LUẬN VĂN: Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay - Pdf 11

LUẬN VĂN:
Phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay Lời nói đầu Trong thời kì đầu của xã hội loài người từ khi lực lượng sản xuất phát triển
và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền khinh tế tự nhiên và
chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nền kinh tế hàng hoá phát triển càng
mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường có
những ưu việt của nó , đó là sự thoả mãn tối đa nhu cầu của con người vói một
khối lượng hàng hoá khổng lồ. Tuy nhiên nó cũng bộc lộ những hạn chế , nhất là
trong chế độ xã hội TBCN , một chế độ xã hội ở đó chỉ có lợi nhuận được chú
trọng hàng đầu dẫn đến sự phân hoá xã hội sâu sắc và quyền bình đẳng trong xã

xuất hàng hoá. Chỉ thị 1000 của ban bí thư trung ương và quyết định số 25/CP của
chính phủ năm 1981 đã để cho các hợp tác xã tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã khẳng định quá trình từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cung tự
cấp thành nền kinh tế hàng hoá. Điều quan trọng là ở đây chúng ta không chỉ thừa
nhận từng khâu, từng phần sản phẩm là sản xuất hàng hoá mà là cả một nền kinh
tế hàng hoá coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lên sản xuất lớn XHCN ở
nước ta.
Tuy nhiên, lúc này vẫn coi kế hoạch là đặc trưng số một, quan hệ hàng
hoá tiền tệ ở vị trí số hai.
Đại hội VII của Đảng đã tiế xa hơn, cho rằng “Thị trường có vai trò trực
tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn linh hoạt các mặt hàng quy mô, công
nghệ và hình thức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hợp
tác và cạnh tranh ”. Rồi “Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN đang trở thành cơ chế vận hành nền kinh tế. ”
Nền kinh tế Việt Nam đang bước sang một trang mới, một quá trình phát
triển lịch sử mới. Do vậy việc lựa chọn kinh tế thị trường là đúng đắn vì nền kinh
tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Nó là hình
thức phát triển cao của kinh tế hàng hoá. Theo Mác: “sản xuất và trao đổi hàng hoá là một nét chung cho hình thái kinh tế xã hội hết sức khác nhau ”. Mặt khác ở
nước ta đã có những bước xây dựng và đạt được một số thành tựu trong quá trình
phát triển kinh tế hàng hoá. Nên việc chuyển sang kinh tế thị trường là một đIều
đương nhiên.
Mặt khác, kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội có thể dung hoà. Chế độ sở
hữu không quyết định trực tiếp thể chế kinh tế, thông qua cơ cấu quyền sở hữu tài
sản được hình thành bởi một chế độ sở hữu nào đó, tác động gián tiếp đến thể ché
kinh tế. Vì vậy, trong điều kiện chế độ công hữu XHCN, xã hội có thể thực hiện
đượcthể chế kinh tế thị trường, nếu sở hữu nhà nước được phân giảI thành các

tế có được thu nhập,lượng thu nhập này có thể nhiều hay ít là tuỳ thuộc
vào tính chất của công việc và thể hiện ở sự phân phối cho ai ? Chính vì
vậy thị trường thực hiện chức năng phân phối của quá trình táI sản xuất.
- Thị trường là nơi cuối cùng để chuyển lao động tư nhân, cá biệt thành
lao động xã hội. Chi phí cá biệt có được xã hội chấp nhận hay không sẽ
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
2. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi chuyển sang kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN:
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, chúng ta đứng trước thực trạng là:
đất nước đang từng bước quá độ lên CNXH từ một xã hội vốn là thuộc địa nửa
phong kiến với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội rất thấp. Đất nước
lại phải trải qua hàng chục năm chiến tranh, tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều,
lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Với điểm xuất phát ấy có thể thấy rằng: nền kinh tế nước ta không hoàn
toàn là nền kinh tế tự nhiên nữa nhưng cũng chưa phải là kinh tế hàng hoá theo
nghĩa đầy đủ. Mặt khác do đổi mới kinh tế nên nền kinh tế nước ta không còn là
nền kinh tế chỉ huy. Có thể nói nền kinh tế nước ta khi chuyển sang kinh tế thị
trường, là nền kinh tế hàng hoá kém phát triển, còn mang nặng tính tự cấp tự túc
và chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Thực trạng đó được thể hiện ở các mặt sau: Thứ nhất: Kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, nền kinh tế còn mang
nặng tính chất tự nhiên. sự yếu kém của kinh tế hàng hoá ở nước ta thể hiện ở :
Trình độ cơ sở vật chất – kỹ thuật và công nghệ sản xuất còn thấp kém (
do chiến tranh kéo dài, cơ sở hạ tầng bị phá huỷ nặng nề, mặt khác mọi chi phí
thời bấy giờ tập trung cho chiến tranh nên chưa có đIều kiện tập trung cho sản xuất
)
Hệ thống kết cấu hầng, phục vụ sản xuất và phục vụ xã hội chưa đủ để
phát triển kinh tế thị trường trong nước và chưa có khả năng mở rộng giao lưu với

trường, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường vẫn chưa tới bước tiến bộ về kinh
tế hơn hẳn trước đây và tạo ra khả năng dẫn tới các bước ngoặt quyết định. Vì vậy
phải tiếp tục thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngày càng
thông suốt, đầy đủ và thống nhất trên cả nướ, gắn liền cới thị trường nước ngoài.
Năng suất lao động và thu nhập quốc dân theo đầu người còn thấp, như
vậy rõ ràng lá nền kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, cơ cấu kinh tế còn mất cân
đối, thị trường trong nước chưa phát triển.
Theo số liệu thống kê của ngân hàng thế giới năm 1991 thì mức thu
nhập bình quân đầu người ở nước ta so với các nước đang phát triển ở Đông Nam
á vào loại thấp nhất. Theo sự dự đoán của các nhà kinh tế Việt Nam thì
GNP/người, năm 2000 là 250 USD trong khi đó Singapore là 22520 USD , Thái
Lan là 2315 USD , Thụy Sỹ >40000 USD.
Thứ hai: ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp.
Chính những nhược điểm lạc hậu của cơ chế này đã kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế, nó xoá bỏ quan hệ hàng hoá tiền tệ làm nền kinh tế bị “ hiện
vật hoá ”. Một cơ chế lệnh kế hoạch, lệnh giá cả, tài chính tiền tệ theo quy tắc cấp
phát giao nộp nhằm thực hiện kế hoạch, một cơ chế mà phạm trù giá cả, tài chính,
lưu thông tiền tệ là những phạm trù vốn có của kinh tế hàng hoá mà dù có được sử
dụng thì cũng chỉ là hình thức – gần như đối lập với nền kinh tế hàng hoá vận
động theo cơ chế thị trường. ở mặt quan hệ tổ chức hành chính cơ chế kinh tế ấy là
cơ chế quản lý chủ yếu theo lệnh tập trung nhưng lại điều hành bởi nhiều đầu mối của các ngành chức năng (công nghiệp , nông nghiệp …), kiểu một dàn nhạc có
nhiều nhạc trưởng nên mang tính chất phân tán.
ở mặt quan hệ kinh tế, cơ chế ấy thể hiện quan hệ giao nộp, thu mua
cấp phát. Sản xuất và kinh doanh được tiến hành gần như là ở khu vực hành chính
sự nghiệp hay hậu cần quân đội tạo đIều kiện cho sự phát triển kinh tế, suy yếu,
triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, gây hiện tượng ỉ nại, dựa dẫm, lười biếng, tạo

Do vậy quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường đồng thời
cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập với thị trường thế giới.
Trong bối cảnh hiện nay, bài học về sự kết hợp sức mạnh đân tộc với
sức mạnh của thời đại trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do trước đây lại
một lần nữa sống động trong công cuộc phát triển đất nước.
Quan hệ quốc tế của ta đã có nhiều đổi mới quan trọng, ta chuyển từ
quan hệ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất cả các nước không chỉ với
các nước XHCN như trước nữa. Vì vậy mà hoạt động kinh tế đã có những tiến bộ
lớn. Xuất khẩu hàng hoá tăng nhanh với nhịp độ 20%/năm (1986-1992 ) bảo đảm
nhập khẩu các loại vật tư và cônh nghệ chủ yếu, cải thiện cán cân thanh toán quốc
tế. Ta đã nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục được những hụt hẫng về nguồn
vốn và thị trường từ các nước SNG và Đông Âu. Hàng hoá xuất khẩu của ta đẫ tìm
được những thị trường mới trong khu vực Đông Nam á và Tây Âu. nguồn vốn
nước ngoài vào Việt Nam cũng tăng nhanh.
Trong khi hoà nhập vào thị trường thế giới và đẩy mạnh hoạt động thương
mại cần áp dụng có hiệu quả nguyên tắc lợi thế so sánh. Từ đó để xác định rõ cần
sản xuất và cung ứng cho thị trường loại hàng hoá nào, và số lượng bao nhiêu để
từ đó xác định quy mô sản xuất.
Những năm gần đây, lợi thế so ssánh của ta đã và đang chú ý và phát huy:
đó là sự phong phú của tài nguyên thiên nhiên ( về số lượng loại ), nhuồn nhân lực
dồi dào với tiền công thấp và vị trí lãnh thổ thuận lợi. Bên cạnh đó nhà nước lại có
chính sách đầu tư hấp dẫn, tạo đIều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Ta tiếp tục coi trọng các thị trường truỳên thống, nhanh chóng thâm nhập vào các
thị trường mới, mở rộng thị trường khu vực cải tiến cơ cấu suất khẩu theo hướng tăng tỉ trọng các chế biến, giảm tỉ trọng xuất khẩu nguyên liệu tạo ra các sản phẩm
xuất khẩu chủ lực như dầu mỏ, nông-lâm-thuỷ-hải sản…phát triển dịch vụ vận tải
hàng không, thông tin liên lạc…
Để làm được những vấn đề đó Nhà Nước cần có những chính sách bảo hộ

+ Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
XHCN:
Đại hội III của Đảng năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan
đIểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước
ta. Quan đIểm này đã được tái khẳng định rõ hơn ở Đại hội lần thứ VII, VIII của
Đảng ta. Gắn với giai đoạn này là nội dung : phát triển và mở rộng quan hệ hàng
hoá, tiền tệ tạo đIều kiện cho kinh tế hàng hoá phát triển. Cùng những giải pháp
chủ yếu:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ổn định của hệ thống kinh tế quốc dân cũng như ổn
định chính trị xã hội. Thúc đẩy ngành trọng đIểm mũi nhọn tạo sự tích
luỹ đồng bộ để thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào tạo công
ăn việc làm cho người lao động.
- Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố của
thị trường, phát huy những ưu thế và động lực của thị trường đồng thời
hạn chế những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường.
Hiện nay ở nước ta thị trường đầu ra của sản xuất, khả năng cạnh tranh
của hàng nội địa còn kém nên cần nâng cao chất lượng sản phẩm và phấn đấu
giảm giá cả hàng hoá.còn ở thị trường đầu vào của sản xuất cần hình thành nhanh
chóng thị trường tiền vốn và thị trường lao động. Sở dĩ cần như vậy là vì trình độ
thị trường là phản ánh trình độ phát triển của cơ chế hàng hoá, thúc đẩy sản xuất
hàng hoá phát triển hơn. Nó vừa là đIều kiện vừa là môi trường của sản xuất
- Hoàn thịên và tăng cừng vận dụng các chính sách tài chính và tiền tệ. - Bồi dưỡng và đào tạo càn bộ quản lý doanh nghiệp theo yêu cầu của kinh
tế thị trường.
- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước nhằm phát huy những ưa thế
khắc phục những khuyết tật của cơ chế thị trường.

chỉ thị 150 của ban bí thư (1981) đến nghị quyết 10 của bộ chính trị (1988), nghị
quyết trung ương V (khoá 7) tháng 6/1993 và kì họp thứ 3 quốc hội khoá IX đã
thông qua luật ruộng đất, giao quyền sử dụng lâu dài cho người dân, cùng với cơ
chế một giá theo thị trường với sản phẩm nông nghiệp và mở rộng hình thức tổ
chức sản xuất làm thay đổi phương thức canh tác, nâng cao năng suất. Đến nay
nông sản phẩm đã có phần dư thừa và đã trở thành một nước xuất khẩu gạo nổi
tiếng trên thế giới cùng với ngô, sắn, mía, đường. Tóm lại, chúng ta đã và đang
trong giai đoạn thay đổi cơ cấu ngành.
Về công nghiệp: Đã có sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Năm 1990 có khoảng
60% sản lượng công nghiệp thuộc về sở hữu nhà nước còn 40% thuộc về khu vực
tư nhân và hợp trong khu vực quốc doanh. Giá trị xuất khẩu hàng năm tăng trên
60%,trong đó dầu thô là mặt hàng có kim ngạch lớn nhất hiện nay. Đến năm 2001
sản lượng dầu khai thác được là 17 triệu tấn, với kim ngạch 3,17 tỷ USD. Dự đoán
năm 2002 kim ngạch xuất khẩu đạt 2,6 tỷ USD. Ngành dệt may:đã xâm nhạp vào
gần 30 nước- đặc biệt cả các thị trường khó tính như EU, Mĩ, Nhật. Năm 2001 giá
trị đạt 2,1 tỷ USD. Dự kiến năm 2002 đạt 2,4 tỷ USD.
Về xây dựng cơ bản: Những năm gần đây đã tăng thêm. Xét về cơ cấu
thì việc đầu tư trong khu vực Nhà Nước cũng có nhiều điều chưa hợp lý, tỷ lệ đầu
tư cho ngành nông nghiệp còn rất ít so với nhu cầu cần thiết. Ta phải vay vốn và
cho nước ngoài đầu tư trực tiếp. Các dự án đầu tư nước ngoài chủ yếu vào lĩnh vực
thăm dò và khai thác dàu khí, than, vàng, đá quý, sản xuất hàng xuất khẩu, chế
biến nông, lâm, hải, sản, xây dựng khác sạn, nhà ở, du lịch,GTVT, bưu chính viễn
thông với quy mô không lớn lắm. Gần đây đầu tư cho kết cấu hạ tầng, y tế- giáo
dục được quan tâm hơn. Do vậy cán cân thanh toán quốc tế được cải thiện. Tỷ lệ xuất khẩu so với GDP tăng mạnh trong thời kỳ đổi mới. Phần nhập khẩu cũng chỉ
nhập những mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất là chính, từ đó tỷ lệ lạm phát
giảm, đồng tiền Việt Nam ổn định. Tuy lãi suất tiền gửi có giảm nhưng không gây
sự phản ứng trong dân chúng bằng cách rút tiền gửi khỏi ngân hàng, bằng chính

Một là: Giữ vững quyền sở hữu trong tay nhà nước- chỉ nhà nước là duy
nhất có chủ quyền sở hữu toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
Hai là: Nhà nước xác định rõ những ngành kinh tế, những lĩnh vực mà
kinh tế quốc doanh cần dữ vai trò chủ đạo. Đó là những ngành, những lĩnh vực
đảm bảo sự chi phối hoạt động thống nhất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đảm
bảo cho an ninh quốc gia và an toàn xã hội như: hệ thống cảng biển, sân bay,
đường sắt, quản lý mạng lưới đường quốc lộ, hệ thống phân phối đIện quốc gia,
liên lạc viễn thông, hệ thống quỹ dự trữ quốc gia, các cơ sở kinh tế phục vụ quốc
phòng an ninh, những cơ sở phục vụ công cộng đảm bảo nhu cầu sinh hoạt thường
xuyên của nhân dân…
Ba là: Nhà nước đầu tư xây dựng mạnh các xí nghiệp quốc doanh khẳng
định cần tồn tại để mau chóng vượt lên và đứng vững trên thị trường, cơ sở vật
chất, trang thiết bị công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất của các xí nghiệp quốc
doanh được đầu tư xứng đáng từ đó đứng vững trong cạnh tranh với các doanh
nghiệp tư nhân.
Bốn là: Hỗ trợ việc xây dựng và hoạt động của kinh tế HTX trong các
ngành và lĩnh vực kinh tế với đa dạng hình thức tổ chức và hoạt động bảo đảm
đúng với các nguyên tắc hợp tác vì lợi ích tập thể.
Năm là: Tổ chức lại hệ thống thương nghiệp quốc doanh và HTX mua
bán nhằm cung ứng hàng hoá và tiêu thụ sản phẩm cho các vùng miền núi và trung
du, các vùng đồng bào đân tộc ít người, xa xôi hẻo lành, hải đảo…để đảm bảo
công bằng xã hội và các mục tiêu kinh tế – xã hội – chính trị trong phát triển, bảo
vệ quyền lợi của người lao động.
Sáu là: Có các chính sách kích thích cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích
các doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị công nghệ. Từ đó nâng cao chất
lượng sản phẩm, dịch vụ. Đồng thời có những chính sách ngăn chặn những hoạt động làm hàng giả, hàng kém phẩm chất cấm nhập thiết bị công nghệ cũ – thuộc
diện đào thải của nước ngoài.

Giai đoạn hiện nay ở nước ta vừa phải có tốc độ tăng trưởng kinh tế vừa
phải giải quyết chống nghèo nàn và thất nghiệp. Do đó các nhân tố xã hội phải
thường xuyên giải quyết đi liền với các nhân tố kinh tế để đảm bảo tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là nguồn gốc của cho sự phát triển xã hội và
ngược lại, phát triển xã hội chính là động lực cho sự phát triển kinh tế.
Nhà nước cần đIều chỉnh các hình thức sở hữu và cách phân phối sẽ tạo ra
một cơ chế kinh tế mới trong nền kinh tế nước ta. Đồng thời phải đầu tư phát triển
các doanh nghiệp cùng các thành phần kinh tế khác để hỗ trợ, giảI quyết việc làm
góp phần giải quyết việc làm và làm phát triển kinh tế. HTX phải được phát triển
trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng dưới dạng cổ phần và liên doanh…, kinh tế
tư nhân được phát triển bình đẳng và có thể đan xen vào các thành phần kinh tế
khác.
Quá trình vận nền kinh tế ở nước ta sẽ tạo một cơ cấu kinh tế mới, cơ cấu
đó có một phần do tự đIều chỉnh và một phần do Nhà Nước đIều tiết để có sự ổn
định và cân bằng mới. Đặc tính của cơ cấu kinh tế này là nó phải thể hiện được
tính xã hội hoá ngày càng cao, tính cộng đồng trong sản xuất, kinh doanh ngày
càng mở rộng, quy mô các loại và công trình công cộng ngày càng lớn và được sử
dụng có hiệu quả gắn chặt với tốc độ phát triển kinh tế.
Nhà Nước với chức năng của mình sẽ góp phần tích cực tạo lập, nuôi
dưỡng và quản lý nền kinh tế là đặc trưng quan trọng trong cơ chế thị kinh tế
trường ở nước ta, đảm bảo công bằng, ổn định và tăng trưởng.
Cơ chế thị trường có khả năng tự điều chỉnh nền kinh tế phát triển
nhưng nó có những khuyết tật là sự phân biệt giàu nghèo, môi trường và phúc lợi
xã hội. Bởi vậy cần có sự can thiệp của nhà nước để kinh tế phát triển theo đúng
hướng của nó.
Nhà nước ta được hình thành và phát triển do quá trình đấu tranh cách
mạng của nhân dân ta, nhà nước đó phải mưu cầu hạnh phúc cho dân tộc. Bởi vậy nó phải đóng vai trò bà đỡ giúp cho thị trường phát triển đúng hướng bằng hệ
Tài liệu tham khảo

1. Đào Nguyên Các: Bàn về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa –
Thời báo kinh tế (Số 26/1/4/1998).
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên Chủ nghĩa xã hội – Nhà xuất bản dân tộc Hà Nội năm 1991.
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ VII, VIII.
4. Nguyễn Ngọc Quang: Vai trò kinh tế của nhà nước và khả năng định hướng xã
hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta – Nghiên cứu kinh tế tháng
4/1996.
5. Trần Xuân Trường: Định hướng xã hội chủ nghĩa-một số vấn đề lý luận cấp
bách – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1996.
6. Mai Hữu Thực: Về đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam – Tạp chí Cộng Sản số 4 tháng 2/2000. Mục lục
Lời nói đầu
Nội dung
I. Tính tất yếu của sự phát triển KTTT định hướng XHCN ở nước ta
1. Thị trường và vai trò thị trường
2. Thực trạng của nền kinh tế việt nam khi chuyển sang KTTT theo định
hướng XHCN.
3. Thực chất của quá trình chuyển nền kinh tế việt nam sang KTTT và phát
triển theo định hướng XHCN.
II. Các giai đoạn và biện pháp hình thành phát triển KTTT theo định
hướng XHCN ở việt nam
III. Một số kết quả đạt được từ khi phát triển KTTT định hướng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status