc nhận thức khoa học và hoạt
động thực tiễn.
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới
nhiều hình thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực
tiễn, phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng
thước đo tính cao thấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý
luận đó phải hướng hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề
do chính sự phát triển của thực tiễn đặt ra, và như vậy, lý luận góp phần thúc
đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực
tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác, hoạt
động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thực tiễn, để cải tạo
thực tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán
triệt được thực tiễn, là cơ sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận
thức, là tiêu chuẩn của chân lý (lý luận). Như trên đã nói, lý luận đích thực
bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định. Thực tiễn quy
định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận
thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý
luận cũng tác động trở lại thực tiễn bằng cách soi đường chỉ đạo, dẫn dắt
thực tiễn.
Như vậy, giữa lý luận và thực tiễn bao giờ cũng tồn tại một mối liên
hệ không thể tách rời. Song cho dù thực tiễn có hàm lượng lý luận nhiều đến
đâu đi chăng nữa, thì thực tiễn và lý luận vẫn tồn tại với tư cách là hai lĩnh
vực tương đối độc lập của hoạt động xã hội và bao giờ hình ảnh lý tưởng
(kết quả của hoạt động lý luận) cũng đi trước hoạt động thực tiễn. Nói cách

luận và thực tiễn được Hồ Chí Minh hiểu trên tinh thần biện chứng: Thực
tiễn cần tới lý luận soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo, hướng dẫn, định hướng để
không mắc phải bệnh kinh nghiệm, còn lý luận phải dựa trên cơ sở thực tiễn,
phản ánh thực tiễn và phải luôn luôn liên hệ với thực tiễn, nếu không sẽ mắc
phải bệnh giáo điều. Nghĩa là thực tiễn, lý luận cần đến nhau, nương tựa vào
nhau, hậu thuẫn, bổ sung cho nhau.
Hồ Chí Minh cho rằng, để quán triệt tốt nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn nhằm khắc phục bệnh kinh nghiệm thì trước hết cần khắc
phục bệnh kém lý luận, bệnh khinh lý luận. Bởi lẽ, kém lý luận, khinh lý
luận nhất định sẽ dẫn tới bệnh kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì
trong hoạt động thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới
tuyệt đối hóa kinh nghiệm. Hơn nữa, không có lý luận thì trong hoạt động
thực tiễn người ta dễ chỉ dựa vào kinh nghiệm, dễ dẫn tới tuyệt đối hóa kinh
nghiệm, cho kinh nghiệm là yếu tố quyết định thành công trong hoạt động
thực tiễn. Nếu không có lý luận hay trình độ lý luận thấp sẽ làm cho bệnh
kinh nghiệm thêm trầm trọng, thêm kéo dài. Thực tế cho thấy, ở nước ta có
không ít cán bộ, Đảng viên “chỉ bo bo giữ lấy kinh nghiệm lẻ tẻ, họ không
hiểu rằng lý luận rất quan trọng cho sự thực hành cách mạng. Vì vậy, họ cứ
cắm đầu nhắm mắt mà làm, không hiểu rõ toàn cuộc của cách mạng”.
Những cán bộ ấy quên rằng “kinh nghiệm của họ tuy tốt nhưng cũng chẳng
qua là từng bộ phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi. Có kinh nghiệm
mà không có lý luận cũng như một mắt sáng một mắt mờ”. Thực chất là họ
không hiểu vai trò của lý luận đối với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, lý luận
có vai trò hết sức to lớn đối với thực tiễn, lý luận “như cái kim chỉ nam, nó
chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không có lý luận
thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”. Làm mò mẫm chính là biểu hiện của
bệnh kinh nghiệm. Kém lý luận, khinh lý luận không chỉ dẫn tới bệnh kinh
nghiệm mà còn dẫn tới bệnh giáo điều. Bởi lẽ, do kém lý luận, khinh lý luận
nên không hiểu được bản chất những vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Nếu có
vận dụng thì cũng không sát thực tế, không phù hợp với thực tiễn.

tiễn cách mạng nước nhà. Học phải đi đôi với hành, lý luận phải liên hệ với
thực tiễn cách mạng, khi vận dụng kinh nghiệm và lý luận phải xuất phát từ
thực tế nước nhà. Đồng thời, Người còn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên phải
biết dùng lý luận đã học được để tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng
cao hiệu quả công tác: “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại,
chúng ta cần nghiên cứu cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận
đó sẽ là cái chìa khóa phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”.
Người còn nhấn mạnh “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho
thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho
nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực
tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm
được như vậy cũng có nghĩa là làm cho lý luận cần được “bổ sung bằng
những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn
mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Cứ như vậy, lý luận
luôn được bổ sung, hoàn thiện, phát triển bởi những kết luận mới được rút ra
từ tổng kết thực tiễn. Còn thực tiễn luôn được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt
bởi lý luận đã được bổ sung bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới.
Qua những nhận định ở trên, chúng ta thấy rằng, để quán triệt tốt
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục
bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều có hiệu quả thì phải không ngừng học
tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận. Khi có lý luận thì phải vận dụng vào
thực tiễn nhằm ngăn ngừa, khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
có hiệu quả thì phải không ngừng học tập lý luận, nâng cao trình độ lý luận.
Khi có lý luận thì phải vận dụng vào thực tiễn, phải biết tổng kết thực tiễn để
làm giàu lý luận bằng những kinh nghiệm thực tiễn mới. Chỉ thông qua quy
trình như vậy thì lý luận mới gắn với thực tiễn, mới không trở thành giáo
điều. Đồng thời thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo bồi lý luận sẽ không bị mò
mẫm, vấp váp, hay chệch hướng. Như vậy thì bệnh kinh nghiệm và bệnh
giáo điều cũng không còn chỗ đứng.
Nguyên tắc thống nhất lý luận và thực tiễn có ý nghĩa đặc biệt quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status