Cơ sở tồn tại của kinh tế thị trờng và giải pháp
phát triển kinh tế thị trờng định hớng Xã hội chủ
nghĩa ở nớc ta
I.Mở Đầu
Sau khi đất nớc hoàn toàn độc lập, Đảng và nhân dân ta đã cùng nhau tiến
hành cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa, quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. Đảng và
nhà nớc ta chủ trơng xây dựng nhà nớc xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế xã hội,
nhng lúc đó, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng là nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung, chính vì thế mà nền kinh tế nớc ta không thể phát triển và càng lâm vao suy
thoái, trớc tình hình đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI( tháng 12 năm 1986)
Đảng ta đã quyết định đổi mới kinh tế, xoá bỏ nền kinh tế kế hoạch hoá, chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự
quản lí của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa.
Hội nghị Trung ơng Đảng 6, khoá VI, đã khẳng định phát triển nền kinh tế
hàng hoá là việc làm cần thiết, đến Đại hội VII( tháng 6-1991) Đảng tiếp tục nói
rõ hơn về chủ trơng này và đã khẳng định đây là chiến lợc, là con đờng đi lên chủ
nghĩa xã hội cuả Việt Nam. Cơng lĩnh xây dựng đất nớc trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội của Đảng khảng định: Phát triển nền kinh tế nền kinh tế hàng
hoá nhiều thành phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị
trờng có sự quản lí của Nhà nớc. Đại hội Đảng VIII (tháng 6- 1996) đa ra một kết
luận mới rất quan trọng: Sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ nghĩa xã hội
mà là thành tựu phát triển của nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho cần thiết
cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã đợc xây
dựng, nhng lúc đó mới có khái niệm về nền kinh tế hàng hoá, cơ chế thị trờng, mãi
đến Đại hội Đảng IX ( tháng 4-2001) mới chính thức đa ra khái niệm kinh tế thị
trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Đại hội khẳng định: Phát triển kinh tế thị trờng
định hớng xã hội chủ nghĩa là đờng lối nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát
trong suốt thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt nam. Đây là kết quả sau
1
nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết thực tiễn; và là bớc phát triển mới về t duy
lí luận của Đảng cộng sản Vịêt nam.
II.Nội Dung
1. Cơ sở lí luận
1.1 Kinh tế thị trờng
1.1.1 Khái niệm kinh tế thị trờng
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngời là lịch sử phát triển không ngừng của
lực lợng sản xuất và phân công lao động, đồng thời cũng là quá trình thay thế lẫn
nhau của các phơng thức sản xuất xã hội. Nhng bất kì nền sản xuất xã hội nào
cũng đều giải quyết bốn vấn đề lớn: sản xuất cái gì? Với số lợng là bao nhiêu? Sản
xuất nh thế nào? Sản xuất cho ai và phân phối sản phẩm nh thế nào? Giải quyết
những vấn đè này có hai kiểu tổ chức kinh tế-xã hội, đó là: Kinh tế tự nhiên và
kinh tế hàng hoá(giai đoạn cao là kinh tế thị trờng).
Kinh tế tự nhiên là hình thức kinh tế đàu tiên của xã hội loài ngời. Kinh tế tự
nhiên là nền kinh tế trong đó sản phẩm sản xuất ra nhằm thoả mãn nhu cầu cá
nhân của ngời sản xuất trong nội bộ kinh tế nhất định. Ngời sản xuất quyết định về
số lợng, chủng loại sản phẩm theo yêu cầu của mình, gắn với điều kiện tự nhiên và
phong tục tập quán cổ truyền. Trình độ phân công lao động, phơng thức tổ chức
sản xuất còn thấp và giản đơn: mang tính tự cấp tự, tự túc, khép kín theo từngvùng,
địa phơng, lãnh thổ. Trong các xã hội công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ,
phong kiến chủ yêu là nền kinh tế tự nhiên.
Kinh tế hàng hoá ra đời từ khi kinh tế tự nhiên, kế tiếp kinh tế tự nhiên trên cơ sở
sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự tách biệt về kinh tế của những
ngời sản xuất.
Đó cũng là hình thức kinh tế mà ngời sản xuất ra sản phẩm không để thoả mãn
nhu cầu trực tiếp của mình, mà nhằm để trao đổi, để bán ra thị trờng. Vì vậy, số l-
ợng và chủng loại suy cho cùng là do ngời mua quyết định, đợc thực hiện thông
qua trao đổi trên thị trờng.
Kinh tế hàng hoá ra đời từ rất sớm- vào thời kì tan rã của chế độ công xã
nguyên thuỷ và dã từng tồn tại trong nhiều phơng thức sản xuất. Hình thức đầu
tiên của nó là kinh tế hàng hoá. Đó là kiểu sản xuất do những ngời nông dân, thợ
và quá trình tái sản xuất gắn chạt với thị trờng .Quan hệ kinh tế giữa những ngời
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị trờng , qua việc mua bán sản phẩm
của nhau. Việc sản xuất những loại hàng hoá gì, cần có những loại dịc vị nào đều
phải xuất phát từ nhu cầu của thị trờng. Mọi sản phẩm đi vào sản xuất, phân phối,
trao đổi, tiêu dùng đều phải thông qua thị trờng .Quan hệ hàng hoá- tiền tệ phát
triển, mở rộng và phổ biến trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Lợng sản
xuất xã hội ngày càng phát triển, trình độ phân công lao động ngày càng cao thì
thị trờng càng mở rộng. Hệ thống thị trờng quốc gia trở nên thống nhất và gắn
liền với thị trờng thế giới.
1.1.2 Điều kiện hình thành của kinh tế thị trờng
Thứ nhất là, phải tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Kinh tế thị trờng là giai đoạn
phát triển cao của kinh tế hàng hoá nên những điều kiện để phát triển kinh tế hàng
hoá nên những điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá là điều kiện để phát triển
kinh tế thị trờng. Vì vậy, đẩy mạnh phân công lao động xã hội và đa dạng hoá các
hinh thức sơ hữu về t liệu sản xuất và sản phẩm đợc coi là điều kiện để phát triển
kinh tế thị trờng.
Thứ hai là, phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế, t do sản xuất xã hội kinh doanh.
Trong một nên kinh tế, có nhiều ngời cùng sản xuất một loại sản phẩm và ngợc lại,
mỗi đơn vị sản xuất và ngời tiêu dùng cũng cần nhiều loại sản phẩm hàng hoá
khác nhau. Vì vậy, việc lựa chọn mối quan hệ bạn hàng giữa các chủ thể kinh tế,
tự do trao đỏi mua bán là điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình giải phóng sức
sản xuất và điều hoà lợi ích giữa ngời mua và ngời bán.Sự tự do kinh tế còn đợc
thể hiện tập trung qua giá cả hình thành trên thị trờng tuân theo sự chi phối của
các quy luật kinh tế trong sản xuất và lu thông hàng hoá. Trong nền kinh tế thị tr-
4
ờng, việc trao đổi hàng hoá theo giá cả thị trờng - giá cả thoả thuận giữa ngời mua
và ngời bán, là sự gặp gỡ giữa cung- cầu, là biểu hiện tác động của quy luật giá trị.
Nói đến kinh tế thị trờng thì phải nói đén tự do cạnh tranh, hay nói đúng hơn, cạnh
tranh là môi trờng của kinh tế thị trờng, là quy luật cua kinh tế thị trờng. Cạnh
Trong nền kinh tế nớc ta, tồn tại nhiều hình thức sở hu, đó là sở hữu toàn dân,
sở hữu tập thể, sở hữu t nhân gồm sở hữu cá thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu t bản t
nhân, sở hữu hỗn hợp. Do đó tồn tại nhiều chủ thể kinh tế độc lập lợi ích riêng,
nên quan hệ kinh tế giữa họ chỉ có thể thực hiện bằng quan hệ hàng hoá tiền tệ.
Nền kinh tế quá độ trong thời kì quá độ là nền kinh tế nhiều thành phần với
nhiều hình thức sở hữu khác nhau, do đó mà có nhiều chủ thể kinh tế khác nhau.
Các chủ thể kinh tế này độc lập, tách biệt nhau không phục thuộc vào nhau, mặc
dù họ đều nằm trong một hệ thống phân công lao động xã hội. Trong sản xuất và
đời sống, các chủ thể kinh tế vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau cùng tồn tại.
Quan hệ kinh tế gia họ chỉ có thể thực hiện bằng con đờng trao đổi hàng hoá theo
cơ chế thị trờng. Hơn nữa chính sự phát triển kinh tế hàng hoá là cách tốt nhất để
5
sử dụng có hiệu quả những tiềm năng kinh tế của thành phần kinh tế. Thành phần
kinh tế Nhà nớc và kinh tế tập thể, tuy cũng dựa trên chế độ công hữu về t liệu sản
xuất, nhng các đơn vị kinh tế vẫn có sự khác biệt nhất định, có quyền tự chủ trong
sản xuất kinh doanh, có lợi ích riêng. Mặt khác các đơn vị kinh tế có sự khác nhau
về trình độ kĩ thuật công nghệ, về trình độ tổ chức quản lí, nên chi phí sản xuất và
hiệu quả sản xuất cũng khác nhau. Các doanh nghiệp nhà nớc mặc dù đều dựa trên
sở hữu toàn dân mà nhà nớc là đại diện trong quan hệ kinh tế với nhau cũng đều
phải thông qua quan hệ hàng hoá tiền tệ. Mặc dù các doanh nghiệp nhà nớc đều
dựa trên sở hữu nhà nớc, nhng đợc giao quyền sử dụng t liệu sản xuất khác nhau,
vì vậy mà các doanh nghiệp nhà nớc mang tính chất là lao động t nhân độc lập,
không phụ thuộc vào nhau. Lao động t nhân của mỗi doanh nghiệp nhà nớc chỉ đ-
ợc thừa nhận là một bộ phận của lao động xã hội khi nào mà sản phẩm của doanh
nghiệp làm ra đợc bán hết trên thị trờng xã hội. Do nhiều nhân tố tác động(trình
độ cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ tay nghề của ngời lao động, trình độ tổ chức
quản lí ) mà giữa các doang nghiệp nhà n ớc có sự khác nhau về hiệu qủa sản
xuất kinh doanh, do vậy giữa các doanh nghiệp nhà nớc có sự khác biệt về lợi ích
kinh tế, làm cho tính độc lập không phụ thuộc vào nhau của các doanh nghiệp nhà
nớc ngày càng rõ rệt. Do đó quan hệ hàng hoá tiền tệ giữa các doanh nghiệp nhà
phát theo con đeờng TBCN. Trái lại, mục đích của kinh tế thị trờng TBCN là nhằm
phục vụ lợi ích các nhà t bản, xây dựng kinh tế cho các CNTB, bảo vệ chế đọ t
bản, phát triển TBCN. Ngày nay CNTB đang có nhiều cố gắng trong tổ chức quản
lí nền kinh tế là để bảo vệ sự tồn tại của mình.
Về chế độ sở hữu: Dới CNTB nền tảng của chế độ sở hữu là sở hữu t nhân
TBCN. Còn ở nớc ta hiện nay, thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hữu nhng
chế độ công hữu vẫn là chủ yếu đợc coi là nên tảng, giữ vị trí thống trị, vừa là mục
tiêu, vừa là phơng tiện, là đặc trng có tính quy định bản chất XHCN của nền kinh
tế. Đảng ta đã khẳng định:" sở hữu nói riêng, quan hệ sản xuất nói chung không
chỉ giản đơn là phơng tiện nh mọi phơng tiện thông thờng, có thể thay đổi tuỳ tiện
phơng tiện này bằng phơng tiện khác, mà là bộ phận cấu thành hữu cơ của một
hình thái kinh tế -xã hội nhất định. Chủ nghiã xã hội có những đặc trng riêng về sở
hữu đó. Nền tảng của sở hữu này là chế độ công hữu xã hội chủ nghĩa về t liệu
kinh tế dới hai hình thức sở hữu nhà nớc và sở hữu tập thể.
Về thành phần kinh tế: Dới TBCN, nền kinh tế có nhiều thành phần(t bản t
nhân, kinh tế nhà nớc, liên doanh, kinh tế t bản nhà nớc ) nh ng do Nhà nớc t sản
quản lí và do t bản t nhân chi phối, kinh tế t nhân là chủ đạo. Còn ở nớc ta hiện
nay cũng có nhiều thành phần kinh tế, trong đó có cả kinh tế t bản t nhân, nhng do
Nhà nớc XHCN quản lí, kinh tế nhà nớc cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở
thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân XHCN.
Về chế độ quản lí: Trong thời đại hiện nay, kinh tế thị trờng TBCN và kinh tế
thị trờng định hớng XHCN đều cần có sự quản lí của Nhà nớc, không để cho bàn
tay vô hình là thị trờng chi phối . Nhng điểm khác biệt là ở bản chất của hai Nhà
nớc. Nhà nớc t sản, nền dân chủ t sản bảo vệ lợi ích của thiểu số giai cấp t sản,
những ngời có của, còn Nhà nớc XHCN là Nhà nớc của dân, do dân, vì dân và do
Đảng Cộng Sản lãnh đạo, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân lao động. Về quản
lí, trong kinh tế thị trờng TBCN chủ yếu là "cá lớn nuốt cá bé", hình thành các
công ty siêu quốc gia, xuyên quốc gia, các tập đoàn lớn cạnh trạnh nhau quyết liệt.
Kinh tế thị trờng định hớng XHCN ở nớc ta có sự quản lí của Nhà nớc XHCN kết
hợp với tính định hớng và cân đối của kế hoạch với tính năng động và nhạy cảm