LUẬN VĂN: Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay - Pdf 11

LUẬN VĂN:
Phát triển kinh tế thị trường định
hướng XHCN ở nước ta hiện nay Lời nói đầu
Trong thời kì đầu của xã hội loài người từ khi lực lượng sản xuất phát triển
và có nhiều thành tựu mới, con người dần thoát khỏi nền khinh tế tự nhiên và
chuyển sang nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Nền kinh tế hàng hoá phát triển càng
mạnh mẽ và đến đỉnh cao của nó là nền kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường có

XHCN. Sự định hướng của xã hội hùng mạnh lấy cơ sở “nhân dân lao động làm
chủ, con người được giải phóng khỏi áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực,
hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có đIều kiện phát triển toàn
diện cá nhân”. Xã hội có nền kinh tế phát triển cao trên cơ sở khoa học công nghệ
và lực lượng sản xuất hiện đại.
Sự định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta là cần thiết và
có tính khách quan. Xây dựng nền kinh tế thị trường không có gì mâu thuẫn với
định hướng XHCN. Đại hội đảng VIII đã khẳng định: “ cơ chế thị trường đã phát
huy tác dụng đến sự phát triển kinh tế xã hội. Nó chẳng những không đối lập mà
còn là một nhân tố khách quan cần thiết của việc xây dựng và phát triển đất nước
theo con đường XHCN ”
Ngay từ tháng 8 năm 1979, Nhà nước ta đã chủ trương phát triển sản
xuất hàng hoá. Chỉ thị 1000 của ban bí thư trung ương và quyết định số 25/CP của
chính phủ năm 1981 đã để cho các hợp tác xã tự chủ trong sản xuất kinh doanh.
Đại hội Đảng VI, tháng 12 năm 1986 đã khẳng định quá trình từ sản
xuất nhỏ lên sản xuất lớn ở nước ta là quá trình chuyển từ nền kinh tế tự cung tự
cấp thành nền kinh tế hàng hoá. Điều quan trọng là ở đây chúng ta không chỉ thừa
nhận từng khâu, từng phần sản phẩm là sản xuất hàng hoá mà là cả một nền kinh tế hàng hoá coi đó là một quá trình có tính quy luật đi lên sản xuất lớn XHCN ở
nước ta.
Tuy nhiên, lúc này vẫn coi kế hoạch là đặc trưng số một, quan hệ hàng
hoá tiền tệ ở vị trí số hai.
Đại hội VII của Đảng đã tiế xa hơn, cho rằng “Thị trường có vai trò trực
tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn linh hoạt các mặt hàng quy mô, công
nghệ và hình thức sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hợp
tác và cạnh tranh ”. Rồi “Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN đang trở thành cơ chế vận hành nền kinh tế. ”
Nền kinh tế Việt Nam đang bước sang một trang mới, một quá trình phát

cả và lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường.
- Thị trường là trung tâm của toàn bộ quá trình tái sản xuất hàng hóa.
Những vấn đề cơ bản của nền sản xuất hàng hoá là sản xuất cái gì? sản
xuất như thế nào?và cho ai? đều phải thông qua thị trường. Vì vậy, thị
trường đóng vai trò hoạt động và phương án sản xuất, kinh doanh có hiệu
quả.
- Thị trường các yếu tố sản xuất hay thị trường đầu vào là nơi mua bán
các yếu tố sản xuất. Thông qua thị trường này mà nhà kinh doanh mua
được các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, sức lao động, có vốn để
sản xuất kinh doanh. Ngược lại, người có tư liệu sản xuất, sức lao động
vốn, thực hiện được việc mua bán, có thu nhập để tái sản xuất ra các yếu
tố đó. Thông qua việc trao đổi mua bán trên thị trường các chủ thể kinh
tế có được thu nhập,lượng thu nhập này có thể nhiều hay ít là tuỳ thuộc
vào tính chất của công việc và thể hiện ở sự phân phối cho ai ? Chính vì
vậy thị trường thực hiện chức năng phân phối của quá trình táI sản xuất.
- Thị trường là nơi cuối cùng để chuyển lao động tư nhân, cá biệt thành
lao động xã hội. Chi phí cá biệt có được xã hội chấp nhận hay không sẽ
quyết định sự thành bại của doanh nghiệp.
2. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam khi chuyển sang kinh tế thị
trường theo định hướng XHCN: Khi chuyển sang kinh tế thị trường, chúng ta đứng trước thực trạng là:
đất nước đang từng bước quá độ lên CNXH từ một xã hội vốn là thuộc địa nửa
phong kiến với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất xã hội rất thấp. Đất nước
lại phải trải qua hàng chục năm chiến tranh, tàn dư thực dân phong kiến còn nhiều,
lại chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Với điểm xuất phát ấy có thể thấy rằng: nền kinh tế nước ta không hoàn
toàn là nền kinh tế tự nhiên nữa nhưng cũng chưa phải là kinh tế hàng hoá theo
nghĩa đầy đủ. Mặt khác do đổi mới kinh tế nên nền kinh tế nước ta không còn là

doanh với hình thức thuê mướn còn thô sơ mà phần lớn sử dụng chế độ lao động
theo biên chế. Ta cũng chưa có thị trường tiền tệ và thị trường vốn hoặc đã có
nhưng mới chỉ ở mức độ thô sơ.
Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Về khách quan trình
độ phát triển của phân công lao động thấp. Về mặt chủ quan là do nhận thức chưa
đúng đắn về nền kinh tế XHCN, do sự phân biệt duy ý chí giữa thị trường có tổ
chức và thị trường tự do. Với những quan niệm quy tư liệu sản xuất lưu chuyển
trong nội bộ các xí nghiệp quốc doanh là hàng hoá đặc biệt không được mua bán
tự do, lại do quản lý theo chiều dọc – theo chức năng kinh doanh của từng ngành
một cách máy móc dẫn đến hiện tượng cửa quyền cắt đứt mối quan hệ tự nhiên
giữa các ngành, dẫn đến thị trường bị chai cắt, manh mún.
Từ đó ta thấy với tất cả tính phức tạp và các mặt tiêu cực xảy ra trên thị
trường, việc chuyển sang nền kinh tế thị trường vẫn chưa tới bước tiến bộ về kinh
tế hơn hẳn trước đây và tạo ra khả năng dẫn tới các bước ngoặt quyết định. Vì vậy
phải tiếp tục thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của thị trường ngày càng
thông suốt, đầy đủ và thống nhất trên cả nướ, gắn liền cới thị trường nước ngoài.
Năng suất lao động và thu nhập quốc dân theo đầu người còn thấp, như
vậy rõ ràng lá nền kinh tế hàng hoá còn kém phát triển, cơ cấu kinh tế còn mất cân
đối, thị trường trong nước chưa phát triển. Theo số liệu thống kê của ngân hàng thế giới năm 1991 thì mức thu
nhập bình quân đầu người ở nước ta so với các nước đang phát triển ở Đông Nam
á vào loại thấp nhất. Theo sự dự đoán của các nhà kinh tế Việt Nam thì
GNP/người, năm 2000 là 250 USD trong khi đó Singapore là 22520 USD , Thái
Lan là 2315 USD , Thụy Sỹ >40000 USD.
Thứ hai: ảnh hưởng của mô hình kinh tế chỉ huy với cơ chế tập trung quan
liêu bao cấp.
Chính những nhược điểm lạc hậu của cơ chế này đã kìm hãm sự phát
triển của nền kinh tế, nó xoá bỏ quan hệ hàng hoá tiền tệ làm nền kinh tế bị “ hiện

xuất lớn “đòn xeo” là nền kinh tế hàng hoá. Chính Mác đã coi sự phát triển của
kinh tế hàng hoá là xuất phát điểm và là điều kiện quan trọng nhất không thể thiếu
được đối với sự ra đời và phát triển của nền sản xuất lớn TBCN. Về sau khi nội
chiến kết thúc Lê Nin cũng chủ trương thi hành chính sách kinh tế mới (NEP) để
khởi động sự sống động của nền kinh tế, mở rộng giao lưu hàng hoá giữa thành thị
và nông thôn, thực hiện các quan hệ kinh tế bằng hình thức quan hệ hàng hoá tiền
tệ trên thị trường.
Đối với nước ta quá trình chuyển sang nền kinh tế thị trường có nhưỡng
đặc điểm khác với các nước Đông Âu và Liên Xô cũ. Trong khi họ đi lên từ một
nền kinh tế phát triển, đã được cơ khí hoá, thoát khỏi tính chất tự nhiên thì chúng
ta đi lên từ một nền kinh tế còn mang nặng tính chất tự cấp tự túc, đó cũng là mô
hình nền kinh tế chỉ huy với cơ chế kế hoạch hoá tập trung đối lập với thị trường.
Do vậy quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang kinh tế thị trường đồng thời
cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập với thị trường thế giới.
Trong bối cảnh hiện nay, bài học về sự kết hợp sức mạnh đân tộc với
sức mạnh của thời đại trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do trước đây lại
một lần nữa sống động trong công cuộc phát triển đất nước.
Quan hệ quốc tế của ta đã có nhiều đổi mới quan trọng, ta chuyển từ
quan hệ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất cả các nước không chỉ với
các nước XHCN như trước nữa. Vì vậy mà hoạt động kinh tế đã có những tiến bộ lớn. Xuất khẩu hàng hoá tăng nhanh với nhịp độ 20%/năm (1986-1992 ) bảo đảm
nhập khẩu các loại vật tư và cônh nghệ chủ yếu, cải thiện cán cân thanh toán quốc
tế. Ta đã nhanh chóng điều chỉnh và khắc phục được những hụt hẫng về nguồn
vốn và thị trường từ các nước SNG và Đông Âu. Hàng hoá xuất khẩu của ta đẫ tìm
được những thị trường mới trong khu vực Đông Nam á và Tây Âu. nguồn vốn
nước ngoài vào Việt Nam cũng tăng nhanh.
Trong khi hoà nhập vào thị trường thế giới và đẩy mạnh hoạt động thương
mại cần áp dụng có hiệu quả nguyên tắc lợi thế so sánh. Từ đó để xác định rõ cần

quan trọng là nghị quyết BCHTW lần VI ( khoá IV ), tháng 9 năm 1979. Về mặt
logic thì bắt đầu từ việc hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá
theo đúng nghĩa nhằm tạo ra mối quan hệ vừa tự chủ vừa lệ thuộc lẫn nhau giữa
các chủ thể sản xuất. Giai đoạn nằy mang nội dung chủ yếu là khắc phục tính hiện
vật trong quan hệ trao đổi, hình thành quan hệ hàng hoá tiền tệ. cùng với nội dung
ấy là các giải pháp chủ yếu sau:
- Hình thành và củng cố những đơn vị sản xuất hàng hoá nhằm
chuyển quan hệ trao đổi có tính hiện vật sang quan hệ hàng hoá tiền tệ.
- Chuyển quan hệ sở hữu có tính đơn nhất sang quan hệ sở hữu có
tính đa dạng với nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
- Đổi mới chính sách kinh tế nhằm chuyển các quan hệ kinh tế
theo chiều dọc sang các quan hệ kinh tế theo chiều ngang.
+ Giai đoạn phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng
XHCN:
Đại hội III của Đảng năm 1986 đã đặt nền móng vững chắc cho quan
đIểm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước
ta. Quan đIểm này đã được tái khẳng định rõ hơn ở Đại hội lần thứ VII, VIII của
Đảng ta. Gắn với giai đoạn này là nội dung : phát triển và mở rộng quan hệ hàng
hoá, tiền tệ tạo đIều kiện cho kinh tế hàng hoá phát triển. Cùng những giải pháp
chủ yếu:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá. Để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ổn định của hệ thống kinh tế quốc dân cũng như ổn
định chính trị xã hội. Thúc đẩy ngành trọng đIểm mũi nhọn tạo sự tích
luỹ đồng bộ để thu hút được nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài vào tạo công
ăn việc làm cho người lao động.
- Chủ động tạo điều kiện cần thiết để xây dựng đồng bộ các yếu tố của
thị trường, phát huy những ưu thế và động lực của thị trường đồng thời

dựng đất nước.
Nói tóm lại,để thành công trong quá trình hình thành xây dựng và phát
triển nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta cần theo
đúng trình tự cộng các giai đoạn và giải quyết tốt các yêu cầu đặt ra để phát triển
một cách toàn diện, tránh những thất bại không đáng có.

III. Một số kết quả đạt được từ khi phát triển kttt định hướng XHCN
ở nước ta
Sau hơn 10 năm thực hiện việc chuyển đổi cơ chế kinh tế từ cơ chế kế
hoạch tập trung sang cơ chế thị trường đã làm thay đổi về mọi mặt của nền kinh
tế-xã hội nước ta.
Về nông nghiệp: Những năm 80 sản xuất nông nghiệp bị cản trở do
không khuyến khích đối với hoạt động tư nhân, cá thể và giá cả bị bóp méo. Từ
chỉ thị 150 của ban bí thư (1981) đến nghị quyết 10 của bộ chính trị (1988), nghị
quyết trung ương V (khoá 7) tháng 6/1993 và kì họp thứ 3 quốc hội khoá IX đã
thông qua luật ruộng đất, giao quyền sử dụng lâu dài cho người dân, cùng với cơ
chế một giá theo thị trường với sản phẩm nông nghiệp và mở rộng hình thức tổ
chức sản xuất làm thay đổi phương thức canh tác, nâng cao năng suất. Đến nay
nông sản phẩm đã có phần dư thừa và đã trở thành một nước xuất khẩu gạo nổi
tiếng trên thế giới cùng với ngô, sắn, mía, đường. Tóm lại, chúng ta đã và đang
trong giai đoạn thay đổi cơ cấu ngành.
Về công nghiệp: Đã có sự thay đổi cơ cấu kinh tế. Năm 1990 có khoảng
60% sản lượng công nghiệp thuộc về sở hữu nhà nước còn 40% thuộc về khu vực tư nhân và hợp trong khu vực quốc doanh. Giá trị xuất khẩu hàng năm tăng trên
60%,trong đó dầu thô là mặt hàng có kim ngạch lớn nhất hiện nay. Đến năm 2001
sản lượng dầu khai thác được là 17 triệu tấn, với kim ngạch 3,17 tỷ USD. Dự đoán
năm 2002 kim ngạch xuất khẩu đạt 2,6 tỷ USD. Ngành dệt may:đã xâm nhạp vào
gần 30 nước- đặc biệt cả các thị trường khó tính như EU, Mĩ, Nhật. Năm 2001 giá

triển kttt của nước ta trong giai đọan tới:
1 - Các biện pháp đảm bảo định hướng XHCN trong phát triển kinh
tế thị trường.
Phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là một tiến trình phức
tạp lâu dài và khó khăn. khi hình thành nền kinh tế thị trường cơ cấu xã hội trở nên
phức tạp và khó nắm bắt, đồng thời nếu như không định hướng tốt thì cơ chế thị
trường sẽ bị chệch hướng. Do đó để tiếp tục giữ vững định hướng XHCN trong
khi đổi mới cơ chế cần thực hiện một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo sự phát
triển bền vững của toàn bộ nền kinh tế, đồng thời phaỉ giữ đúng hướng đi của nền
kinh tế. Giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu trên chính là việc đề cao vai
trò của kinh tế nhà nước, bên cạnh đó là các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể
được phát triển mạnh, cần phát huy tính tích cực định hướng nền kinh tế của các
thành phần kinh tế nhà nước.
Muốn làm được những điều ấy cần:
Một là: Giữ vững quyền sở hữu trong tay nhà nước- chỉ nhà nước là duy
nhất có chủ quyền sở hữu toàn bộ lãnh thổ quốc gia.
Hai là: Nhà nước xác định rõ những ngành kinh tế, những lĩnh vực mà
kinh tế quốc doanh cần dữ vai trò chủ đạo. Đó là những ngành, những lĩnh vực
đảm bảo sự chi phối hoạt động thống nhất của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đảm
bảo cho an ninh quốc gia và an toàn xã hội như: hệ thống cảng biển, sân bay,
đường sắt, quản lý mạng lưới đường quốc lộ, hệ thống phân phối đIện quốc gia,
liên lạc viễn thông, hệ thống quỹ dự trữ quốc gia, các cơ sở kinh tế phục vụ quốc
phòng an ninh, những cơ sở phục vụ công cộng đảm bảo nhu cầu sinh hoạt thường
xuyên của nhân dân… Ba là: Nhà nước đầu tư xây dựng mạnh các xí nghiệp quốc doanh khẳng
định cần tồn tại để mau chóng vượt lên và đứng vững trên thị trường, cơ sở vật
chất, trang thiết bị công nghệ, tổ chức quản lý sản xuất của các xí nghiệp quốc
doanh được đầu tư xứng đáng từ đó đứng vững trong cạnh tranh với các doanh

hiệu quả thì cần đề cao vai trò quản lý của nhà nước trong quá trình thực hiện định
hướng XHCN.
2. Vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN:
Trước đây do sai lầm về nhận thức, ta gắn kinh tế thị trường với CNTB
là đối lập với kế hoạch hoá và áp dụng máy móc mô hình quản lý kinh tế tập
trung, bỏ qua con đường sản xuất hàng hoá và duy trì khá dài kiểu sản xuất tự
cung tự cấp. Việc trao đổi hàng hoá bị hạn chế trong phạm vi quốc gia và giữa các
nước XHCN với nhau dẫn đến khủng hoảng kinh tế. Đó chính là lý do vì sao ta
cần phải đổi mới và kết quả ban đầu của sự đổi mới khẳng định sự sáng tạo của
toàn dân ta và tư duy của Đảng.
CNXH là ước mơ của dân ta từ lâu và là ý tưởng của Đảng, nó bao trùm
trong cấu trúc về chính trị – kinh tế – xã hội, không để tách bạch những đặc trưng
của nó trong hệ thống mục tiêu, cơ cấu và cơ chế kinh tế mà chúng ta hướng tới:
đó là dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng, văn minh và dân chủ.
Giai đoạn hiện nay ở nước ta vừa phải có tốc độ tăng trưởng kinh tế vừa
phải giải quyết chống nghèo nàn và thất nghiệp. Do đó các nhân tố xã hội phải
thường xuyên giải quyết đi liền với các nhân tố kinh tế để đảm bảo tốc độ tăng
trưởng kinh tế. Phát triển kinh tế là nguồn gốc của cho sự phát triển xã hội và
ngược lại, phát triển xã hội chính là động lực cho sự phát triển kinh tế.
Nhà nước cần đIều chỉnh các hình thức sở hữu và cách phân phối sẽ tạo ra
một cơ chế kinh tế mới trong nền kinh tế nước ta. Đồng thời phải đầu tư phát triển
các doanh nghiệp cùng các thành phần kinh tế khác để hỗ trợ, giảI quyết việc làm
góp phần giải quyết việc làm và làm phát triển kinh tế. HTX phải được phát triển
trên nguyên tắc tự nguyện, cộng đồng dưới dạng cổ phần và liên doanh…, kinh tế
tư nhân được phát triển bình đẳng và có thể đan xen vào các thành phần kinh tế
khác. Quá trình vận nền kinh tế ở nước ta sẽ tạo một cơ cấu kinh tế mới, cơ cấu
đó có một phần do tự đIều chỉnh và một phần do Nhà Nước đIều tiết để có sự ổn


Kết luận

Việt Nam hiện nay trong giai đoạn quá độ lên CNXH đó là một thời kỳ
phức tạp và đầy biến động, một thời kỳ xây dựng cơ sở vật chất hạ tầng cho
CNXH để hoàn thành cách mạng dân dân chủ.
Với điểm xuất phát thấp, điều kiện kinh tế khó khăn và có nhiều trở ngại.
Muốn phát triển kinh tế bền vững ta thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
là một tất yếu và cần thiết. Để tiếp tục thực hiện ta cần có định hướng cho nền
kinh tế phát triển, nhất là nền KTTT buộc nó phải đi theo con đường mà chúng ta
lựa chọn đó là xây dựng CNXH. Chính vì vậy chính sách phát triển của nền kinh
tế thị trường có sự định hướng XHCN là một yêu cầu cấp thiết và hợp lý của quy
luật phát triển, nó thể hiện tư tưởng tiến bộ, sáng suốt của Đảng. Trong khi thực
hiện từng bước sự chuyển đổi này chúng ta phải giữ vững định hướng XHCN,
đứng ngang tầm với mục tiêu phát triển kinh tế. Muốn vậy cần phải ngày càng
hoàn chỉnh bộ máy Nhà Nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo đưa nước
ta đi theo con đường XHCN như đã chọn.
Tài liệu tham khảo 1. Đào Nguyên Các: Bàn về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa –
Thời báo kinh tế (Số 26/1/4/1998).
2. Đảng Cộng Sản Việt Nam Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ
lên Chủ nghĩa xã hội – Nhà xuất bản dân tộc Hà Nội năm 1991.
3. Đảng Cộng Sản Việt Nam văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ VII, VIII.
4. Nguyễn Ngọc Quang: Vai trò kinh tế của nhà nước và khả năng định hướng xã
hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta – Nghiên cứu kinh tế tháng
4/1996.
5. Trần Xuân Trường: Định hướng xã hội chủ nghĩa-một số vấn đề lý luận cấp
bách – Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội năm 1996.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status