Luận Văn Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay - Pdf 47

Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

LỜI MỞ ĐẦU
Sau hơn 02 tháng được học tập, nghiên cứu dưới sự dẫn dắt, hướng dẫn tận tình của TS.
Nguyễn Ngọc Thu, tự bản thân, tôi đã hiểu hơn những tinh hoa của Triết Học trong việc lý giải,
chứng minh và làm nền tảng ứng dụng cho việc xử lý những vấn đề trong công việc, cuộc sống.
Trên cơ sở thực hiện bài tiểu luận được giao với chuyên đề “ Nguyên tắc thống nhất giữa
lý luận và thực tiễn. Sự vận dụng nguyên tắc này trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam hiện
nay”. Tôi đã có dịp được đọc, tìm hiểu thêm các tài liệu liên quan để thực hiện chuyên đề này.
Chúng ta biết rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Lênin đã chỉ
rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác. Cho đến nay, chỉ
có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết học Mác - Lênin, Đảng và
Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề ra những mục tiêu, phương hướng chỉ
đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước.
Mặc dù có những khiếm khuyết không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng
trong cải tạo thực tiễn, phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước
trong khu vực và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội và qua những năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt động nhận
thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan trong vận hành nền kinh tế
ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi, nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay.
Để thực hiện được chuyên đề này, với tất cả sự kính trọng, tôi xin được kính gửi lời cảm
ơn chân thành đến TS. Nguyễn Ngọc Thu đã trực tiếp giảng dạy, truyền đạt cho những học viên
lớp Cao Học QTKD – ĐH Hutech chúng tôi những kiến thức chuyên sâu về Triết Học Mac-Lê
Nin, giúp chúng tôi nhận ra đây không phải là một môn học nhàm chán như những gì chúng tôi
đã cảm nhận khi còn là sinh viên Đại Học, mà nó là một môn khoa học ứng dụng trong việc giải
quyết những hiện tượng thế giới quan, hay đơn giản chỉ là những vấn đề xã hội thường gặp.
Trân trọng.
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 08 năm 2014
HV lớp 14SQT11 – ĐH Hutech

Hoàng Tuấn Anh

học và kiểm tra lý thuyết khoa học.
2. Phạm trù lý luận
a. Lý luận là gì
Lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn phản ánh những mối liên hệ bản
chất, những quy luật của sự vật, hiện tượng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ : “ Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng
hợp những tri thức về tụ nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử”.
Để hình thành lí luận, con người phải thông qua quá trình nhận thức kinh nghiệm. Nhận thức
kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại diễn biến của các sự vật hiện tượng. Kết quả
của nhận thức kinh nghiệm là tri thức kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh
HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 2


Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của
tri thức ở trình độ thấp nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận.
b. Các hình thái của lý luận
Lý luận có nghững cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó, có thể phân chia lý
luận thành lí luận ngành và lí luận triết học.
Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển của một ngành. Nó là
cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt động của ngành đó, như lý luận văn
học, lý luận nghệ thuật…
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con người, là thế giới
quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con người.
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận hình thành,

con người trước hiện thực khách quan để đưa lại lợi ích cao hơn, thỏa mãn nhu cầu ngày càng
tăng của cá nhân và xã hội. Tự thân lý luận không thể tạo lên những sản phẩm đáp ứng nhu cầu
của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn se
biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con người. Đó thực chất là mục đích của lý luận.
Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người
1.4. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
Tính chân lý của lý luận chính là sự phù hợp của lý luận với thực tiễn khách quan và được thực
tiễn kiểm nghiệm, là giá trị phương pháp của lý luận với hoạt động thực tiễn của con người. Do
đó mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm. Chính vì thế mà C. Mác nói : “vấn đề
đẻ tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân lý của khách quan không, hoàn toàn
không phỉa vẫn đề lý luận mà là vấn đề thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải
chứng minh chân lý”. Thông qua lý luận những lý luận đạt đến chân lý se được bổ sung vào khp
tàng chi thức nhân loại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung
hoặc nhận thức lại. Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động thực tiễn.
Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, nhưng không phải mọi thực tiễn đều là tiêu chuẩn
của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chấn lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến mức toàn vẹn của
nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn đã trải qua quá trình tồn tại, hoạt động, phát triển và
chuyển hóa. Đó là chu kỳ tất yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai cấp phát triển khác nhau.
Nếu lý luận chỉ khái quát một giai đoạn nào đó của thực tiễn thì lý luận có thể xa rời thực tiễn.
Do đó chỉ những lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực tiễn thì mới đạt đến chân lý.
Chính vì vậy mà V.I.Lênin cho rằng :“ Thực tiễn của con người lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần
được in vào ý thức của con người bằng những hình tượng logic. Những hình tượng này có tính
vững chắc của một thiên khiến, có một tính chất công lý, chính vì sự lặp đi lặp lại hàng nghìn
triệu lần ấy”
2. Thực tiễn phải được chỉ đạo bởi lý luận; ngược lại, lý luận phải được vận dụng vào thực
tiễn, tiếp tục bổ sung và phát triển trong thực tiễn
Lý luận đóng vai trò soi đường cho thực tiễn vì lý luận có khả năng định hướng mục tiêu, xác
định lực lượng, phương pháp, biện pháp thực hiện. Lý luận còn dự báo được khả năng phát triển
cũng như các mối quan hệ của thực tiễn, dự báo được những rủi ro đã xảy ra, những hạn chế
những thất bại có thể có trong quá trình hoạt động. Như vậy lý luận không chỉ giúp con người

dụng lý luận vào thực tiễn, chúng có thể mang lại hiệu quả có thể không, hoặc kết quả chưa rõ
ràng. Trong trường hợp đó, giá trị của lý luân phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của lý
luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “ Thực tiễn cao hơn lý
luận, vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến, mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.

HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 5


Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

CHƯƠNG II
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
TRONG SỰ NGHIỆP ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
I. Hoàn cảnh thực tiễn của Việt Nam sau chiến tranh thống nhất đất nước là cơ sở, là động
lực, là mục đích của sự đổi mới
1. Thực tiễn kinh tế - xã hội Việt Nam sau chiến tranh
Sau kháng chiến chống Pháp thắng lợi, dựa vào kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa lúc
đó, nước ta bắt đầu xây dựng một mô hình kinh tế kế hoạch hoá tập trung dựa trên chế độ công
hữu về tư liệu sản xuất. Các hình thức tổ chức sản xuất và dịch vụ quốc doanh được phát triển.
Cùng với quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộng rãi ở nông thôn và thành thị. Với hai hình
thức sở hữu toàn dân và tập thể, sở hữu tư nhân bị thu hẹp lại, không còn cơ sở cho tư nhân phát
triển. Cùng với quốc doanh, hợp tác xã được tổ chức rộng rãi vì ta đã học tập được mô hình tổ
chức kinh tế của Liên Xô cũ. Với sự nỗ lực cao độ của nhân dân ta, cùng với sự giúp đỡ tận tình
của các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó, mô hình kế hoạch hoá tập trung đã phát huy được những
tính ưu việt đó.
Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, phân tán và manh mún, bằng công cụ kế hoạch hóa, ta
đã tập trung được vào trong tay một lực lượng vật chất quan trọng về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ
sở hạ tầng thành thị và nông thôn, đất đai, máy móc, tiền vốn để ổn định và phát triển kinh tế.

thành địa vị đọc tôn trong hầu hết các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ ( trừ ngành nông
nghiệp, thành phần kinh tế tập thể là chủ yếu). Thời điểm cao nhất, thành phần kinh tế quốc
doanh đã cõ gần 13 nghìn doanh nghiệp với số tài sản cố định chiếm 70% tổng số tài sản cố định
của nền kinh tế. Thời kỳ này, kinh tế nước ta tuy có đạt được tốc độ tăng trưởng nhất định nhưng
sự tăng trưởng đó không có cơ sở để phát triển vì đã dựa vào điều kiện bao cấp, bội chi ngân
sách, lạm phát và vay nợ nước ngoài.
Do phát triển tràn lan lại quản lý theo cơ chế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung nên nhà nước gặp
nhiều khó khăn trong việc quản lý, điều hành các doanh nghiệp quốc doanh, nhiều doanh nghiệp
quốc doanh làm ăn thua lỗ, lực lượng sản xuất không được giải phóng, nền kinh tế lâm vào tình
trạng khủng hoảng và tụt hậu.
2. Lý luận xa rời thực tiễn đã dẫn nền kinh tế xã hội Việt Nam thời kỳ bấy giờ rơi vào tình
trạng khủng hoảng
Trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thật sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều
thành phần còn tồn tại trong thời gian tương đối dài, chưa nắm vững và vận dụng đúng lý luận và
thực tiễn vào tinh hình nước ta. Đến năm 1986, cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp về căn bản
vẫn chưa bị xoá bỏ. Cơ chế mới chưa được thiết lập đồng bộ, nhiều chính sách, thể chế lỗi thời
chưa được thay đổi. Tình trạng tập trung quan liêu còn nặng, đồng thời những hiện tượng vô tổ
chức, vô kỷ luật còn khá phổ biến. Việc đổi mới cơ chế và bộ máy quản lý, việc điều hành không
nhạy bén, là những nguyên nhân quan trọng dẫn tới hành động không thống nhất từ trên xuống
dưới. Chúng ta mới nêu ra được phương hướng chủ yếu của cơ chế mới, hình thức, bước đi, cách
làm cụ thể thì còn nhiều vấn đề chưa giải quyết được thoả đáng cả về lý luận và thực tiễn.
3. Sự nhận định đúng thực tiễn là cơ sở để Đảng ta đưa ra những lý luận cho sự chỉ đạo đổi
mới
Đất nước ta đã bộc lộ sự lạc hậu về nhận thức lý luận trong thời kỳ quá độ : " Khuynh hướng tư
tưởng chủ yếu của những sai lầm ấy, đặc biệt là những chính sách kinh tế là bệnh chủ quan, duy
ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan” ( Đảng
HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 7


tế. Trong hệ thống các quy luật đó, quy luật kinh tế cơ bản cùng với các quy luật đặc thù khác
của chủ nghĩa xã hội ngày càng phát huy vai trò chủ đạo, được vận dụng trong một thể thống
nhất với các quy luật của sản xuất hàng hoá, đặc biệt là quy luật giá trị, quy luật cùng cầu, quy
luật cạnh tranh... Kế hoạch hoá phải luôn luôn gắn liền với việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế.
Đại hội đảng lần thứ VI có ý nghĩa đặc biệt quan trọng . Những quan điểm, đường lối do Đại hội
VI vạch ra là sự vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
vào thực tiễn của đất nước . Công cuộc đổi mới của Đảng từ sau Đại hội VI đến nay ở nước ta
HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 8


Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

không nằm ngoài những quy luật phổ biến của phép biện chứng, Đảng ta đã vận dụng phép biện
chứng vào nhận thức hiện thực xã hội, phân tích các mối liên hệ biện chứng của đời sống hiện
thực, tìm ra các mâu thuẫn đó và tạo ra động lực mạnh me cho quá trình đổi mới vững chắc.
Vì trước đây, nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế, xã hội với nhiều khó khăn phức tạp, gay gắt,
lạm phát phi mã do tư duy lý luận bị lạc hậu, giữa lý luận và thực tiễn có khoảng cách xa. Tư duy
cũ về chủ nghĩa xã hội theo mô hình tập trung quan liêu bao cấp đã cản trở sự phát triển của thực
tiễn sản xuất. Bị chi phối bởi quy luật mâu thuẫn khách quan nên để giải quyết mâu thuẫn đó
Đảng ta đã tiến hành đổi mới và cải cách kinh tế.
Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất. Để làm đủ ăn và có tích luỹ,
phải ra sức phát triển sản xuất, xây dựng một cơ cấu kinh tế hợp lý, trước hết là cơ cấu các ngành
kinh tế phù hợp với tính quy luật về sự phát triển các ngành sản xuất vật chất, phù hợp với sự
phân công lao động và hợp tác quốc tế. Cơ cấu kinh tế đó đảm bảo cho nền kinh tế phát triển cân
đối với nhịp độ tăng trưởng ổn định. Phải thông qua việc sắp xếp lại sản xuất, đi đôi với việc xây
dựng thêm cơ cấu kinh tế hợp lý. Hướng vào việc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh sản
xuất hàng tiêu dùng, xuất khẩu. Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp
với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ

thực tiễn lại là cơ sở để nhận thức, của lý luận. Phải qua thực tiễn rồi mới có kinh nghiệm, mới
có cơ sở đề khái quát thành lý luận.
Vì vậy, quá trình đổi mới ở nước ta chính là quá trình vừa học vừa làm, vừa làm vừa tổng kết lý
luận, đúc rút thành quan điểm, thành đường lối để rồi quay trở lại quá trình đổi mới. Có những
điều chúng ta phải mò mẫm trong thực tiễn, phải trải qua thể nghiệm, phải làm rồi mới biết, thậm
chí có nhiều điều phải chờ thực tiễn. Ví dụ như vấn đề chống lạm phát, vấn đề khoán trong nông
nghiệp, vấn đề phân phối sản phẩm... Trong quá trình đó, tất nhiên se không tránh khỏi việc phải
trả giá cho những khuyết điểm, lệch lạc nhất định.
Ở đây, việc bám sát thực tiễn, phát huy óc sáng tạo của cán bộ và nhân dân là rất quan trọng.
Trên cơ sở, phương hướng chiến lược đúng, hãy làm rồi thực tiễn se cho ta hiểu rõ sự vật hơn
nữa - đó là bài học không chỉ của sự nghiệp kháng chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của
sự nghiệp đổi mới vừa qua và hiện nay.
Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp, không hề coi nhẹ lý luận. Quá
trình đổi mới là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mình, cố gắng phát
triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở
nước ta. Thể hiện ở các giai đoạn chuyển đổi :
- Thứ nhất, từ tư duy, dựa trên mô hình kinh tế hiện vật với sự tuyệt đối hoá sở hữu xã hội (Nhà
nước và tập thể) với sự phát triển vượt trước của quan hệ sản xuất đối với sự phát triền của lực
lượng sản xuất dẫn tới hậu quả kìm hãm sự phát triển sản xuất... sang tư duy mới. Xây dựng
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự
thống nhất biện chứng với tính đa dạng các hình thức sở hữu, đa dạng các hình thức phân phối,
lấy phân phối theo lao động làm đặc trưng chủ yếu nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Đây
chính là bước chuyển căn bản mà có ý nghĩa sâu xa vì nó là tôn trọng quy luật khách quan về
sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất; tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của
lực lượng sản xuất mà từng bước thiết lập quan hệ sản xuất cho phù hợp .
- Thứ hai, từ tư duy quản lý dựa trên mô hình một nền kinh tế chỉ huy tập trung, kế hoạch hoá
tuyệt đối với cơ chế bao cấp và bình quân sang tư duy quản lý mới thích ứng với nền kinh tế
HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 10

với quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay. Sự khám phá về lý luận phải trở thành tiền đề và làm cơ
sở cho sự đổi mới trong hoạt động thực tiễn. Thực tiễn chính là động lực, là cơ sở của nhận thức,
lý luận. Vì vậy cần khắc phục ngay những khiếm khuyết sai lầm song cũng phải tìm ra giải pháp
khắc phục để hạn chế sự sai sót và thiệt hại.
III. Kết quả của quá trình đổi mới đối với kinh tế xã hội Việt Nam
Sau gần 30 năm đổi mới kể từ Đại hội Đảng VI năm 1986, nền Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng
kinh tế, đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh, tăng cường cơ sở vật chất và tạo tiền đề cho giai đoạn
HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 11


Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

phát triển mới công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.
Gần 30 năm qua, nét nổi bật của Việt Nam là từ một nước trì trệ, tăng trưởng thấp, tích luỹ phần
lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài, đến nay đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong
khu vực. Việt Nam đã tạo được khả năng tích luỹ để đầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống
của người dân. Tổng tích luỹ tăng từ 9,5 – 11,3%/năm tuỳ giai đoạn. Nhưng cơ bản, Việt Nam đã
đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bước xây dựng được vai trò của
mình trong hội nhập khu vực và quốc tế.
Một số nét nổi bật trong hơn gần 30 năm đổi mới như sau :
- Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ. Từng bước phát triển đồng bộ và quản lý sự
vận hành các loại thị trường cơ bản, theo cơ chế mới. Thị trường hàng hoá phát triển với quy
mô lớn, tốc độ nhanh. Các thị trường dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, bất động sản
hình thành và phát triển mạnh me.
- Các cân đối vĩ mô của nền kinh tế cơ bản được giữ ổn định, tạo môi trường và điều kiện cần
thiết cho sự phát triển kinh tế. Tiềm lực tài chính ngày càng được tăng cường, thu ngân sách

quả cao trong sự phát triển nhận thức mà còn giúp cho lý luận không bao giờ xa rời thực tiễn
cuộc sống.
Nắm bắt và vận dụng được có hiệu quả các quy luật tất yếu khách quan để hoạt động và đem nó
vào thực tiễn để kiểm nghiệm là một phương tâm chủ đạo trong công cuộc đổi mới hiện nay. Chỉ
có dám nghĩ, dám làm kết hợp với tri thức khoa học được trang bị, chúng ta mới thành công
được. Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, nắm bắt quy luật kinh tế, quy luật sản xuất lại càng cần
thiết để cải tạo thực tiễn, tạo ra phương hướng`và mục tiêu đúng đắn phát triển đi lên. Chỉ có thế
nước ta mới theo kịp được trình độ phát triển kinh tế chung của khu vực và trên thế giới. Trong
xu thế hội nhập toàn cầu hoá hiện nay, những chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước xuất
phát từ thực tiễn tình hình đất nước đáng phát huy mạnh me tính ưu việt của nó.
V. Mục tiêu, giải pháp cho giai đoạn mới từ năm 2014
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XI đã đề ra các mục
tiêu, giải pháp phát triển kinh tế xã hội năm 2014-2015. Đảng xác định cần tập trung cao cho ổn
định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát ; đồng thời tranh thủ thuận lợi, tháo gỡ khó khăn cho sản
xuất, kinh doanh, tạo động lực, niềm tin cho người dân và doanh nghiệp, phấn đấu có mức tăng
trưởng cao hơn năm 2013.
Để thực hiện được những mục tiêu trên, Đảng xác định nhiệm vụ chủ yếu :
- Tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát thông qua việc tiếp tục thực hiện chính
sách tài khóa chặt che, chính sách tiền tệ linh hoạt, bảo đảm kiểm soát lạm phát, đồng thời duy
trì đà tăng trưởng
- Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, bảo đảm tăng trưởng hợp lý
thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp hỗ trợ, phát triển thị trường trong nước, giảm
tỷ lệ nhập siêu ; giải pháp giải ngân nhanh các gói hỗ trợ tín dụng nhằm tìm lối thoát cho thị
trường bất động sản…
- Đẩy mạnh tiến độ tái cơ cấu nền kinh tế, khắc phục những yếu kém của các Tập đoàn, DNNN,
tăng cường quản lý và tiếp tục cơ cấu lại các ngân hàng thương mại cổ phần

HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 13

lần nữa ta lại càng cần khẳng định vai trò không thể thiếu được của quá trình lý luận nhận thức
và các chính sách, chủ trương xuất phát từ thực tiễn chi phối nền kinh tế. Khi đi đúng vào tiến
trình lịch sử của nhân loại, tất yếu chúng ta se không bị lạc hậu, tụt lùi mà ngày càng có vị thế,
phát triển mạnh me hơn. Hy vọng chỉ một thời gian không lâu nữa nền kinh tế Việt Nam se phát
triển vượt bậc, phát triển có cơ sở vững chắc, đứng vào vị trí những nước có nền kinh tế tăng
trưởng mạnh trên thế giới.

HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 14


Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình triết học Mác - Lênin ( Dành cho HV Cao học và NCS không thuộc ngành triết)
2. C.Mác - F.Engghen - tuyển tập
3. Hồ Chí Minh - tuyển tập
4. V.I.Lênin-toàn tập
5. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thức VI của Đảng cộng sản Việt Nam.
6. Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 BCH TW Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa XI
7. Tài liệu học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH TW Đảng Cộng Sản Việt Nam khóa XI

MỤC LỤC
HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 15


Bài tiểu luận Môn Triết Học – GVHD : TS. Nguyễn Ngọc Thu

TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................................15

HV : Hoàng Tuấn Anh - Lớp : 14SQT11

Trang 16




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status