1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với những thành tựu to lớn
đạt được trong 20 năm đổi mới. Có được những kết qủa đó là do Đảng cộng
sản Việt Nam đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng nước ta. Một trong
những nguyên tắc lý luận cơ bản mà Đảng ta đã vận dụng là nguyên tắc thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn của triết học Mac-Lênin.
Ngay từ buổi đầu của lịch sử, con người phải lao động sản xuất tạo ra
của cải vật chất để tồn tại. Qua lao động mà kinh nghiệm được tích lũy phong
phó, đó là cơ sở cho việc khái quát lí luận. Phân công lao động phát triển, xã
hội phân chia thành giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị có điều kiện vật chất
để tách khái lao động chân tay để chuyên nghiên cứu lí luận. Đó là cơ sở xã
hội cho việc tách rời giữa thực tiễn với lí luận đi đến đối lập chúng với nhau.
Triết học Mác- Lênin đã thực hiện sự thống nhất trở lại lí luận với thực tiễn.
Sự thống nhất này thực hiện trên cơ sở mét sù phát triển cao của cả thực tiễn
và lí luận.
Quan điểm của triết học Mác về sự thống nhất giữa lí luận và thực tiễn
không chỉ ở chỗ vạch rõ vai trò quyết định của thực tiễn đối với lí luận, coi
thực tiễn là cơ sở, là tiêu chuẩn, là mục đích quan trọng của lí luận với thực
tiễn.
Cội nguồn của những đột phá tạo ra những bước tiến vượt bậc của xã
hội loài người có sự đóng góp của lý luận đích thực. Lý luận có nguồn gốc cơ
sở động lực từ thực tiễn, chính thực tiễn đặt ra vô vàn những vấn đề mà lý
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
3
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu tham khảo.
Phương pháp nghiên cứu: Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu
Duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đặc biệt coi trọng và sử dụng chủ yếu
phương pháp logic lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh.
Nguồn tư liệu tham khảo: Một số giáo trình triết học và các tài liệu có
liên quan.
5. Kết cấu tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liêu tham khảo, tiêu luận
gồm 3 chương.
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
4
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
PHẠM TRÙ LÝ LUẬN VÀ PHẠM TRÙ THỰC TIỄN
1.1. Phạm trù lý luận.
Trước hết cần khẳng định rằng phạm trù lý luận là phạm trù mang tính
trừu tượng, vì vậy từ trước đến nay, đã có rất nhiều quan niệm, quan điểm
khác nhau về lý luận. Lý luận ra đời ngay từ thời cổ đại, khi triết học mới ra
đầu tiên của quá trình nhận thức. Nó được thể hiện ở ba hình thức cơ bản là
cảm giác, tri giác và biểu tượng.
Cảm giác là hình thức đầu tiên đơn giản nhất của nhận thức cảm tính,
phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật và hiện tượng. Bản chất của
cảm giác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Tri giác là tổng hợp những thuôc tính riêng lẻ của sự vật trong mối
quan hệ hữu cơ với nhay. Cũng như cảm giác, tri giác mang tính trực tiếp.
Biểu tượng là hính thức đi sâu vào bản chất của sự vật, biết được bản
chất của chúng thông qua một tập hợp những thuộc tính. Đã bắ đầu mang tính
khái quát và gián tiếp. Biểu tượng có vai trò là khâu trung gian giữa trực quan
sinh động và tư duy trừu tượng.
Nhận thức lý tính là giai đoạn cao của quá trình nhận thức dựa trên cơ
sở những tài liệu trực quan sinh động đem lại. Tư duy trừu tượng cũng phản
ánh hiện thực, nhưng sự phản ánh gián tiếp và khái quát, và do vậy sâu sắc
hơn, chính xác hơn và đầy đủ hơn với các hình thức cơ bản nha: Khái niệm,
phán đoán và suy lý.
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận – Những trình độ
khác nhau của nhận thức khoa học:
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
6
Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận không đồng nhất với nhận
thức cảm tính và nhận thức lý tính. Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý
luận đều là sự tổng hợp của hai yếu tố cảm tính và lý tính.
Kinh nghiệm là những tri thực được chủ thể thu nhận trực tiếp trong
bàn tay con người, và cũng chính tự nhiên quyết định cho con người những
trình tự tất yếu để trong quá trình tồn tại, con người tự bổ sung, hoàn thiện
cách thức cải tạo tự nhiên. Lý luận luôn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo
ra sự liên kết gắn bó giữa chủ thể tự nhiên và chủ thể nhận thức. Lý luận cũng
có quá trình hình thành và phát triển của nó, không phải lý luận có khi con
người xuất hiện, mà con người phải phát triển đến một giai đoạn nhất định
nào đó lý luận mới được xuất hiện. Lý luận không phải sinh ra vốn đã hoàn
thiện mà nó được bổ sung và hoàn thiện dần dần theo tiến trình phát triển của
lịch sử xã hội. Hay nói cách khác, lý luận mang tính lịch sử xã hội, có những
lý luận đúng ở quá khứ nhưng ở hiện tại và tương lai nó không còn phù hợp
nữa.
1.2. Phạm trù thực tiễn.
1.2.1. Khái niệm thực tiễn.
Phạm trù thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản của
triết học Mác– Lênin nói chung và của lý luận nhận thức Macxit nói riêng.
Trong lịch sử triết học không phải mọi trào lưu đều đưa ra quan niệm đúng
đắn về phạm trù này. Các nhà triết học duy vật trước Mác không thấy được
vai trò của hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của
họ mang tính chất trực quan. Các nhà triết học duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu
tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ hiểu họat động thực tiễn như là hoạt
động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn tại đâu đó ngoài con
người, nói cách khác, họ gạt bỏ vai trò thực tiễn trong đời sống xã hội.
Mác- Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục
những hạn chế trong quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và
đưa ra quan điểm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối
với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác- Ăngghen đã thực hiện
Tiểu luận triết học
xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và nhờ đó con người tạo nên những
vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên. Như vậy, không có hoạt động thưc
tiễn con người và xã hội không thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy có thể
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
9
nói: Thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là
phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới.
Mỗi hoạt động của con người đều mang tính lịch sử cụ thể. Nó chỉ diễn ra
trong một giai đoạn nhất định nào đó. Nó có quá trình hình thành phát triển và
kết thúc hoặc chuyển hoá sang giai đoạn khác, không có hoạt động thực tiễn
nào tồn tại vĩnh viễn. Mặt khác, hoạt động thực tiễn chịu sự chi phối của mỗi
giai đoạn lịch sử cả về đối tuợng, phương tiện cũng như mục đích hoạt động.
Hoạt động thực tiễn mặc dù phải thông qua từng cá nhân, từng nhóm
người nhưng hoạt động thực tiễn của từng cá nhân, từng nhóm người lại
không thể tách rời quan hệ xã hội. Xã hội quy định mục đích, đối tượng
phương tiện và lực lượng trong hoạt động thực tiễn. Do đó hoạt động thực
tiễn của con người mang tính xã hội sâu sắc, được thực hiện trong cộng đồng,
vì cộng đồng và do cộng đồng.
Hoạt động thực tiễn mang tính tất yếu, nhưng tất yếu đã có nhận thức, đã
có ý thức. Đó là ý thức về kết quả, ý thức về phương pháp, ý thức về đối
tượng…, đặc biệt là ý thức về mục đích của quá trình hoạt động. Mục đích của
hoạt động thực tiễn là nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của cá nhân
và xã hội, nhằm cải biến tự nhiên và xã hội. Mỗi hoạt động đều có mục đích
khác nhau để giải quyết nhu cầu cụ thể, không có hoạt động nào không có mục
biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội, như đấu tranh
giai cấp, đấu tranh giải phóng dân tộc, đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới vì
sự tiến bộ xã hội loài người, đấu tranh chống ô nhiễm môi trường bảo vệ cân
bằng sinh thái, đấu tranh chống các thảm họa do các dịch bệnh gây ra.
Hoat động chính trị-xã hội là hoạt động giúp cho con người có điều
kiện để phát huy hết khả năng sáng tạo của mình góp phần vào sự phát triển
chung của nhân loại và nếu không có các dạng hoạt động này thì sẽ không
làm thay đổi các quan hệ xã hội và như vậy sẽ không thúc đẩy xã hội phát
triển được.
Hoạt động thực nghiệm khoa học: là hoạt động của các ngành khoa học
tác động làm cải biến những đối tượng nhất định trong một điều kiện nhất
định, theo một mục đích nghiên cứu nhất định, đây là dạng đặc biệt của hoạt
động thực tiễn bởi vì nó được tiến hành trong những điều kiện nhân tạo nhằm
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
11
tạo những luận cứ khoa học và để phục vụ cho hoạt động nhận thức và hoạt
động làm biến đổi giới tự nhiên, xã hội của con người.
Ngoài các hoạt động thực tiễn cơ bản nêu trên, còn có các hoạt động
phát sinh trong các lĩnh vực đạo đức, nghệ thuật, y tế, giáo dục,…các loại
hoạt động này nảy sinh trong quá trình phát triển của lịch sử xã hội loài
người, có tác dụng bổ sung làm phong phú thêm những dạng hoạt động thực
tiễn của con người.
Như vậy mỗi hình thức hoạt động cơ bản có một chức năng quan trọng
khác nhau, không thể thay thế được cho nhau. Song giữa chúng có mối quan
thực tiễn luôn luôn giữ vai trò quyết định .Sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn bắt nguồn từ mối quan hệ giữa con người và thế giới khách quan. Con
người luôn tác động tích cực vào thế giới khách quan, tự nhiên và xã hội, cải
biến thế giới khách quan bằng thực tiễn. Trong quá trình đó sự phát triển nhận
thức của con người và sự biến đổi thế giới khách quan là hai mặt thống nhất.
Điều đó quy định sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn trong
hoạt động sinh tồn của cá nhân và cộng đồng.
Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận; lý
luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của
thực tiễn.
Thực tiễn là cơ sở của lý luận. Xét một cách trực tiếp, những tri thức
được khái quát thành lý luận là kết quả của quá trình hoạt động thực tiễn của
con người. Thông qua kết quả hoạt động thực tiễn, kể cả thành công cũng như
thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các mối quan hệ của các
yếu tố, các điều kiện trong các hình thức thực tiễn để hình thành lý luận. Qúa
trình hoạt động thực tiễn còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận
đã đựơc khái quát. Mặt khác, hoạt động thực tiễn của con người làm nảy sinh
những vấn đề mới đòi hỏi quá trình nhận thức phải tiếp tục giải quyết. Thông
qua đó, lý luận được bổ sung, mở rộng.
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
13
Thực tiễn là động lực của lý luận. Hoạt động của con người không chỉ là
nguồn gốc để hoàn thiện các cá nhân mà còn góp phần hoàn thiện các mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên, với xã hội. Lý luận được vận dụng làm
14
chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh bổ sung hoặc nhận thức lại giá
trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn.
Tuy thực tiễn là tiêu chẩn chân lý của lý luận nhưng không phải mọi
thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý
luận khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là
thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hoá. Đó
là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác
nhau. Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của
thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn. Do đó, chỉ những lý luận nào phản
ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý.
Tuy xét đến cùng thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý duy nhất của lý luận,
nhưng vì thực tiễn luôn vận động và phát triển, đồng thời thực tiễn cũng rất
phong phú và đa dạng, do đó ngoài tiêu chuẩn thực tiễn còn có thể có những
tiêu chuẩn khác như tiêu chuẩn lôgíc, tiêu chuẩn giá trị…Song các tiêu chuẩn
đó vẫn phải trên nền tảng của thực tiễn. Chính vì vậy chúng ta có thể nói khái
quát thực tiễn là tiêu chuẩn của lý luận.
Lý luận hình thành và phát triển được xuất phát từ thực tế và đáp ứng
nhu cầu thực tiễn
Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình
thành lý luận. Đó không chỉ là sự tổng kết, khái quát từ lịch sử nhận thức mà
còn từ nhu cầu của thực tiễn. Thực tiễn phong phú đa dạng, luôn vận động và
biến đổi, nhưng để hình thành lý luận, trước hết lý luận phải đáp ứng thực
tiễn. Con người nhận thúc hiện thực khách quan để giải quyết những vấn đề
con người quan tâm. Năng lực của con người ngày càng được nâng cao chính
nhờ khả năng thông qua hoạt động phản ánh, khái quát thành tri thức lý luận.
Trong sự vô cùng, vô tận của hiện thực khách quan, con người không hề
choáng ngợp mà bằng mọi biện pháp để nhận thức. Loài người có khả năng
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định
hướng mục tiêu xác định lực lượng biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo
được khả năng phát triển cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo
được những rủi ro có thể xảy ra, những hạn chế những thất bại có thế có trong
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
16
quá trình hoạt động. Như vậy lý luận không chỉ giúp con người hoạt động
hiệu quả mà còn là cơ sở để khắc phục những hạn chế và tăng năng lực hoạt
động của con người. Mặt khác lý luận còn có vai trò giác ngộ mục tiêu, lý
tưởng liên kết các cá nhân thành cộng đồng, tạo thành sức mạnh to lớn của
quần chúng trong cải taọ tự nhiên và cải tạo xã hội. Chính vì vậy, C.Mác đã
khẳng định “ Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự
phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ lực lượng vật
chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm
nhập vào quần chúng”.
Mặc dù lý luận mang tính khái quát cao song nó còn có tính lịch sử, cụ
thể. Do đó khi vận dụng lý luận chúng ta cần phân tích một cách cụ thể mỗi
tình hình cụ thể. Nếu vận dụng máy móc giáo điều, kinh viện thì chẳng những
hiểu sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch
sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của nhận thức lâu dài và khó khăn của con
người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy đa dạng phong
phú nhưng không phải không có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn
được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là
tính độc lập của lý luận chỉ là tương đối, lý luận cách mạng không phải hoàn
toàn là thực tiễn cách mạng, tuy nhiên do lý luận được sinh ra bởi các nhu cầu
của thực tiễn xã hội nên lý luận cách mạng trở thành một bộ phận của thực
tiễn xã hội.
Tóm lại, quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là một quá trình mang tính lịch
sử xã hội cụ thể. Đây là quan hệ thống nhất biện chứng nắm bắt được tính biện
chứng của quá trình đó là tiền đề quan trọng bậc nhất giúp chúng ta có một lập
trường thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng ,máy móc và lý luận
suông.
2.2. Ý nghĩa phương pháp luận của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
nhận thức.
Trong Triết học Macxit và trong chủ nghĩa Mac-Lênin, sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn như một thuộc tính vốn có, một đòi hỏi nội tại.
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
18
Nguyên tắc này có ý nghĩa to lớn rong việc nhận thức khoa học và hoạt động
thực tiễn.
Hoạt động lý luận và hoạt động thực tiễn thống nhất với nhau dưới nhiều
hình thức và trình độ biểu hiện khác nhau. Lý luận bắt nguồn từ thực tiễn,
phản ánh (khái quát) những vấn đề của đời sống sinh động. Nhưng thước đo
tính cao thấp của lý luận với thực tiễn biểu hiện trước hết ở chỗ lý luận đó
phải hướng hẳn về đời sống hiện thực, để giải quyết những vấn đề do chính sự
phát triển của thực tiễn đặt ra, và như vậy, lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn
phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý
để đề xuất lý luận thì sẽ rơi vào lối suy nghĩ giản đơn, tư duy áng chừng, đại
khái, phiến diện thiếu tính lô gic, tính hệ thống, do đó, trong hoạt động thực
tiễn thì mò mẫm, tuỳ tiện, thiếu tính đồng bộ về lý luận trong tất cả các lĩnh
vực. Để khắc phục bệnh này thì không được rời xa thực tiễn, phải bám sát
thực tiễn, phải tăng cường học tập, nâng cao trình độ lý luận, bổ sung lý luận
thường xuyên để đáp ứng được với sự thay đổi của thực tiễn.
Mặt khác, thái độ thực sự coi trọng lý luận đòi hỏi phải ngăn ngừa bệnh
giáo điều. Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu vai trò lý
luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử
cụ thể, áp dụng kinh nghiệm một cách rập khuôn máy móc. Nguyên nhân của
bệnh giáo điều là do hiểu lý luận một cách nông cạn, chưa nắm được bản chất
của lý luận, vận dụng lý luận chưa được kiểm nghiệm qua thực tiễn nên chỉ là
những lý luận thuần túy. Và mọt sách, sính lý luận đã thành đường mòn trong
những cán bộ do vận dụng sai lý luận vào thực tiễn, chỉ thấy cái chung mà
không thấy cái riêng, cái cụ thể. Đây là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ hàng
loạt của các nước xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô cũ và Đông Âu. Để khắc phục
bệnh giáo điều, cần quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn. Lý luận luôn gắn với thực tiễn và phải vận dụng lý luận một cách
sáng tạo vào thực tiễn, kiểm tra trong thực tiễn và không ngừng phát triển
trong thực tiễn.
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
20
CHƯƠNG 3
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA
21
Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không
hề coi nhẹ lý luận. Quá trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nâng
cao trình độ lý luận của mình, cố gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý
luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nó
được thể hiện qua năm bước chuyển của đổi mới tư duy phù hợp với sự vận
động của thực tiễn cuộc sống trong những hoàn cảnh và điều kiện mới
Thứ nhất: Từ tư duy, dựa trên mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối
hoá sở hữu xã hội (Nhà nước và tập thể) với sự phát triển vượt trước của quan
hệ sản xuất đối với sự phát triền của lực lượng sản xuất dẫn tới hậu quả kìm
hãm sự phát triển sản xuất… sang tư duy mới. Xây dựng nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự
thống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các
hình thức phân phối, lấy phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếu nhằm
thúc đẩy sản xuất phát triển. Đây chính là bước chuyển căn bản mà có ý nghĩa
sâu xa vì nó là tôn trọng quy luật khách quan về sự phù hợp giữa quan hệ sản
xuất và lực lượng sản xuất; tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của lực lượng sản
xuất mà từng bước thiết lập quan hệ sản xuất cho phù hợp .
Thứ hai: Từ tư duy quản lý dựa trên mô hình một nền kinh tế chỉ huy
tập trung, kế hoạch hoá tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân sang tư duy
quản lý mới thích ứng với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành
theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội
Chủ nghĩa
Thứ ba là tiến hành đổi mới hệ thống chính trị, từ chế độ tập trung
quan liêu với phương thức quản lý hành chính mệnh lệnh sang dân chủ hoá
các lĩnh vực của đời sống xã hội, thực hiện dân chủ toàn diện.
Thứ tư: Đổi mới quan niệm về sự hình thành và phát triển của chủ
nghĩa xã hội ở một nước phải xuất phát từ chủ nghĩa Mác – Lê nin trong điều
triển kinh tế xã hội nước ta hiện nay. Điều đó còn cho thấy rằng chỉ có gắn lý
luận với thực tiễn mới có thể hành động đúng đắn và phù hợp với quá trình
đổi mới ở nước ta hiện nay. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và
làm cơ sở cho sự đổi mới trong hoạt động thực tiễn. Thực tiễn chính là động
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT
23
lực, là cơ sở của nhận thức, lý luận. Vì thế phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt
tình cách mạng và tri thức khoa học bởi tri thức khoa học có được hay không
là nhờ ở lòng ham hiểu biết, trí thông minh, ý chí ngược lại nếu tri thức khoa
học phát huy được tác dụng trong thực tiễn thì nó lại trở thành động lực tăng
thêm tri thức, nhận thức. Sự kết hợp xuất phát từ thực tế khách quan và phát
huy nỗ lực chủ quan không những đem lại hiệu quả cao trong sự phát triển
nhận thức mà còn giúp cho lý luận không bao giờ xa rời thực tiễn cuộc sống.
Nắm bắt và vận dụng được có hiệu quả các quy luật tất yếu khách quan để
hoạt động và đem nó vào thực tiễn để kiểm nghiệm là một phương tâm chủ
đạo trong công cuộc đổi mới hiện nay. Chỉ có dám nghĩ, dám làm kết hợp với
tri thức khoa học được trang bị, chúng ta mới thành công được. Đặc biệt là
trong lĩnh vực kinh tế, nắm bắt quy luật kinh tế, quy luật sản xuất lại càng cần
thiết để cải tạo thực tiễn, tạo ra phương hướng`và mục tiêu đúng đắn phát
triển đi lên. Chỉ có thế nước ta mới theo kịp được trình độ phát triển kinh tế
chung của khu vực và trên thế giới.
Tiểu luận triết học
trị quốc gia Hà Nội.
[2]. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học Mác – Lênin(2005), Nxb
Chính trị quốc gia Hà Nội
[3]. Từ điển triết học(1986), Nxb Tiến bộ Matxcơva.
[4]. C.Mác – Ăngghen(1995), Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG Hà Nội.
[5]. VI. Lênin(1980), Toàn tập, tập 18, Nxb Tiến bộ Mátxcơva.
Tiểu luận triết học
Nguyễn Hồng Thái - K16 Toán GT