BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC
ĐỀ TÀI:
NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN CỦA TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
Giảng viên hướng : TS. Lê Thị Hằng
dẫn
Học
viên
thực : Nguyễn Xuân Trường
hiện
Lớp
: HC 20 – B1
Niên khóa
: 2015 – 2017
Hà Nội, 12 – 2015
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
Xuân Trường
GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Các khái niệm cơ bản
1.1. Thực tiễn
Thực tiễn là một trong những phạm trù nền tảng, cơ bản
không chỉ của lý luận nhận thức mácxít mà còn của toàn bộ
triết học Mác – Lênin nói chung.
Theo triết học Mác – Lênin, thực tiễn là toàn bộ hoạt động
vật chất có mục đích mang tính chất lịch sử - xã hội của con
người nhằm cải tạo tự nhiên, xã hội và bản thân con người [1,
tr. 358].
Có thể thấy, hoạt động thực tiễn là hoạt động đặc trưng và
bản chất của con người, được thực hiện một cách tất yếu khách
quan và được tiến hành trong các quan hệ xã hội, là hoạt động
mang tính năng động, sáng tạo, là phương thức tồn tại cơ bản
của con người và xã hội loài người.
1.2. Lý luận
Cùng với thực tiễn, lý luận là một trong những phạm trù cơ
bản, nền tảng không chỉ của triết học Mác – Lênin nói riêng mà
của cả nền triết học nói chung. Có nhiều khái niệm khác nhau
về lý luận, ví dụ như:
Lý luận là kinh nghiệm đã được khái quát trong ý thức của
con người, là toàn bộ tri thức về thế giới khách quan, là hệ
thống tương đối độc lập của các tri thức có tác dụng tái hiện
trong lôgic của các khái niệm, cái lôgic khách quan của các sự
vật [6, tr. 242 – 243].
5
6
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
công và thất bại, con người phân tích cấu trúc, tính chất và các
mối quan hệ của các yếu tố, các điều kiện trong các hình thức
thực tiễn để hình thành lý luận. Quá trình hoạt động thực tiễn
còn là cơ sở để bổ sung và điều chỉnh những lý luận đã được
khái quát [1, tr.363].
Ví dụ thực tế:
1. Trong ca dao, tục ngữ Việt Nam có nhiều câu nói thể
hiện thực tiễn là cơ sở của lý luận, ví dụ như: Được màu lúa, úa
mùa cau; khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen; chuồn chuồn bay
thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm; nắng tháng
Tám dám trái hồng.
Có thể thấy, các tổng kết, đúc kết trong đó có được đều là
do quá trình quan sát thực tế, quá trình sản xuất lao động và
sinh hoạt trong hàng trăm, hàng nghìn năm của ông cha ta mà
đưa ra.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh sau quá trình bôn ba tìm đường cứu
nước, qua quá trình học tập, tìm hiểu và nghiên cứu về các
phong trào cách mạng trên thế giới cũng như phong trào giải
phóng dân tộc ở Việt Nam đã đi đến kết luận: Muốn giải phóng
dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách
mạng vô sản.
Qua những ví dụ trên có thể thấy, rõ ràng rằng mọi lý luận
mà con người đưa ra đều bắt nguồn từ thực tiễn, hiện thực
khách quan, hay nói khác đi, thực tiễn chính là cơ sở của lý
luận, chính trong thực tiễn chúng ta tìm thấy và đưa ra được lý
mới phát triển nông nghiệp mà từ năm 1989 trở đi đã có đủ
lương thực tiêu dùng trong nước và có một phần xuất khẩu mỗi
năm 1 – 1,5 triệu tấn gạo. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thanh
phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà
nước từng bước được hình thành.
8
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
Qua ví dụ trên có thể thấy, có thể thấy chính thực tiễn đã
thúc đẩy sự thay đổi, phát triển của lý luận cho phù hợp với
thực tế, hay nói khác đi, thực tiễn chính là động lực của lý luận.
2. Dưới thời thực dân thực Pháp thống trị, cuộc sống của
dân nhân ta vô cùng cực khổ, nền kinh tế đất nước kiệt quệ,
các mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt. Chính thực tế này đã đưa
đến các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, mà đỉnh cao
sau này là thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa
đến sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà
nước công nông đầu tiên của khu vực Đông Nam Á, cùng với đó
là sự hình thành và phát triển của hệ thống lý luận về đấu tranh
giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa, về đầu tranh dành và
bảo vệ chính quyền cách mạng...... Qua ví dụ này, một lần nữa
thấy được rằng thực tiễn chính là động lực của lý luận.
2.1.3. Thực tiễn là mục đích của lý luận
Có thể thấy, trong quá trình hoạt động thực tiễn, trí tuệ
con người được phát triển, được nâng cao dần cho đến lúc có lý
luận, khoa học. Nhưng bản thân lý luận không có mục đích tự
thân. Lý luận khoa học ra đời vì chúng cần thiết cho hoạt động
cải tạo tự nhiên và xã hội. Hay nói một cách khác, thực tiễn là
phương pháp của lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con
người. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm
nghiệm. Thông qua thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ
được bổ sung vào kho tàng trí thức nhân loại, những kết luận
nào chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung
hoặc nhận thức lại. Giá trị của lý luận nhất thiết phải được
chứng minh trong hoạt động thực tiễn [1, tr. 365].
Ví dụ thực tế:
10
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
1. Sau nhiều năm quan sát thiên văn thông qua kính thiên
văn, Ga-li-lê đã phát hiện ra Trái đất quay xung quanh Mặt trời
và đồng thời tự quay quanh trục của nó. Ngày nay, với sự phát
triển của khoa học – công nghệ và kỹ thuật, con người tiếp tục
đi sâu nghiên cứu, quan sát thiên văn nói chung, Mặt trời nói
riêng và tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của kết luận mà Gali-lê đã đưa ra. Do đó, Trái đất quay quanh Mặt trời và tự quay
quanh trục của nó là một chân lý.
2. Khẳng định: Mặt trời mọc ở đằng đông và lặn ở đằng tây
là một chân lý.
3. Qua tìm hiểu lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ
nước của cha ông ta, cũng như trải qua nhiều năm bôn ba tìm
đường cứu nước và chỉ đạo cách mạng giải phóng dân tộc Việt
Nam, Hồ Chí Minh đã đi đến khẳng định chân lý: Không có gì
quý hơn độc lập, tự do.
2.2. Vai trò tác động trở lại của lý luận đối với thực tiễn
Lý luận có thể thúc đẩy tiến trình phát triển của thực tiễn
nhưng cuối cùng đều đi đến thất bại.
2. Trong khi đó, Hồ Chí Minh đã tìm được hệ thống lý luận
khoa học, đúng đắn cho cách mạng Việt Nam đó là đi theo con
đường cách mạng vô sản, đi theo chủ nghĩa Mác – Lênin. Chính
hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin đã chỉ ra được mâu
thuẫn cơ bản trong xã hội nước ta lúc bây giờ là mâu thuẫn dân
tộc giữa các tầng lớp nhân yêu nước nước và thực dân Pháp
thống trị, đồng thời chỉ ra được lực lưỡng lãnh đạo đối với cách
mạng đó là liên minh giai cấp công – nông, hai lực lượng giai
cấp đông đảo nhất trong xã hội Việt Nam. Chính nhờ có hệ
thống lý luận cách mạng khoa học, cách mạng Việt Nam dưới
sự dẫn dắt trực tiếp của Hồ Chí Minh đã đi từ thắng lợi này đến
thắng lợi khác mà trước hết là thắng lợi lịch sự tháng Tám năm
1945, đưa đến sự ra đời của nhà nước Việt Nam dân chủ cộng
12
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
hòa. Đây chính là một ví dụ sinh động nhất về vai trò soi đường,
chỉ lối của lý luận khoa học đối với thực tiễn.
2.3. Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
Theo quan điểm mácxít, lý luận và thực tiễn không tách rời
nhau mà giữa chúng có sự liên hệ, xâm nhập và tạo điều kiện
cho nhau cùng phát triển. Sự thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn là nguyên tắc căn bản của triết học Mác – Lênin.
Chủ nghĩa Mác – Lênin là tiêu biểu cho sự gắn bó mật thiết
giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình hình thành và phát
triển của nó. Lý luận Mác – Lênin là sự khái quát thực tiễn cách
mạng và lịch sử xã hội, là sự đúc kết những tri thức kinh
cứu lý luận phải liên hệ với thực tiễn, học đi đôi với hành, tránh
tình trạng quan liêu, bàn giấy, sách vở, xa rời thực tiễn [7].
Ví dụ thực tế:
Trên cơ sở quan điểm thực tiễn, Đảng ta hết sức coi trọng
công tác tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển hệ thống lý
luận mà biểu hiện sinh động, trực quan nhất đó là trong các văn
kiện của các kỳ Đại hội Đảng, Đảng ta luôn có những đánh giá
tổng kết thực tiễn triển khai các nghị quyết của Đại hội trước
đó, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm làm cơ sở đưa ra
những sự chỉ đạo mới trong thời kỳ mới. Ví dụ: Văn kiện Đại hội
VI của Đảng đã xác định Đảng phải luôn luôn xuất phát từ thực
tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan.
Tại Đại hội VII Đảng ta đã thông qua những đặc điểm cơ
bản của chủ nghĩa xã hội nước ta và khẳng định: Con đường đi
lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ
qua chế đội tư bản chủ nghĩa, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí
thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng của
chủ nghĩa tư bản, nhưng tiếp thu kế thừa những thành tựu mà
14
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về
khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất,
xây dựng nền kinh tế hiện đại [3, tr. 84].
Hội nghị lần 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
đánh giá: Công tác lý luận chưa theo kịp sự phát triển và yêu
cầu của cách mạng, đồng thời nhấn mạnh: Đẩy mạnh tổng kết
tiễn của thời đại [1, tr. 373].
3.3. Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều
Nếu coi thường thực tiễn và tách rời lý luận với thực tiễn
thì sẽ dẫn đến sai lầm của bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều.
Bệnh kinh nghiệm: Là căn bệnh tuyệt đối hóa kinh
nghiệm, nhận thức và hành động chỉ dựa vào kinh nghiệm, đề
cao vai trò thực tiễn, hạ thấp lý luận, không chịu học hỏi để
vươn lên, không coi trọng việc tổng kết thực tiễn để khái quát
thành lý luận. Thể hiện ở chỗ tuyệt đối hoá kinh nghiệm, coi
thường lý luận, “chỉ biết tối ngày vùi đầu vào công tác sự vụ”, ít
đào sâu suy nghĩ, nhất là đối với những người trình độ văn hoá
kém, ít quen đọc sách và suy nghĩ, áp dụng kinh nghiệm một
cách thiếu sáng tạo [7].
Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, một mặt
phải quán triệt sâu sắc nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăng cường học tập nâng
cao trình độ lý luận, bổ sung, vận dụng lý luận phù hợp với thực
tiễn. Mặt khác, phải hoàn thiện cơ chế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa [1, tr. 377].
Bệnh giáo điều: Là căn bệnh tuyệt đối hóa lý luận, nhận
thức và hành động chỉ dựa vào lý luận, coi lý luận là "chìa khóa
vạn năng" cho tư duy và hành động, bất chấp điều kiện, hoàn
cảnh cụ thể. Thể hiện ở chỗ: Coi tri thức là chân lý tuyệt đối, là
cứng nhắc, tách lý luận khỏi thực tiễn, rơi vào bệnh lý luận
16
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
Những cống hiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lênin cả về lý
luận và thực tiễn đã góp phần làm cho hệ thống lý luận của Mác,
Ăngghen ngày càng hoàn chỉnh. Chủ nghĩa Mác – Lênin không chỉ
giải thích về mặt lý luận, mà còn vạch ra con đường, những
phương tiện cải tạo thế giới bằng thực tiễn trên cơ sở lý luận. Đó
là mối liên hệ hữu cơ, biện chứng giữa lý luận cách mạng và thực
tiễn cách mạng [9].
Ở khía cạnh nào đó, thì trong thực tiễn cũng có lý luận và
ngược lại trong lý luận cũng có thực tiễn. Quan niệm về mối
quan hệ giữa lý luận và thực tiễn chiếm một vị trí quan trọng
trong lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác – Lênin, và trong mối
quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, thì thực tiễn là cái luôn giữ
vai trò quyết định; còn lý luận có tính độc lập tương đối của nó.
Điều này có nghĩa là: Sự hình thành và phát triển của lý luận
một mặt, bị quy định bởi thực tiễn lịch sử xã hội, mặt khác lại
phụ thuộc vào sự tác động của các yếu tố bên trong của nó.
Như vậy, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn còn có sự
tác động qua lại và bổ trợ cho nhau. Sự thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn còn được hiểu theo cách phù hợp và tương thích
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
cũng như tính điều kiện cần và đủ. Tuy nhiên, sự phù hợp giữa
lý luận và thực tiễn lại mang tính chất vận động, phát triển liên
tục tương hỗ, bảo trợ giữa thực tiễn và lý luận.
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
Tiểu luận Triết học – GVHD: TS. Lê Thị Hằng – HVTH: Nguyễn
Xuân Trường
, truy cập ngày 31/12/2015.
[9]. Từ lý luận và thực tiễn đến phương châm “Nói đi đôi với
làm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
<http://tennguoidepnhat.net/2014/11/23/tu-ly-luan-va-thuctien-den-phuong-cham-noi-di-doi-voi-lam-cua-chu-tich-ho-chiminh/>, truy cập ngày 31/12/2015.