VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI - Pdf 34

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

----------

NGUYỄN THỊ THU

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI

----------

NGUYỄN THỊ THU

VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG
CÔNG NGHỆ VÀ THƯƠNG MẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành : Lý luận và phương pháp giảng dạy
Giáo dục chính trị
Mã số

: Cách mạng Việt Nam

- CNTT

: Công nghệ thông tin

- CNXH

: Chủ nghĩa xã hội

- GCCN

: Giai cấp công nhân

- GV

: Giảng viên

- SV

: Sinh viên

- NXB

: Nhà xuất bản

- SL

: Số lượng


tịch Hồ Chí Minh, yêu cầu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình
giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng hiện nay có tầm quan trọng hết sức

1


đặc biệt và cần thiết. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay vấn đề này dường như
đang bị xem nhẹ, nếu không nói là bị bỏ qua. Trong rất nhiều giờ giảng, giảng
viên hầu như chỉ nhắc lại những điều đã có, đã được ghi chép một cách đầy
đủ, rõ ràng trong sách vở, tài liệu. Nhiều giờ học trôi qua trong sự nhàm chán,
nặng nề bởi giáo viên hầu như chỉ biết có lý thuyết suông. Bài giảng thiếu sức
sống, không thuyết phục, không sinh động đang là một hiện tượng khá phổ
biến tại các trường, các cơ sở đào tạo hiện nay. Hệ quả tất yếu kéo theo đó là
chất lượng, hiệu quả của công tác đào tạo, giảng dạy thấp, thậm chí đôi khi
còn phản tác dụng và tạo ra tâm lý ức chế, khiên cưỡng, gò ép cho người học.
Từ đó, nhiều người dễ cho rằng chính trị dường như là một lĩnh vực khô khan,
thiếu sức sống, thiếu sức truyền cảm. Xuất phát từ thực trạng hiện nay các bài
giảng của một số giảng viên về cơ bản mang nặng tính lý thuyết, thiếu tính
thực tiễn nên nhiều người cho rằng dường như học chính trị chỉ là học một
mớ lý thuyết mang tính kinh viện, sáo rỗng, không thực tế. Cũng xuất phát từ
quan niệm sai lầm này mà trong thực tế nhiều sinh viên đã đến với các bài
học, bài thi các môn chính trị bằng một tâm lý đối phó, chỉ chú trọng học vẹt,
học thuộc lòng, học sao cho miễn là qua được các kỳ thi, còn bản chất vấn đề
thì hầu như không hiểu hoặc không cần hiểu, niềm đam mê hứng thú hầu như
không có. Với những quan niệm và tâm lý xuất phát điểm như vậy thì rõ ràng
chất lượng, hiệu quả ở đây có lẽ là vấn đề đáng được báo động.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn
đề tài “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy
học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng Công nghệ và
Thương mại Hà Nội” làm luận văn khoa học giáo dục.

trong quá trình đào tạo. Sáu là, để giáo dục lý luận chính trị đạt hiệu quả cao
cần chuẩn bị tốt các phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ giảng
dạy và học tập của đội ngũ giảng viên và học viên. Từ đó, tác giả làm rõ tầm
quan trọng của việc đổi mới phương pháp học tập lý luận chính trị theo tư
tưởng Hồ Chí Minh và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình
đổi mới trong quá trình dạy học lý luận chính trị.
Công trình: “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong dạy học môn Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
(Phần II) ở Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật Việt Bắc” (2011) của Ma
3


Thúy Na. Trong công trình nghiên cứu này, tác giả Ma Thúy Na đã trình bày
những cơ sở khoa học của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác –
Lênin (Phần II) ở Trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật Việt Bắc đó là những
quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng ta về mới quan hệ giữa lý luận và thực tiễn. Đồng thời, tác giả đã chỉ ra
thực trạng dạy học môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
(Phần II) ở Trường cao đẳng văn hóa nghệ thuật Việt Bắc còn nhiều bất cập,
chưa đáp ứng yêu cầu của môn học, kết quả học tập của sinh viên thấp.
Nguyên nhân là do không ít giảng viên chưa thực hiện tốt các nguyên tắc dạy
học, đặc biệt là nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,
dẫn tới hạn chế trong sử dụng phương pháp dạy học. Tác giả đã tiến hành
thực nghiệm khoa học để từ đó rút ra quy trình và giải pháp vận dụng nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn Những nguyên lí
cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin (Phần II) ở Trường cao đẳng văn hóa nghệ
thuật Việt Bắc.
Công trình: “Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong việc dạy học bài “Hình thái kinh tế xã hội” môn Những nguyên lý cơ

nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh tại
Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội.
3. Mục đích nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng kết quy trình thực nghiệm, luận
văn đề xuất quy trình thực nghiệm vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao
đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội; đề xuất một số biện pháp vận dụng
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy, góp phần
nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo ở Trường Cao đẳng Công nghệ và
Thương mại Hà Nội nói riêng và các trường đại học, cao đẳng nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Nghiên cứu việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.

5


- Phạm vi: Luận văn tập trung nghiên cứu việc vận dụng nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí
Minh ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội.
5. Những luận điểm cơ bản và đóng góp mới của tác giả
- Tầm quan trọng của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Thực trạng của việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở Trường Cao đẳng
Công nghệ và Thương mại Hà Nội.
- Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc vận dụng nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học môn Tư tưởng Hồ Chí
Minh ở Trường Cao đẳng Công nghệ và Thương mại Hà Nội.
6. Phương pháp nghiên cứu

C.Mác đã phát hiện ra sức mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó với
thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn là ở mối quan hệ của nó với lý
luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất biện chứng và
cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận
động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống
nhất biện chứng giữa chúng vì thế cũng có những nội dung cụ thể và những
biểu hiện khác nhau trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử.
1.1.1.1. Phạm trù thực tiễn
Phạm trù thực tiễn là một trong những vấn đề trung tâm của triết học,
nó không chỉ là một phạm trù nền tảng, cơ bản của lý luận nhận thức mácxít
mà còn của toàn bộ triết học Mác - Lênin.
Các nhà triết học trước Mác đã đề cập đến vấn đề thực tiễn với các
quan điểm khác nhau. Bêcơn (1561 - 1626 ) – nhà triết học duy vật Anh, nhà
triết học đầu tiên thấy được vai trò của thực tiễn, của thực nghiệm khoa học
trong quá trình nhận thức, trong quá trình hình thành nhận thức.
Phoiơbắc (1804 – 1872), nhà triết học duy vật Đức đầu thế kỷ XIX đã
đề cập đến thực tiễn, nhưng đối với ông, chỉ có lý luận mới thực sự là hoạt

7


động chân chính của con người, còn thực tiễn chỉ là những hoạt động làm ra
của cải vật chât hiện thời.
Hêghen (1770 – 1831), nhà triết học duy tâm Đức cuối thế kỷ
XVIII đầu thế kỷ XIX đã có tư tưởng sâu sắc về thực tiễn. Ông cho rằng,
bằng thực tiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hóa bản thân mình
trong quan hệ với thế giới bên ngoài, nhưng ông chỉ giới hạn thực tiễn ơ
ý niệm, ở hoạt động tư tưởng.
Có thể nói, các nhà duy vật trước Mác đã có công lớn trong việc phát
triển thế giới quan duy vật và đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo và

bên ngoài, thì con người, nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có mục đích, có
tính xã hội của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích
nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới.
Không có hoạt động thực tiễn, con người và xã hội loài người không
thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, có thể nói rằng thực tiễn là phương thức
tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu
của mối quan hệ giữa con người và thế giới. Mác đã viết: “ Con vật chỉ tái sản
xuất ra bản thân nó, còn con người thì tái sản suất ra toàn bộ giới tự nhiên”.
[31;119]. Thực tiễn là cái xác định một cách thực tế sự liên hệ giữa vật chất
và những điều cần thiết đối với con người.
Hoạt động thực tiễn là hoạt động vật chất hóa tư tưởng, chuyển cái tinh
thần vào cái vật chất hay mục đích của nhận thức là vì thực tiễn. Tuy nhiên
hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức nhiều khi lại hoàn toàn khác nhau,
đôi khi người ta nhận thức giỏi song hoạt động lại không tốt, không hiệu quả
và ngược lại. Hoạt động thực tiễn còn là qúa trình tương tác giữa chủ thể và
khách thể, trong đó thực tiễn là khân trung gian nối con người với thế giới
khách quan.
Hoạt động thực tiễn có ba dạng cơ bản, đó là:
Hoạt động sản xuất vật chất: Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên
thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội
loài người và quyết định các dạng khác nhau của hoạt động thực tiễn, nó tạo
thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người,
giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật.
9


Hoạt động chính trị - xã hội nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ
xã hội.
Hoạt động thực nghiệm khoa học : Dạng hoạt động thực tiễn này ngày
càng trở nên quan trọng trong sự phát triển xã hội, đặc biệt trong thời kỳ cách

học tự nhiên sống lại với một sức mạnh thần kỳ, thì chúng ta phải đem thành
tích thần kỳ đó quy cho sản xuất”[35;185].
Lý luận không những khái quát kinh nghiệm thực tiễn đã thu được, mà
còn phải đi trước thực tiễn, chỉ ra cho kinh nghiệm thực tiễn con đường vận
dụng, phát triển và đi theo, vũ trang cho con người những tri thức khoa học
trong hoạt động thực tiễn. Chủ nghĩa Mác - Lênin là sự thống nhất chân chính
giữa lý luận và thực tiễn cách mạng, là kim chỉ nam cho nhận thức lý luận và
thực tiễn của chúng ta.
1.1.1.3. Mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, giữa lý luận và thực tiễn
có mối quan hệ biện chứng với nhau, quy định, tác động qua lại với nhau,
trong đó:
- Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của lý luận và là tiêu chuẩn
của chân lý; sự hình thành và phát của lý luận xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng
yêu cầu của thực tiễn; lý luận phải được kiểm nghiệm, được bổ sung và phát
triển trong thực tiễn
Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở,
động lực và mục đích của nhận thức. Chính trong quá trình cải tạo thế giới mà
nhận thức, lý luận ở con người mới được hình thành và phát triển. Thực tế lịch
sử cho thấy, con người quan hệ với thế giới bắt đầu không phải bằng lý luận mà
bằng thực tiễn. Trong quá trình này, con người sử dụng các công cụ, phương tiện
tác động vào các sự vật, hiện tượng, buộc chúng phải bộc lộ những thuộc tính và
tính qui luật, nhờ đó mà con người có được những hiểu biết về thế giới khách
quan. Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, những kinh nghiệm,
sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượg hóa, khái quát hóa... để
xây dựng thành lý luận. Do đó, có thể nói, thực tiễn cung cấp những tài liệu cho
nhận thức, cho lý luận. Không có thực tiễn thì không có nhận thức, không có lý
luận. Những tri thức mà chúng ta có được cho đến hôm nay hoặc trực tiếp, hoặc
gián tiếp đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn.
11

giá vai trò và ý nghĩa lớn lao của lý luận, Lênin viết: Không có lý luận cách
mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng.
12


Lý luận một khi thâm nhập vào quần chúng thì biến thành "lực lượng
vật chất". Lý luận có thể dự kiến được sự vận động trong tương lai, từ đó vạch
ra phương hướng cho thực tiễn, chỉ rõ những phương pháp hành động có hiệu
quả nhất để đạt mục đích của thực tiễn. Nhờ có lý luận khoa học mà hoạt
động của con người nên chủ động, tự giác, hạn chế tình trạng mò mẫm, tự
phát. Sức mạnh của chủ nghĩa Mác - Lênin là ở chỗ, trong khi khái quát thực
tiễn cách mạng, lịch sử xã hội, nó vạch rõ qui luật khách quan của sự phát
triển, dự kiến những khuynh hướng cơ bản của sự tiến hóa xã hội. Điều đó
làm cho các Đảng của giai cấp công nhân có thể vạch ra đường lối, phương
hướng, nhiệm vụ, biện pháp hành động cho phù hợp với đặc điểm, hoàn cảnh,
điều kiện cụ thể của mỗi nước một cách sáng tạo. Chủ tịch Hồ Chí Minh ví
“không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi” [39; 234].
Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng, do tính gián tiếp, tính trừu tượng cao
trong sự phản ánh hiện thực, do sự chi phối của hệ tư tưởng và thái độ không
khoa học nên lý luận có nguy cơ xa rời cuộc sống và trở nên ảo tưởng, giáo
điều. Trong khi nhấn mạnh vai trò quan trọng của lý luận, V.I. Lênin nhắc đi
nhắc lại rằng, lý luận cách mạng không phải là giáo điều, nó là "kim chỉ nam"
cho hành động cách mạng; và lý luận không lại là một cái gì cứng nhắc, nó
đầy tính sáng tạo; lý luận luôn cần được bổ sung bằng những kết luận mới
được rút ra từ thực tiễn sinh động.
Do vậy, sức mạnh của lý luận là ở chỗ nó gắn bó mật thiết với thực
tiễn, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn.
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là yếu tố đặc trưng tạo ra sự khác
biệt về chất của chủ nghĩa Mác - Lênin so với hệ thống tư tưởng trước đó trong
lịch sử. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa Mác Lênin có ý nghĩa phương pháp luận to lớn đối với sự nghiệp cách mạng nước ta.

lý luận. Cách quan niệm về lý luận như thế cho phép người ta nhìn lý luận
trong trạng thái mở, trạng thái vận động của nó. Lý luận chân chính tự nó
không chấp nhận sự xa rời thực tiễn, xa rời hiện thực. Việc Hồ Chí Minh đặt
“lý luận” trong mối quan hệ chặt chẽ với “kinh nghiệm” cũng là một cách chỉ
ra tính quy định của thực tế đối với nội dung của lý luận. Điều cần lưu ý là,
tuy Người không quên nhắc nhở phải chống bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa,

14


nhưng Người không hề coi thường kinh nghiệm. Với Hồ Chí Minh, kinh
nghiệm là nguyên liệu để tạo nên lý luận, thậm chí là một yếu tố, một bộ phận
của lý luận.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (1947), Hồ Chí Minh đã nêu một
cách cụ thể hơn: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm,
trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành lý
luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế”. Theo Hồ Chí Minh: “đó là lý
luận chân chính”. Như vậy, lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà
thành, nhưng lý luận chân chính là lý luận phải được chứng minh với thực tế,
tức là phải phù hợp với thực tế, phải được vận dụng vào thực tế.
Trong các bài viết, bài nói chuyện, Hồ Chí Minh dùng nhiều cách diễn
đạt khác nhau về lý luận, nhưng điều cơ bản mà chúng ta bắt gặp là Người
muốn nhấn mạnh lý luận là “do kinh nghiệm từ trước và kinh nghiệm hiện
nay gom góp, phân tích và kết luận những kinh nghiệm đó mà thành”. Nói
khác đi lý luận là sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn mà thành.
- Phạm trù thực tiễn
Trong lý luận nhận thức của triết học duy vật biện chứng, “thực tiễn”
được coi là những hoạt động vật chất có mục đích mang tính lịch sử - xã hội
của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội. Nó gồm các dạng cơ bản là
hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động chính trị - xã hội, hoạt động thực

bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì bao giờ Hồ Chí Minh cũng dùng khái niệm
thực tiễn, nhưng khi đề cập tới việc áp dụng lý luận vào thực tiễn, liên hệ lý
luận với thực tiễn và khi giải thích nguyên tắc này thì Người thường dùng
khái niệm thực tế thay cho thực tiễn. Cho nên, trong cùng một bài viết, bài nói
chuyện, Hồ Chí Minh vẫn sử dụng cả hai khái niệm thực tế và thực tiễn.
Xét về bản chất, hai khái niệm thực tế và thực tiễn tuy có nội dung khác
nhau nhưng được Hồ Chí Minh sử dụng với nội hàm như nhau. Tuy vậy, hai
khái niệm này không hoàn toàn đồng nhất với nhau và không thể thay thế cho
nhau trong một số trường hợp. Vì vậy, Hồ Chí Minh không bao giờ viết “thống
nhất giữa lý luận và thực tế” mà viết “thống nhất giữa lý luận và thực tiễn”.

16


Xuất phát từ chỗ hiểu thực tế rất rộng, bao gồm toàn bộ thực tiễn cách
mạng của Đảng ta, cả kinh nghiệm đấu tranh cách mạng, đường lối, chính
sách… Cho nên, Hồ Chí Minh luôn căn dặn cán bộ, đảng viên rằng khi liên
hệ lý luận với thực tế cần tránh sự lệch lạc không hiểu rõ vấn đề, đòi hỏi phải
giải quyết mọi vấn đề thực tế ngay một lúc, vì thực tế là cả một quá trình lâu
dài của toàn Đảng, toàn dân.
- Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
+ Chủ nghĩa Mác - Lênin là ánh sáng soi đường, kim chỉ nam cho cách
mạng nước ta.
Từ chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác Lênin và chủ nghĩa xã hội, tìm thấy con đường cứu nước cho dân tộc. Người
tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư
tưởng cho cách mạng Việt Nam.
Vậy điều gì đã làm cho Hồ Chí Minh tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin?
Người tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và Người tìm thấy ở chủ nghĩa
Mác - Lênin câu trả lời bức thiết nhất cho dân tộc Việt Nam là con đường
giành độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phúc cho mỗi người.

người duy nhất tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng cho
dân tộc ta và các dân tộc bị áp bức khác. Đó là con đường cách mạng vô sản.
Như vậy, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã đến và nhận thức được
chủ nghĩa Mác - Lênin không phải trên cơ sở kinh nghiệm chủ nghĩa hay giáo
điều sách vở mà trên cơ sở của sự thống nhất nhuần nhuyễn giữa lý luận cách
mạng và hoạt động thực tiễn cách mạng của Người.
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng ta và Chủ tịch Hồ
Chí Minh luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, biết vận
dụng lý luận Mác - Lênin vào tình hình thực tế đất nước để từ đó đề ra
đường lối, chính sách đúng đắn. Vì vậy, cách mạng Việt Nam đã giành
được những thắng lợi to lớn trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân
tiến lên chủ nghĩa xã hội.

18


+ Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh về mối quan hệ biện chứng giữa lý
luận cách mạng và thực tiễn cách mạng.
Hồ Chí Minh tiếp thu những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác Lênin để chỉ đạo phong trào cách mạng Việt Nam, Người nắm vững những
nguyên lý triết học mácxít để làm cơ sở lý luận cho những phương pháp cách
mạng đúng đắn. Người hiểu rất sâu sắc vai trò của lý luận đối với thực tiễn.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước ta, Người luôn nhắc nhở cán
bộ, đảng viên phải nắm vững lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin để chỉ đạo thực
tiễn phong trào cách mạng. Người nhắc nhở lại lời dạy của Lênin là: “Không
có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng” và “chỉ có một
đảng có lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có thể làm tròn được vai trò
chiến sĩ tiên phong”. [50; 495]
Để cán bộ, đảng viên hiểu được con đường hình thành và vai trò lý
luận đối với hoạt động thực tiễn, Hồ Chí Minh đã nêu ra khái niệm lý luận
về sự tổng kết, sự khái quát những kinh nghiệm thực tiễn của loài người đã

nghiệm là vốn quý. Trong hoạt động thực tiễn, con người cần phải rút kinh
nghiệm, nắm được kinh nghiệm và cần có nhiều kinh nghiệm để chỉ đạo
hành động. Con người không có kinh nghiệm, sẽ không có cơ sở, điều kiện
để tổng kết, đúc rút lý luận. Nhưng, nếu chỉ dừng lại ở trình độ kinh
nghiệm thì chưa đủ. Bởi vì, kinh nghiệm mới chỉ phản ánh từng mặt, từng
bộ phận, chưa đi sâu vào bản chất và tìm ra quy luật vận động của các sự
vật, hiện tượng. Kinh nghiệm chỉ có vai trò trong một phạm vi hẹp. Trong
tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã nói với cán bộ, đảng viên
rằng: “... kinh nghiệm của họ tuy tốt, nhưng cũng chẳng qua là từng bộ
phận mà thôi, chỉ thiên về một mặt mà thôi”.
Vì vậy, đòi hỏi cán bộ, đảng viên không được dừng lại ở trình độ kinh
nghiệm, tuyệt đối hoá kinh nghiệm dẫn đến coi thường lý luận, không học lý
luận, lý luận kém. Muốn làm việc tốt, cán bộ cần phải nâng cao tri thức lý
luận, nắm vững lý luận. Người nói: “Có những cán bộ, những đảng viên cũ,
làm được việc, có kinh nghiệm. Cố nhiên, những anh em đó rất quý báu
cho Đảng. Nhưng họ lại mắc phải cái bệnh khinh lý luận. Họ quên rằng:
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status