LUẬN văn THẠC sĩ vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở trường sĩ quan lục quân 2 - Pdf 52

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc tất yếu, mang
tính quy luật của hoạt động thực tiễn xã hội, của sự vận động lịch sử và sự
phát triển nhân loại. Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra nguyên tắc phải thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn để chống bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều. Hồ
Chí Minh khẳng định “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc
căn bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì
thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không có liên hệ với thực tiễn là lý
luận suông” [49, tr.496]. Cả chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
đều xác định rõ vai trò của nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn.
Giảng dạy các môn KHXH&NV là một bộ phận rất cơ bản trong chương
trình giáo dục - đào tạo ở TSQLQ2 nhằm trang bị thế giới quan, phương pháp
luận khoa học, hình thành niềm tin, lý tưởng cộng sản, xây dựng đội ngũ sĩ
quan đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị
làm cơ sở xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện. Nhà trường luôn quán triệt
các quan điểm, phương châm, nguyên tắc dạy học của Đảng, Nhà nước, quán
triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng “Chuyển
mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện
năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực
tiễn” [20, tr. 114]. Chất lượng giảng dạy các môn KHXH&NV đáp ứng mục
tiêu, yêu cầu đào tạo,tuy nhiên trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng quân đội
trong tình hình mới, đòi hỏi quá trình giảng dạy không chỉ trang bị kiến thức
mà còn phải kết hợp bồi dưỡng kiến thức, năng lực tư duy với năng lực thực
hành. Nhà trường đã tiến hành đổi mới mạnh mẽ, toàn diện trên tất cả các khâu,
các bước của quá trình giáo dục - đào tạo, nghiên cứu, bổ sung, phát triển và
hoàn thiện nhằm nâng cao chất lượng vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn. Đây là một trong những yêu cầu cấp thiết góp phần giải quyết
mâu thuẫn giữa lý luận giáo dục với thực tiễn giáo dục, là nhân tố quan trọng
góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở TSQLQ2.

quan tâm nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau. Giảng dạy các môn
2


KHXH&NV là một vấn đề mang tính lý luận – thực tiễn cao, gắn với nhiều tổ
chức, lực lượng và từng đối tượng cụ thể. Thời gian gần đây đã có nhiều công
trình khoa học, đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
*Công trình tiêu biểuliên quan đến mối quan hệ giữa lý luận và thực
tiễn:Lê Xuân Lựu “Liên hệ giữa lý luận và thực tiễn trong dạy và học” [43],
tác giả bài viết đã chỉ ra phương châm căn bản, chủ yếu nhất là gắn lý luận với
thực tiễn trong dạy học; chỉ ra quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
Theo tác giả hoạt động dạy phải gắn lý luận với thực tiễn, tri thức khoa học với
kinh nghiệm, người học phải đóng vai trò là chủ thể trong quá trình tiếp nhận
tri thức, hình thành kỹ năng nghề nghiệp và rèn luyện phẩm chất đạo đức, tác
phong công tác; quá trình dạy học ở nhà trường phải hình thành ở người học
khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn.
* Trong mối quan hệ giữa tư duy lý luận và hoạt động thực tiễn có các
công trình:Lê Linh “Cần có phương pháp tư duy khoa học, đề cao tự phê bình
nói đi đôi với làm”[42], trong bài viết nàyđã làm rõ vị trí, vai trò của phương
pháp tư duy khoa học trong xem xét và giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt
ra. Chỉ ra sự cần thiết phải rèn luyện thói quen lật đi lật lại vấn đề, nêu cao tự
phê bình và phê bình; nói đi đôi với làm; đồng thời chỉ rõ đội ngũ cán bộ ta còn
chủ quan, phiến diện, phong cách làm việc còn nhiều dấu ấn phong kiến. Do
vậy, cần phải được thay thế bằng phương pháp tư duy biện chứng.
Tác giả Vi Thái Lang“Về mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực
tiễn”[30], đã khẳng định quan hệ giữa lý luận và thực tiễn là quan hệ biện
chứng và là một quá trình mang tính lịch sử - xã hội. Việc nắm bắt tính biện
chứng của mối quan hệ đó là tiền đề quan trọng giúp chúng ta có một quan
điểm thực tiễn sáng suốt, tránh được chủ nghĩa thực dụng, giáo điều, máy
móc và bệnh lý luận suông. Mặc dù vậy thì bài viết này chỉ đề cập chung đến

các môn khoa học xã hội và nhân văn của học viên ở TSQLQ2, bên cạnh đó
tác giả còn khái quát tình hình và thực trạng hoạt động học tập và quản lý hoạt
4


động học tập đồng thời đề ra các giải pháp quản lý hoạt động học tập các môn
khoa học xã hội và nhân văn của học viên ở TSQLQ2 hiện nay.
Đề tàicủa tác giả Nguyễn Văn Thạo “Kết hợp tính định hướng chính trị
với tính khoa học trong giảng dạy các môn lý luận chính trị ở TSQLQ2 hiện
nay”[34], tác giả đã làm rõ tính định hướng chính trị và tính khoa học trong
giảng dạy các môn lý luận chính trị, từ đó chỉ rõ cơ sở khách quan khoa học và
nội dung cơ bản của của sự kết hợp, đề ra những giải pháp cơ bản nhằm kết
hợp tính định hướng chính trị với tính khoa học trong giảng dạy các môn lý
luận chính trị ở trường SQLQ2 hiện nay. Nguyễn Đức Kim “Những vấn đề có
tính quy luật trong nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị cho học viên
đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở TSQLQ2 hiện nay”[28], tác giả đã chỉ ra thực
chất và tính quy luật trong nâng cao hiệu quả giáo dục lý luận chính trị, nêu lên
thực trạng nhận thức và vận dụng những vấn đề có tính quy luật trong nâng cao
hiệu quả giáo dục lý luận chính trị đồng thời đề ra các giải pháp chủ yếu trên cơ
sở nhận thức và vận dụng tính quy luật trong nâng cao hiệu quả giáo dục lý
luận chính trị cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở TSQLQ2.
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập nhiều đến việc nâng cao
chất lượng giáo dục, quản lý, giảng dạy các môn KHXH&NVcho các đối
tượng, đặc biệt là các đối tượng trong môi trường quân sự. Một số đề tài đã
nghiên cứu về quy trình, phương pháp đánh giá chất lượng học tập các môn
KHXH&NV, đổi mới phương pháp giảng dạy các môn KHXH&NV. Mỗi công
trình đều chọn đối tượng, phương pháp nghiên cứu riêng, và đã có những đóng
góp nhất định về lý luận và thực tiễn xung quanh vấn đề giảng dạy các môn
KHXH&NV trong quân đội. Đó là những đóng góp khoa học trên một số vấn
đề về lý luận và thực tiễn mà tác giả đề tài đã tham khảo, kế thừa trong nghiên

5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Dựa trên hệ thống những quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
giáo dục đào tạo nói chung và giảng dạy các môn KHXH&NV nói riêng.
* Cơ sở thực tiễn
Đề tài dựa trên thực tiễn vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và
thực tiễn trong giảng dạy các môn KHXH&NV ở TSQLQ2. Tài liệu báo cáo

6


tổng kết, rút kinh nghiệm của Nhà trường; kết quả điều tra, khảo sát của tác
giả ở TSQLQ2 về vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
trong giảng dạy các môn KHXH&NV.
* Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp như: lịch sử và lôgíc;
phân tích và tổng hợp; quy nạp và diễn dịch; điều tra xã hội học, phương pháp
tổng kết kinh nghiệm, và phương pháp chuyên gia…
6. Ý nghĩa của của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở khoa học giúp
các cơ quan, đơn vị trong Nhà trường vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý
luận và thực tiễn trong giảng dạy các môn KHXH&NV, đáp ứng yêu cầu nâng
cao chất lượng giáo dục – đào tạo trong tình hình mới. Luận văn có thể sử
dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, giảng dạy trong các nhà trường quân
đội.
7. Kết cấu của luận văn
Đề tài gồm:Mở đầu, 2 chương (4 tiết), kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục.

mácxít, của toàn bộ lý luận chủ nghĩa Mác. Thực tiễnlà toàn bộ hoạt động vật
chất có mục đích, mang tính lịch sử - xã hội của con người nhằm cải biến tự
nhiên, xã hội và tư duy. Trong hoạt động thực tiễn, con người sử dụng các

8


phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất tác động cải tạo tự nhiên, xã
hội, làm biến đổi bản thân sự vật, đáp ứng nhu cầu của mình, cũng từ đó làm
cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật trong nhận thức. Hoạt động thực tiễn là
hoạt động mang bản chất người, hoạt động đặc trưng của con người. Do vậy,
thực tiễn có tính năng động, sáng tạo, là quá trình không ngừng của sự chuyển
hóa giữa tinh thần và vật chất.
Lý luận và thực tiễn trên thực tế là một thể thống nhất giữa hai mặt cơ bản
trong quá trình hoạt động cải tạo thế giới của con người. Lý luận và thực tiễn
trong một quá trình vừa tác động, ràng buộc, ảnh hưởng lẫn nhau, vừa đấu tranh
với nhau dẫn tới sự vận động, biến đổi và chuyển hóa. Trong mối quan hệ đó,
thực tiễn luôn luôn là tính thứ nhất, giữ vai trò quyết định lý luận, còn lý luận là
tính thứ hai, tác động tích cực trở lại thực tiễn.
Lý luận chỉ trở thành khoa học khi xuất phát từ thực tiễn, được thực tiễn
kiểm nghiệm. Điều này được V.I. Lênin khẳng định: "Thực tiễn cao hơn nhận
thức (lý luận), không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực
tiếp" [39, tr.230]. Vai trò thực tiễn với nhận thức, đối với lý luận trước hết
được thể hiện: thực tiễn là cơ sở, mục đích là động lực chủ yếu, trực tiếp của
nhận thức, trong đó có lý luận và thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý.
Để đáp ứng nhu cầu của mình, con người phải cải tạo thế giới bằng hoạt
động thực tiễn, trong quá trình đó, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân
mình, phát triển năng lực, trí tuệ. Con người ngày càng đi sâu vào nhận thức
thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, càng làm phong phú và sâu sắc
hơn tri thức của mình. Theo đó, thông qua thực tiễn đã xuất hiện nhu cầu,

sẽ dẫn tới các sai lầm của bệnh chủ quan, giáo điều, quan liêu và chủ nghĩa
xét lại.
Hoạt động thực tiễn chỉ đạt được mục đích khi được lý luận khoa học
chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt. Cùng với việc coi trọng vai trò của thực tiễn đối
với lý luận thì vai trò của lý luận đối với thực tiễn không hề bị hạ thấp mà còn
thể hiện rõ hơn tính tích cực, chủ động, sáng tạo của nó. Hay nói cách khác,
10


bản thân lý luận, khoa học không có mục đích tự thân. Lý luận, khoa học ra
đời chính vì và chủ yếu vì chúng cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con
người. Thực tiễn là mục đích của nhận thức, lý luận. Nhận thức lý luận sau
khi ra đời quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn. Lý luận,
khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải
tạo thực tiễn, phục vụ cho mục tiêu phát triển. Lý luận tác động trở lại thực
tiễn, góp phần làm biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động của con người.
Lý luận giúp cho chủ thể hoạt động thực tiễn có những quan niệm
khoa học về thế giới. Lý luận có thể dự kiến được sự vận động, phát triển
của sự vật, chỉ ra những phương hướng mới cho sự phát triển của thực tiễn,
là “kim chỉ nam” soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo cho hành động. V.I. Lênin
viết: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách
mạng... chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có
khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” [41, tr.30]. Nhờ có lý luận
khoa học mà hoạt động của con người trở lên chủ động, tự giác, hạn chế
tình trạng mò mẫm, tự phát. Như vậy, lý luận một khi đã thâm nhập vào
quần chúng thì biến thành sức mạnh vật chất to lớn.
Lý luận giúp cho chủ thể nhận thức hệ thống nguyên tắc, phương pháp
trong hoạt động nhận thức và thực tiễn; giúp chủ thể hoạt động thực tiễn
những mục tiêu cần đạt được trong tình hình cụ thể. Nhờ có lý luận cách
mạng mà chủ thể hoạt động thực tiễn có cơ sở hình thành, phát triển nhân

bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kiên định, vững vàng trong mọi
tình huống, sẵn sàng nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ; nắm chắc phương
châm, nguyên tắc, hình thức, phương pháp huấn luyện kỹ chiến thuật, biết chủ
trì các hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, thực hành huấn luyện tốt
và biết tổ chức, bồi dưỡng phương pháp huấn luyện cho cấp dưới; nắm vững
kiến thức cơ bản các môn KHXH&NV và vận dụng sáng tạo lý luận chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng
để giáo dục bộ đội.
12


Là nội dung bắt buộc trong chương trình đào tạo ở các trường đại
họcquân sự, các môn KHXH&NV theo chương trình KHXH&NV đào tạo cán
bộ - chỉ huy tham mưu các cấp trong QĐNDVN ban hành kèm theo Quyết
định số 917/QĐ-CT ngày 30/6/2010 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, bao
gồm 18 môn: Triết học Mác – Lênin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin, Chủ
nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử ĐCS Việt Nam, Học
thuyết Mác – Lênin về chiến tranh quân đội, Tôn giáo học, Đạo đức học, Nhà
nước và pháp luật, Dân tộc học, Cơ sở văn hóa Việt Nam, Công tác đảng,
công tác chính trị, Tâm lý học quân sự, Tiếng Việt soạn thảo văn bản, Giáo
dục học quân sự, Lịch sử dân tộc, Lôgíc học, Lịch sử nghệ thuật quân sự.
Giảng dạy các môn KHXH&NV là một hoạt động rất quan trọng trong
quá trình dạy học ở các học viện, nhà trường quân sự, trong đó có TSQLQ2
góp phần hoàn thiện mục tiêu, yêu cầu đào tạo củaNhà trường. Do vậy, giảng
dạy các môn KHXH&NV vừa mang đặc điểm của quá trình dạy học, vừa có
những đặc điểm riêng phản ánh tính đặc thù của bộ môn này. Vận dụng nguyên
tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy các môn KHXH&NV ở
TSQLQ2 được biểu hiện cụ thể trên một số nội dung chủ yếu sau:
Yêu cầu mục tiêu giảng dạy là xuất phát từ thực tiễn để trang bị những
kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và thái độ hành vi cho người học, nhằm phục vụ

thực tiễn được trình bày, kết hợp một cách thống nhất để lý luận thường
xuyên liên hệ chặt chẽ với thực tiễn, phản ánh kịp thời sự vận động, biến đổi
của thực tiễn. Những thay đổi trong đời sống thực tiễn xã hội được giảng viên
kịp thời nắm bắt và đưa vào trong nội dung bài giảng của mình cho phù hợp,
tạo sự thống nhất tương đối giữa lý luận và thực tiễn. Chúng ta không được
coi lý luận trong từng nội dung bài giảng như một cái gì xong xuôi, cứng
nhắc, mà nó đầy tính sáng tạo và luôn được bổ sung bằng những kết luận mới
được rút ra từ thực tiễn hoạt động quân sự và cuộc sống sinh động.
Tuy nhiên, các vấn đề lý luận không phải là những lời giải đáp trực tiếp
cho từng vấn đề cụ thể vô cùng phong phú, đa dạng của thực tiễn mà là cơ sở

14


có giá trị định hướng về mặt phương pháp luận. Do đó, trong nội dung giảng
dạy, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn được thể hiện ở sựphân
tích, chứng minh, luận giải làm cho người học nắm được cơ sở lý luận, khía
cạnh phương pháp luận của các vấn đề cần truyền đạt, từ đó họ có thể liên hệ,
lý giải được những vấn đề thực tiễn đã và đang đặt ra.
Khi trình bày các nguyên lý, phạm trù, quy luật, lấy những ví dụ minh
họa mang tính thực tiễn, thường xuyên liên hệ lý luận với thực tiễn, phân tích
một cách có căn cứ lý luận; vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật
luận giải các vấn đề thực tiễn. Biểu hiện của nguyên tắc trong nội dung giảng
dạy các môn KHXH&NV làthể hiện được cơ sở lý luận, khía cạnh phương
pháp luận của đường lối, chủ trương, chính sách đang thực thi trong đời sống,
từ đó có thể tự phân tích, nhận định, đánh giá những vấn đề thực tiễn mới nảy
sinh. Trong quá trình thực hiện nội dung giảng dạy, yêu cầu đối với từng
giảng viên là phải hướng dẫn cho người học cách thức tiếp cận các vấn đề học
tập trong thực tiễn, phải luôn bám sát thực tiễn, nắm bắt kịp thời thực tiễn và
những yêu cầu mới do thực tiễn của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc đặt ra. Đồng

việc tiếp thu kiến thức trong từng bài học, còn phải tự mình chiếm lĩnh hệ thống
kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và vươn lên thích ứng với những đòi hỏi của hoạt
động thực tiễn nghề nghiệp. Học viên không chỉ tiếp thu nội dung bài học một
cách thụ động hoặc chỉ dừng ở mức độ nhận thức lý luận, mà phải thường xuyên
tìm tòi, nghiên cứu, nắm bắt tình hình cụ thể thực tiễn, nhìn rõ những yêu cầu,
những vấn đề do thực tiễn đặt ra và đòi hỏi lý luận phải trả lời, luyện tập, vận
dụng sáng tạo lý luận vào thực tiễn theo yêu cầu của mục tiêu đào tạo.
Sự vận dụng này được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao, tuỳ theo
yêu cầu từng môn học. Để làm được điều đó, học viên luôn nêu cao tinh thần tự
giác, tích cực, phát huy mọi chức năng tâm lý từ cảm giác, tri giác, trí nhớ,
tưởng tượng, tư duy, ngôn ngữ đến tình cảm, ý chí để thực hiện các nhiệm vụ
học tập. Do vậy, vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
học tập của học viên được thể hiện ở kết quả thực hành, liên hệ vận dụng kiến
thức để rèn luyện, hình thành kỹ xảo, kỹ năng nghề nghiệp và trình độ phát
triển trí tuệ của người học.
16


Trong đó, kết quả vận dụng lý luận vào thực tiễn được biểu hiện ở việc
người học nắm vững kiến thức và vận dụng thành thạo vào giải quyết các
nhiệm vụ lý thuyết và thực tiễn đặt ra, tuy nhiên không bằng nhau về mức độ
như trình độ kỹ xảo (biết vận dụng, liên hệ kiến thức đã học vào những tình
huống quen thuộc, nếu đạt tới trình độ tự động hóa thì gọi là kỹ năng); trình
độ biến hóa (biết vận dụng kiến thức vào thực tiễn một cách linh hoạt, sáng
tạo, trong những điều kiện thay đổi).
Trên cơ sở kiến thức đã nắm được, học viên dần dần hình thành hệ thống
kỹ xảo, kỹ năng nhất định bao gồm hệ thống kỹ xảo, kỹ năng về học tập, hệ
thống kỹ xảo, kỹ năng đáp ứng đòi hỏi của hoạt động thực tiễn thông qua thực
hành, thực tập kiến thức đã lĩnh hội vào nghề nghiệp tương lai và giải quyết
các vấn đề thực tiễn đặt ra. Cùng với việc trang bị kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng

nhằm truyền thụ kiến thức, kỹ xảo, kỹ năngtheo mục tiêu, yêu cầu của từng
nội dung bài học, môn học cho người học, quá trình này luôn gắn liền với các
hoạt động học tập của người học.
Trên cơ sở kế thừa, phân tích mục tiêu, nhiệm vụ và đặc điểm dạy học
tôi quan niệm giảng dạy các môn KHXH&NV ở TSQLQ2 như sau:
Giảng dạy các môn KHXH&NV ở TSQLQ2 là một quá trình có mục đích,
có tổ chức, phối hợp thống nhất giữa hoạt động giảng dạy của giảng viên và
hoạt động học tập của học viên nhằm trang bị kiến thức lý luận của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản
Việt Nam; trên cơ sở đó phát triển khả năng tư duy lý luận, giáo dục những
phẩm chất nhân cách cần thiết cho người học ở Nhà trường.
Trước hết, giảng dạy các môn KHXH&NV ở TSQLQ2 là quá trình có
mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, có chương trình, nội dung xác định, có
cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật đảm bảo, được thực hiện bởi chủ thể của quá
trình giảng dạy đó là giảng viên cùng với hoạt động học tập của học viên
nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu, yêu cầu của quá trình đào tạo.
Chức năng trội của giảng dạy các môn KHXH&NV là hình thành hệ
thống kiến thức về xã hội, con người, tư duy và quan điểm khoa học của chủ
18


nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng
Cộng sản Việt Nam cho người học, trên cơ sở đó mà phát triển tư duy lý luận,
giáo dục nhân cách, chuẩn bị tâm lý, tạo niềm tin cho họ thực hiện nhiệm vụ.
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy các môn
KHXH&NV phản ánh mối liên hệ chặt chẽ, thống nhất giữa mục tiêu, nội
dung, hình thức, phương pháp dạy học với thực tiễn xã hội, quân đội và nghề
nghiệp của người học trong quá trình thực hiện nhiệm vụ học tập, công tác tại
Nhà trường cũng như nhiệm vụ, chức trách đảm nhiệm trên cương vị công tác
sau khi ra trường.

phạm; qua đó có tác dụng dẫn dắt, mở rộng, củng cố và làm sâu sắc thêm
những kiến thức về lý thuyết, rèn luyện kỹ năng thực hành, thực tập, liên hệ
vận dụng kiến thức lý thuyết vào thực tiễn, rèn luyện năng lực hoạt động thực
tiễn cho học viên. Thường xuyên sơ kết, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, khái
quát và bổ sung phát triển lý luận, bổ sung nội dung bài giảng; luôn có sự kết
hợp chặt chẽ công tác tư tưởng và công tác tổ chức.
Như vậy, nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy
các môn KHXH&NV ở TSQLQ2là khái niệm được hợp thành bởi chất lượng
các nhân tố của quá trình giảng dạy. Các nhân tố này luôn tồn tại và phát triển
trong một quá trình thống nhất, trong đó chất lượng giảng dạy là điều kiện, là
yếu tố bảo đảm cho chất lượng học tốt. Ngược lại, người học có thái độ học
tập nghiêm túc, trách nhiệm sẽ tạo ra đòi hỏi cao với các lực lượng sư phạm
trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy. Các nhân tố khác là yếu tố quan
trọng cùng với nhân tố giảng dạy luôn tác động thúc đẩy lẫn nhau nhằm thực
hiện mục tiêu bảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giảng dạy các môn KHXH&NV.
Theo Từ điển tiếng Việt: “Vận dụng là đem tri thức, lý luận áp dụng vào
thực tiễn – vận dụng các kiến thức đã học trong trường” [58, tr.1444].
Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng
dạy các môn KHXH&NV ở TSQLQ2 là quá trình có mục đích, có tổ chức của
20


các chủ thể sử dụng các cách thức, biện pháp sư phạm áp dụng sáng tạo nội
dung nguyên tắc vào quá trình giảng dạy các môn KHXH&NV nhằm bảođảm
sự thống nhất giữa hệ thống tri thức lý luận được trang bị cho người học phù
hợp với thực tiễn đất nước, quân đội đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của
Nhà trường gắn với thực tiễn huấn luyện, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc ở những
giai đoạn lịch sử nhất định.
Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nội

luận với thực tiễn. Vận dụng nguyên tắc này làm cho học viên thấy rõ thực
tiễn của đất nước, của thế giới, của nghề nghiệp đang diễn ra trong hiện tại
cũng như dự báo xu hướng phát triển của thực tiễn trong nội dung từng bài
giảng. Đảng và Nhà nước ta đang tiếp tục thực hiện nhất quán chủ trương
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị
trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; xu thế
khách quan của sự toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nắm được đặc
điểm này học viên sẽ có được niềm tin khoa học vào chủ nghĩa Mác – Lênin,
đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, giúp cho
họ có ý thức rõ về nghề nghiệp tương lai và tích cực tham gia hoạt động thực
tiễn trong lĩnh vực nghề nghiệp của mình.
Chủ thể thực hiện vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực
tiễn trong giảng dạy các môn KHXH&NV ở TSQLQ2 là giảng viên trực tiếp
tham gia giảng dạy các môn KHXH&NV,là một bộ phận giảng viên ở
TSQLQ2, được đào tạo, tuyển chọn từ nhiều nguồn khác nhau phù hợp với
chuyên ngành giảng dạy của mình, có đủ trình độ, năng lực chuyên môn và có
khả năng trình độ hiểu biết, nhạy bén với thực tiễn đáp ứng yêu cầu giáo dục
– đào tạo của Nhà trường trong từng giai đoạn nhất định. Theo thống kê từ
Phòng Đào tạo – TSQLQ2 thì tổng số giảng viên KHXH&NV của Nhà
trường là 147 (Phó Giáo sư: 01; Tiến sĩ: 09; Thạc sĩ: 66; Cử nhân: 71)

22


Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong giảng dạy
các môn KHXH&NV là gắn các nguyên lý, phạm trù, quy luật của chủ nghĩa
Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng với thực
tiễn đang vận động của xã hội và quân đội trong từng thời điểm lịch sử nhất
định, làm sáng tỏ tri thức thức lý luận bằng các dẫn chứng thực tiễn sinh
động, đồng thời thường xuyên tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện lý

cần. Do vậy, người giảng viên KHXH&NV phải nghiên cứu tìm tòi, không
ngừng làm giàu vốn tri thức của mình để có năng lực tư duy, trình độ lý luận
sắc bén, có thông tin kịp thời, chính xác từ thực tiễn, để phân tích, lý giải một
cách khoa học, qua đó, giáo dục, tạo niềm tin khoa học cho người học, tạo sự
thống nhất cao về tư tưởng, đồng thời, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội
trước những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống đang đặt ra.
Đặc biệt, quá trình giảng dạy cần tăng cường mối liên hệ giữa nội dung
giảng dạy học với thực tế đời sống xã hội, quân đội và nghề nghiệp của học
viên, khắc phục mọi biểu hiện chủ nghĩa hình thức trong việc nắm tri thức.
Bảo đảm sự cân đối hài hòa giữa lý luận với với thực tiễn cuộc sống, thực tiễn
nghề nghiệp quân sự của học viên. Thực hiện nguyên lý “Học đi đôi với hành,
lý luận gắn liền với thực tiễn”.
Vấn đề bảo đảm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
giảng dạy các môn KHXH&NV là một nội dung rất quan trọng trong hoạt
động động giảng dạy các môn KHXH&NV, nó đảm bảo cho nội dung bài
giảng không nhàm chán chỉ coi trọng lý luận, xa rời thực tiễn, luôn bám sát các
hoạt động của xã hội, quân đội và nghề nghiệp của học viên. Tuy nhiên, trong
quá trình giảng dạy không thể đưa tất cả những vấn đề nảy sinh trong thực
tiễn vào giảng dạy đồng thời cũng không thể giải quyết hết mọi vấn đề do
thực tiễn đặt ra. Phải lựa chọn những vấn đề thiết thực nhất theo yêu cầu hoạt
động nghề nghiệp của từng bộ môn, của cuộc sống xã hội mạnh dạn loại bỏ
những bộ phận không thiết thực trong giảng dạy các môn KHXH&NV.

24


1.2. Nhân tố quy định vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận
và thực tiễn trong giảng dạy các môn khoa học xã hội và nhân văn ở
Trường Sĩ quan Lục quân 2
1.2.1. Nhân tố quan điểm, đường lối giáo dục và đào tạo của Đảng,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status