LUẬN VĂN: Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trong thời kỳ đổi mới ở nước ta hiện nay - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Mối quan hệ giữa văn hoá và
du lịch trong thời kỳ đổi mới ở
nước ta hiện nay

Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với những thành tựu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, du lịch
Việt Nam trong những năm gần đây đã có bước tiến mạnh mẽ. Năm 2004 số lượng
khách quốc tế đến nước ta đã đạt con số trên ba triệu lượt người, khách du lịch nội
địa cũng tăng nhanh. Thực tế này đang đặt ra nhiều vấn đề mới mẻ cho sự phát triển

báo Hoàng Tùng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.
- “Hà Nội nghìn xưa” của Giáo sư Trần Quốc Vượng và nhà nghiên cứu Vũ
Tuấn Sán, Nxb Hà Nội, 1998.
- “ Văn hiến Thăng Long”của Giáo sư Vũ Khiêu và nhà nghiên cứu Nguyễn
Vinh Phúc chủ biên, Nxb Văn hoá - Thông tin, Hà Nội, 2000.
- “ Văn hoá Thăng Long - Hà Nội hội tụ và toả sáng” của Giáo sư Trần Văn
Bính chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003.
Các công trình nói trên đã hệ thống, khái quát hoá các giá trị văn hoá, các di
sản văn hoá tiêu biểu của Thăng Long- Hà Nội- nguồn lực to lớn cho phát triển du
lịch ở Thủ đô Hà Nội.
Về hoạt động du lịch ở Hà Nội có thể kể tới các công trình sau:
- “Hà Nội trung tâm du lịch của Việt Nam”của Giáo sư Trần Quốc Vượng và
nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Thường, Nguyễn Vinh Phúc, Nxb Thế giới, Hà Nội,
1996.

- “Những giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch trên địa bàn Hà Nội", Luận
án Tiến sĩ của Bùi Thị Nga, Hà Nội,1996.
- “Du lịch Hà Nội hướng tới 1000 năm Thăng Long” của Nhà nghiên cứu Nguyễn
Vinh Phúc, Nxb Hà Nội, 2000.
- “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của Thủ đô" của Tiến
sĩ Nguyễn Quang Lân, Tạp chí Du lịch Việt Nam, số 2/2005.
Các công trình nói trên đã phân tích thực trạng hoạt động du lịch ở Hà Nội
trong thời gian qua và đề xuất các phương hướng, giải pháp cho phát triển du lịch ở
Thủ đô trong thời gian tới.
Về mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch có các công trình tiêu biểu:
- “Du lịch và vấn đề giữ gìn văn hoá dân tộc ở Hà Nội” của Phó Giáo sư- Tiến sĩ
Lê Hồng Lý, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 2/2000.
- “Quan hệ du lịch - văn hoá và triển vọng ngành du lịch Việt Nam” của Thạc sĩ
Ngô Kim Anh, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, Số 2/2000.
- “Về hiệu quả kinh tế - xã hội của văn hoá qua hoạt động du lịch” của Tiến sĩ

hoá và du lịch.
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được tiến hành là phân tích, tổng hợp,
thống kê, điều tra xã hội học…

6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
-Đề tài góp phần giải quyết cơ bản mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch trên
bình diện lý luận.
- Phân tích đánh giá những giá trị của di sản văn hoá Thăng Long - Hà Nội
nguồn lực cho phát triển du lịch ở Thủ đô.
- Đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm giải quyết tốt
mối quan hệ giữa văn hoá Thăng Long - Hà Nội đối với sự phát triển du lịch ở thủ đô
hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn gồm 3 chương, 7 tiết. Chương 1
Những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa văn hoá
và du lịch trong quá trình đổi mới ở nước ta
1.1. quan niệm về văn hoá
1.1.1. Khái niệm văn hoá
Một quan niệm đầy đủ về bản chất của văn hoá ngày càng được xác định. Nếu
trước đây khái niệm văn hoá chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp trong giới hạn các hoạt
động văn học, nghệ thuật thì ngày nay văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng là tổng thể
các hệ thống giá trị bao gồm các mặt tình cảm, tri thức, vật chất và tinh thần của xã
hội do con người sáng tạo ra trong hoạt động thực tiễn - lịch sử của mình, trong mối
quan hệ giữa con người với tự nhiên và xã hội.Trong lễ phát động:
Thập kỷ thế giới phát triển văn hoá“ (Pari tháng 12/1986) Ông F.
Mayor Tổng giám đốc UNESCO đã cho rằng: “Văn hoá là tổng thể sống

kỳ lớn lao trong sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến
đậm đà bản sắc dân tộc khi mà Đảng ta xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần của
xã hội".
1.1.2. Vai trò của văn hoá đối với phát triển kinh tế - xã hội
Trước đây do thiếu hiểu biết, nhiều người vẫn giữ quan niệm cho rằng: Văn
hoá như là một lĩnh vực đứng ngoài kinh tế, do kinh tế trợ cấp, chỉ khi kinh tế phát
triển thì mới có điều kiện mở mang các hoạt động văn hoá, nâng cao đời sống tinh
thần của con người. Với quan niệm đó, văn hoá được coi như là một hoạt động có

tính giải trí, khi kinh tế còn khó khăn thì ít người quan tâm đến văn hoá, và rõ ràng
trong điều kiện đó thì người ta không thể nhận thấy vai trò của văn hoá đối với phát
triển kinh tế.
Trong thời gian gần đây, từ việc xem xét sự phát triển của nhiều quốc gia mà
đặc biệt là các quốc gia ở khu vực châu á - Thái Bình Dương, người ta đã tìm thấy
những dấu ấn và đặc trưng văn hoá trong phát triển của các quốc gia đó. Thực tế đó
đã khiến người ta không chỉ thừa nhận sự tác động của các yếu tố văn hoá vào quá
trình phát triển kinh tế, mà còn đi sâu xem xét vai trò của văn hoá cũng như tầm
quan trọng của việc đưa các yếu tố văn hoá vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Văn hoá và kinh tế có sự gắn bó tác động biện chứng với nhau. Kinh tế phải
bảo đảm được nhu cầu sống tối thiểu của con người sau đó mới đảm bảo điều kiện
cho văn hoá phát triển. Kinh tế không thể phát triển nếu không có một nền tảng văn
hoá, đồng thời văn hoá không chỉ phản ánh kinh tế mà còn là nhân tố tác động đến
phát triển kinh tế. Sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc chỉ có thể năng động, hiệu
quả, bền vững chừng nào quốc gia đó đạt được sự phát triển kết hợp hài hoà giữa
kinh tế với văn hoá.
Văn hoá mang tính đặc thù của từng quốc gia, từng dân tộc, là những di sản quí
báu tích luỹ được qua nhiều thế hệ, mang đậm bản sắc của quốc gia, dân tộc đó.
Nhưng đồng thời với quá trình phát triển, kế thừa và giữ gìn bản sắc riêng đó, nó còn
tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các quốc gia, dân tộc khác, làm cho văn hoá vừa
đậm đà bản sắc dân tộc, vừa có tính thời đại phù hợp với sự phát triển kinh tế trong

nhân tố văn hoá không thể thiếu vắng trong động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế
và tiến bộ văn hoá.
Theo khẳng định của UNESCO: “Nước nào tự đặt cho mình mục tiêu phát
triển kinh tế mà tách rời môi trường văn hoá, thì nhất định sẽ xảy ra những mất cân

đối nghiêm trọng cả về kinh tế lẫn văn hoá, và tiềm năng sáng tạo của những ấy sẽ bị
suy yếu rất nhiều” [60, tr.5].
Văn hoá ngày nay đang trở thành một nhân tố tham gia trực tiếp vào quá trình
phát triển kinh tế. Trong bất kỳ thời kỳ nào, quốc gia nào, con người nào cũng đều
đóng vai trò quyết định với quá trình sản xuất. Mà con người trước hết là một thực
thể văn hoá. Tố chất con người (tinh thần yêu nước, trình độ khoa học kỹ thuật, tinh
thần tổ chức xã hội, tính nhân văn, nhân bản…) cao thấp có ý nghĩa quyết định sức
mạnh của văn hoá. Sự phát triển của mỗi quốc gia không phải chỉ ở tài nguyên thiên
nhiên giàu có, đa dạng mà quyết định là ở sự sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con
người, ở trong hàm lượng và sự phân bố tài nguyên tri thức trong cơ cấu sản xuất…
Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn coi trọng văn hoá, giáo dục đào tạo và
khoa học công nghệ. Các văn kiện Hội nghị Trung ương khoá VII, VIII, IX của Đảng
Cộng sản Việt Nam đã nhấn mạnh văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là
mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội.
Yếu tố nền tảng của văn hoá ở đây là sự hiểu biết, là tri thức, kinh nghiệm và
sự khôn ngoan tích luỹ được trong quá trình học tập, lao động, đấu tranh để duy trì
và phát triển cuộc sống con người. Muốn đạt được mục tiêu công nghiệp hoá, hiện
đại hoá cần phải có sự hiểu biết về tri thức, kinh nghiệm, khoa học công nghệ hiện
đại của nhân loại, đồng thời phải biết phát huy các giá trị của truyền thống văn hoá.
Nhân tố nền tảng này nếu được khai thác và biết cách phát huy thì sẽ trở thành một
động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế.
Kinh nghiệm cho thấy, so với nước Mỹ thì Nhật Bản còn có một số kỹ thuật
nhập khẩu từ Mỹ, nhưng con đường để cho các xí nghiệp của Nhật Bản vượt các xí
nghiệp Mỹ về tăng năng suất lao động lại chính là việc sử dụng các yếu tố truyền
thống trong đó phải kể đến tinh thần gia tộc và tinh thần quần thể của người Nhật.

hoá đối với các giá trị truyền thống dân tộc. Logíc tồn tại của nền văn hoá dân tộc
hiện nay đang diễn ra trong hai quá trình: quá trình đẩy nhanh sự hợp tác trao đổi và

quá trình gia tăng bản sắc của dân tộc. Hai quá trình này thống nhất biện chứng trong
quá trình toàn cầu hoá. Chúng ta nhất thiết phải mở cửa, phải hội nhập để đón nhận
những giá trị mới của nhân loại, đó là lẽ sống còn của dân tộc nhưng mở cửa để hội
nhập và phát triển, mở cửa phải giữ vững nền độc lập dân tộc và gắn liền với chủ
nghĩa xã hội, giữ được cơ cấu và giá trị nội sinh của văn hoá dân tộc.
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới và trong xu thế toàn cầu hoá, các quan
hệ kinh tế sẽ mang lại sự hưởng thụ các sản phẩm vất chất và tinh thần của nhân loại
với giá rẻ hơn, tiện nghi thuận lợi hơn song nó có khả năng thúc đẩy lối sống tiêu thụ
thực dụng, làm tha hoá nhân cách, làm rối loạn những giá trị xã hội, nó phá vỡ sự cân
bằng của môi trường truyền thống, nó thương mại hoá không ít các hoạt động văn hoá
và quan hệ xã hội. Hệ giá trị làng xã Việt Nam với một cơ cấu cộng đồng bền chặt
đang phải thử thách trước làn sóng đầu tư trong quá trình toàn cầu hoá. Các mối quan
hệ trong gia đình, làng xóm có phần lỏng lẻo dần. Khát vọng làm giàu của các thế hệ
đặc biệt là thanh niên đang gia tăng trước thời cơ và vận hội này với không ít lệch lạc
làm thay đổi cơ cấu giá trị của nền kinh tế cũ để chuyển sang nền kinh tế thị trường.
Việt Nam đã tham gia hội nhập Hiệp hội các nước Đông Nam á (aSEAN),
tham gia diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC) tiến tới gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) nhằm liên kết các giá trị khu vực và quốc
tế trong bối cảnh toàn cầu hoá và khu vực hoá gia tăng mạnh mẽ. Chúng ta cũng
bước đầu xây dựng một chiến lược giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.
Trong chiến lược này, văn hoá được coi là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hoá vừa
là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế-xã hội. Để Việt Nam phát triển
được trong quá trình toàn cầu hoá, trước hết phải quan tâm xây dựng nền văn hoá
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Nền văn hoá đó xác lập hệ giá trị cơ bản là yêu
nước và tiến bộ với nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,
có chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưỏng Hồ Chí Minh làm định hướng và thước đo giá
trị.

truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại.
- Nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất mà đa dạng của một quốc
gia dân tộc thống nhất; tổng hoà các tinh hoa văn hoá của các dân tộc anh em cùng
chung sống trên mảnh đất Việt Nam.
- Văn hoá là một mặt trận, người làm văn hoá là chiến sỹ trên mặt trận ấy.
- Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là sự nghiệp sáng tạo
của toàn dân do Đảng lãnh đạo, đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân là lực lượng quan
trọng.
- Có chính sách đầu tư thích đáng cho văn hoá, văn nghệ, khoa học, giáo
dục…, coi đầu tư cho văn hoá là đầu tư cho phát triển. Phát triển các hoạt động văn
hoá, văn nghệ của Nhà nước, tập thể và các cá nhân bảo đảm định hướng chính trị
của Đảng và Nhà nước, đồng thời bảo đảm quyền tự do sáng tạo của các nhà hoạt
động văn hoá…
Kết luận Hội nghị Trung ương 10 khoá IX của Đảng đã khẳng định: “Đảm bảo
sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng, chỉnh đốn Đảng
là then chốt với không ngừng nâng cao văn hoá - nền tảng tinh thần xã hội… bảo
đảm cho sự phát triển toàn diện và bền vững của đất nước” [33, tr.4].
1.2. Quan niệm về du lịch
1.2.1. Khái niệm du lịch
Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không
chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam.
Mặc dù vậy cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung khái niệm du
lịch vẫn chưa có sự thống nhất.

Với những cách tiếp cận khác nhau, các học giả đã đưa ra những khái niệm
khác nhau về du lịch: Theo từ nguyên, trong tiếng Anh “to tour" có nghĩa là dã
ngoại; trong tiếng Pháp “tour“ có nghĩa là đi dạo chơi, leo núi, vận động ngoài trời;
trong tiếng Việt, du lịch là một từ đã có từ lâu gắn liền với các chuyến đi: Kinh lý,
tham quan, vãn cảnh, thăm viếng… của các nho sỹ, các tầng lớp vua chúa, quan lại,
các nhà truyền giáo…

từ cái nhìn toàn diện này:
“Du lịch là các hoạt dộng có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư
trú thường xuyên của mình nhằm thoả đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ
dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định” [42, tr.9].
1.2.2. Vai trò của du lịch đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống xã
hội. Du lịch đã khẳng định được vai trò to lớn trong nền kinh tế quốc dân của các nước
như một ngành “công nghiệp không khói ”.
Trong những năm gần đây, hoạt động du lịch đang trở nên phổ biến trên toàn
cầu và phát triển với tốc độ nhanh. Theo số liệu của Tổ chức Du lịch thế giới thì năm
1950 toàn thế giới có 25 triệu du khách, đến năm 1990 con số này đã lên tới 450
triệu (tăng 18 lần sau 20 năm). Tính riêng trong vòng mười năm gần đây số khách du
lịch quốc tế đã tăng từ 339 triệu năm 1986 lên 592 triệu năm 1996 và đến năm 2000
con số này đạt tới 637 triệu và khoảng 937 triệu vào năm 2010.
Theo tính toán của các chuyên gia du lịch quốc tế, chỉ trong vòng 36 năm (từ
1960 - 1996) thu nhập từ du lịch của thế giới đã tăng 62 lần (từ 6,8 tỷ USD năm
1960 tăng lên 423 tỷ USD năm 1996), riêng năm 1995 ngành du lịch toàn cầu đã tạo

việc làm cho 212 triệu người và dự tính đến năm 2005 con số này sẽ lên tới 338 triệu
trên phạm vi toàn thế giới.
Nhiều tài liệu nghiên cứu cũng đã chỉ rõ: Du lịch là ngành lớn nhất thế giới,
tính theo sản phẩm thu được, là ngành đứng đầu về thu thuế, là ngành có khả năng
nhất trong việc tạo công ăn việc làm cho người lao động, giảm tỷ lệ thất nghiệp lao
động. Từ 1990-1993, số người làm việc trong ngành du lịch tăng nhanh hơn 50% so
với tốc độ tăng công ăn việc làm trên thế giới. Hội đồng Du lịch và Kinh doanh du
lịch thế giới ước tính: Du lịch và kinh doanh du lịch tạo ra cho 144 triệu việc làm
trên thế giới từ 2000 đến 2005, trong đó 112 triệu là ở các nước đang phát triển
thuộc khu vực châu á - Thái Bình Dương. Họ đã tính số tiền khách du lịch chi trả
cho các chuyến du lịch sẽ tăng từ 450 tỷ USD năm 1998 lên 555 tỷ USD năm 2000
và 1500 tỷ USD vào năm 2010. Như vậy sau 20 năm nữa du lịch rất có thể sẽ trở

Đánh giá về kết quả hoạt động du lịch trong thời gian qua đồng chí Vũ Khoan,
Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Trưởng ban chỉ đạo Nhà nước về du lịch đã nhận
định:
Hoạt động du lịch khởi sắc đã tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho
hàng hoá và dịch vụ sản xuất trong nước, khôi phục nhiều nghề thủ công
truyền thống, góp phần vào sự phát triển của hàng không, văn hoá - thông
tin và các ngành khác liên quan đến du lịch, tạo nhiều việc làm mới, góp
phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế cả nước và từng địa phương,
thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, mở rộng giao lưu giữa các vùng,
miền trong nước và quốc tế [37, tr.53].
1.3. Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch
Giữa văn hoá và du lịch luôn có mối liên hệ khăng khít, mật thiết. Đó là khai
thác và phát huy các di sản và giá trị văn hoá, một bộ phận thiết yếu nhất của nguồn
tài nguyên du lịch, việc phát triển du lịch hướng vào mục tiêu văn hoá, nâng cao tố
chất văn hoá trong kinh doanh du lịch…

1.3.1. Di sản văn hoá, giá trị văn hoá là nguồn lực cho phát triển du lịch
Chúng ta đã nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vị trí đặc biệt quan trọng của văn
hoá Việt Nam đối với sự phát triển toàn diện đất nước về kinh tế, chính trị, xã hội trong
đó có du lịch, một ngành kinh tế đang trở thành mũi nhọn trong chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội nước ta trong thế kỷ XXI.
Nhiều người đã khẳng định rằng nếu không có truyền thống, vẻ đẹp độc đáo,
những giá trị và công trình văn hoá thì du lịch Việt Nam sẽ không phát triển mạnh
được, sẽ mất đi sự hấp dẫn riêng của nó.
Trong Luật Du lịch được ban hành năm 2005 thì tài nguyên du lịch được xác
định là “cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình
lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng
nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến
du lịch, đô thị du lịch” [42, tr.9].
Với nhận định trên, có thể khẳng định rằng phần lớn tài nguyên du lịch là các

Chẳng hạn, Chùa Việt Nam là điểm hẹn rất hấp dẫn của khách du lịch quốc tế
và nội địa. Đây vừa được coi là nơi linh thiêng thu giữ khí trời đất, vừa luôn gắn liền
với xóm làng, vừa là nơi giải toả và thanh lọc tâm hồn con người. Vì vậy nó có sức
hẫp dẫn lôi cuốn mạnh mẽ du khách, trở thành yếu tố không thể thiếu được trong tổ
chức các loại hình du lịch, các cuộc hành hương của du khách trong và ngoài nước.
ở hà Nội, số chùa đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá là 116 chùa,
trong đó có nhiều chùa nổi tiếng như chùa Một Cột, chùa Trấn Quốc, chùa Cổ Loa…

Hà Tây có 90 chùa được công nhận, trong đó có nhiều chùa là di sản quý hiếm
của cả nước như chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trầm, chùa Trăm Gian, chùa
Hương, chùa Đậu, chùa Mía…
ở Bắc Ninh, Bắc Giang có tới 44 chùa được công nhận là di tích, trong đó có
chùa Phật Tích, chùa Dâu nổi tiếng.
ở Nam Định có chùa Keo, chùa Cổ Lễ
ở Nam Bộ các ngôi chùa Khơmer có vị trí đặc biệt đối với đồng bào Khơmer
và đối với cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và chùa là nơi giáo dục toàn dân, là
thư tàng cổ, là điểm gặp gỡ vui chơi của dân phum sóc trong các ngày lễ. Bên cạnh
đó chúng ta lại tự hào với những địa đạo, những khu căn cứ cách mạng, nhà tù chính
trị như địa đạo Củ Chi, nhà tù Côn Đảo, Hoả Lò… đó là những di tích, những bằng
chứng sống của cuộc chiến tranh khốc liệt mà oai hùng của Đảng và nhân dân ta
trong thế kỷ XX. Những di tích đó đã và đang được bảo tồn, phát huy. Du khách về
đây là dịp hồi tưởng về quá khứ chiến tranh yêu nước và cách mạng, các di tích đó
có tính giáo dục cao về truyền thống anh hùng của dân tộc Việt Nam.
Cùng với các di tích lịch sử văn hoá như là những tài nguyên tĩnh thì các loại
hình văn hoá phi vật thể là tài nguyên động của du lịch Việt Nam. Tính chất động
của nó đặc biệt do gắn liền với hoạt động của con người, tái hiện, tái tạo của bản
thân con người trong quá khứ và hiện tại làm sống lại lịch sử trong tính toàn vẹn,
tính hình tượng cụ thể cảm tính, sinh động của nó, tạo nên môi trường du lịch độc
đáo và sức hấp dẫn kỳ lạ đối với khách du lịch từ nơi xa đến (những lễ hội dân gian,
những chương trình nghệ thuật cổ truyền, những làn điệu dân ca…) chẳng hạn như

Có thể nói, văn hoá là nguồn tài nguyên chủ yếu của du lịch. Môi trường thiên
nhiên và môi trường văn hoá, nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng đối với du lịch
vì chúng chính là nguồn tài nguyên, là yếu tố cơ sở cho phát triển du lịch. Ngày nay,
xu hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hoá đang trở thành
những loại hình du lịch chủ yếu trong xu thế phát triển của ngành du lịch. ở nhiều

nước trên thế giới kinh nghiệm cho thấy rằng nếu quốc gia nào có truyền thống văn
hoá lâu đời, có nhiều danh lam thắng cảnh thì quốc gia đó sẽ có thị trường du lịch
hấp dẫn.
Số liệu thống kê của một số nghiên cứu do Uỷ ban châu Âu tiến hành cho thấy
20% du khách đến châu Âu với động cơ văn hoá, 60 % du khách người châu Âu
quan tâm đến việc tìm hiểu, khám phá các sự kiện, hiện tượng văn hoá trong chuyến
đi của họ.
Văn hoá còn góp phần cấu thành nên môi trường văn hoá cho du lịch. Văn hoá
làm cho du khách sung sướng, vừa lòng, những tình cảm tốt lành, những kỷ niệm
đẹp cho du khách sau những chuyến đi. Văn hoá cung cấp tri thức, các phép ứng xử
văn minh lịch sự cho hoạt động du lịch.
Một trong những lĩnh vực góp phần phát triển tốt cho lễ hội là du lịch. Mặt
khác du lịch cũng tìm thấy ở lễ hội một chỗ dựa vững chắc, một kho tàng phong phú
để khai thác nhằm phát triển sự nghiệp của mình.
Trong các cuộc hội nghị bàn về chiến lược phát triển văn hoá Việt Nam đến
năm 2010, nhiều ý kiến cho rằng không có yếu tố truyền thống, vẻ đẹp độc đáo,
những giá trị và công trình văn hoá, du lịch Việt Nam sẽ không phát triển mạnh
được, sẽ mất đi sự hấp dẫn riêng của nó. Vì du lịch chính là để hiểu hơn văn hoá
Việt Nam đặc biệt là văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam với 54 dân tộc anh em
mang sắc thái khác nhau, song cùng hoà quyện với sắc thái thiên nhiên tạo thành bức
tranh văn hoá hết sức độc đáo giàu truyền thống được lưu truyền trong các bảo tàng,
sự khéo léo của các làng nghề truyền thống, cách xử sự nồng nhiệt đậm đà thú vị qua
các món ăn ẩm thực, phong tục tập quán riêng qua các lễ hội…Số liệu thống kê thời
gian qua cho biết:

Trích đoạn Quản lý nhà nước về du lịch và sự phát triển văn hoá Xây dựng môi trường văn hoá trong hoạt động du lịch Bảo vệ tôn tạo và phát huy các di sản văn hoá trong hoạt động du lịch Đa dạng hoá các sản phẩm và loại hình du lịch của Hà Nộ Tạo khả năng tăng trưởng nhanh nguồn du khách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status