Tiểu luận vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở việt nam - Pdf 50

MỞ ĐẦU

Nước ta đang trên con đường tiến lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước và hội nhập quốc tế. Vì vậy, việc nắm vững các quan điểm thực tiễn, phát
triển lý luận nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập
quốc tế luôn là vấn đề cần thiết cần sự quan tâm của cả xã hội.
Trong xã hội, triết học là một bộ phận không thể tách rời với sự phát triển
của bất cứ hình thái kinh tế nào. Những vấn đề triết học về lý luận nhận thức và
thực tiễn, phương pháp biện chứng... luôn là cơ sở, là phương hướng, là tôn chỉ cho
hoạt động thực tiễn, xây dựng và phát triển xã hội cho hoạt động. Chúng ta biết
rằng, triết học là một trong ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác. Lênin đã chỉ
rõ rằng chủ nghĩa duy vật biện chứng đó chính là triết học của chủ nghĩa Mác. Cho
đến nay, chỉ có triết học Mác là mang tính ưu việt hơn cả. Trên cơ sở nền tảng triết
học Mác - Lênin, Đảng và Nhà nước ta đã học tập và tiếp thu tư tưởng tiến bộ, đề
ra những mục tiêu, phương hướng chỉ đạo chính xác, đúng đắn để xây dựng và
phát triển xã hội, phù hợp với hoàn cảnh đất nước. Mặc dù có những khiếm khuyết
không thể tránh khỏi song chúng ta luôn đi đúng hướng trong cải tạo thực tiễn,
phát triển kinh tế, từng bước đưa đất nước ta tiến kịp trình độ các nước trong khu
vực và thế giới về mọi mặt. Chính những thành tựu của xây dựng chủ nghĩa xã hội
và qua ba mươi năm đổi mới là minh chứng xác đáng cho vấn đề nêu trên. Hoạt
động nhận thức và cải tạo thực tiễn cùng với sự nắm bắt các quy luật khách quan
trong vận hành nền kinh tế ở nước ta là một vấn đề còn nhiều xem xét và tranh cãi,
nhất là trong quá trình đổi mới hiện nay. Vì vậy, em quyết định chọn nội dung
“Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình
đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam” làm
đề tài tiểu luận của mình.
Tiểu luận gồm có 3 phần chính:
Chương 1: Khái quát về lý luận và thực tiễn: Trình bày những khái niệm cơ
bản về lý luận, thực tiễn và mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn.
Chương 2: Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong
quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở Việt Nam.

sự vật, hiện tượng trong thế giới.
Nói cách khác, lý luận là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực
tiễn, phản ánh những mối liên hệ bản chất, những tính quy luật của thế giới khách
quan. Lý luận được hình thành không phải ở bên ngoài thực tiễn mà trong mối liên
hệ với thực tiễn. Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng, tác động qua
lại, trong đó, thực tiễn giữ vai trò quyết định.
Lý luận được hình thành trên cơ sở của quá trình nhận thức, nhưng không
phải là quá trình nhận thức trực tiếp đối tượng mà nó mang tính gián tiếp. Tức là
quá trình hình thành lý luận chỉ thông qua quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá.
Quá trình đó diễn ra trên cơ sở kết quả của tri thức khoa học.
Để hình thành tri thức khoa học, con người phải thông qua quá trình nhận
thức kinh nghiệm. Nhận thức kinh nghiệm là quá trình quan sát sự lặp đi lặp lại
diễn biến của các sự vật hiện tượng. Kết quả của nhận thức kinh nghiệm là tri thức
kinh nghiệm. Tri thức kinh nghiệm bao gồm tri thức kinh nghiệm thông thường và
2


tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh nghiệm tuy là thành tố của tri thức ở
trình độ thấp nhưng nó là cơ sở để hình thành lý luận.
Lý luận có những cấp độ khác nhau tùy phạm vi phản ánh và vai trò của nó,
có thể phân chia lý luận thành lý luận ngành và lý luận triết học.
Lý luận ngành là lý luận khái quát những quy luật hình thành và phát triển
của một ngành. Nó là cơ sở để sáng tạo tri thức cũng như phương pháp luận hoạt
động của ngành đó, như lý luận văn học, lý luận nghệ thuật...
Lý luận triết học là hệ thống những quan niệm chung nhất về thế giới và con
người, là thế giới quan và phương pháp luận nhận thức và hoạt động của con
người.
Lý luận cũng có lý luận khoa học, là những lý luận được hình thành trên cơ
sở tư duy khoa học, là kết quả của nhận thức khoa học và được thực tiễn kiểm
nghiệm, các lý luận khoa học cũng chính là các chân lý tương đối, trong quá trình

Một số nhà triết học như Ph.Bêcơn, Đ.Diđơrô...đề cao vai trò của thực nghiệm
hóa học, chưa đề cập đến vai trò của các hình thức khác của thực tiễn đối với nhận
thức.
G.Hêghen tuy có đề cập đến thực tiễn, nhưng ông không coi thực tiễn là hoạt
động vật chất mà là hoạt động tinh thần.
L.Phoiơbăc chỉ coi lý luận mới là hoạt động đích thực, còn thực tiễn chỉ
được ông xem xét ở khía cạnh biểu hiện bẩn thỉu mà thôi.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong
lý luận nhận thức bằng cách đưa phạm trù thực tiễn vào trong lý luận nhận thức.
Lênin nhấn mạnh: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm
thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”
1.2.2. Thực tiễn là gì
Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất có tính xã hội – lịch sử của
con người nhằm biến đổi tự nhiên và xã hội để phục vụ cuộc sống của mình.
1.2.3. Các hình thức cơ bản của thực tiễn
Hoạt động thực tiễn có 3 hình thức cơ bản:
- Thực tiễn lao động sản xuất là hình thức thực tiễn cơ bản nhất, là hoạt động
trực tiếp tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất cho sự tồn tại và phát
triển của xã hội.
- Thực tiễn chính trị xã hội là hình thức thực tiễn cao nhất, là hoạt động của
con người trong các lĩnh vực chính trị xã hội nhằm phát triển và hoàn thiện các
thiết chế xã hội, các quan hệ xã hội làm địa bàn rộng rãi cho hoạt động sản xuất và
tạo ra những môi trường xã hội xứng đáng với bản chất con người bằng cách đấu
tranh giai cấp và cách mạng xã hội.
- Thực nghiệm khoa học là hình thức thực tiễn đặc biệt, nhằm mục đích phục
vụ nghiên cứu khoa học và kiểm tra lý thuyết khoa học.
1.3. Yêu cầu của Nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn
1.3.1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận,
lý luận hình hành và phát triển từ sản xuất, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Thực tiễn là cở sở của lý luận: Những tri thức được khái quát thành lý luận

ứng nhu cầu của con người. Nhu cầu đó chỉ được thực hiện trong hoạt động thực
tiễn. Hoạt động thực tiễn sẽ biến đổi tự nhiên và xã hội theo mục đích của con
người để đem lại cho con người ngày càng nhiều lợi ích. Đó thực chất là mục đích
của lý luận. Tức lý luận phải đáp ứng nhu cầu hoạt động thực tiễn của con người. Lý
luận quay về xâm nhập vào thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, làm cho thực
tiễn ngày càng hiệu quả hơn.
Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận. Tính chân lý của lý luận thực
chất là sự phù hợp của lý luận với hiện thực khách quan và được thực tiễn kiểm
nghiệm, là giá trị của phương pháp lý luận đối với hoạt động thực tiễn của con
người. Do đó, mọi lý luận phải thông qua thực tiễn để kiểm nghiệm. Thông qua
thực tiễn, những lý luận đạt đến chân lý sẽ được bổ sung vào kho tang trí thức nhân
loại, những kết luận chưa phù hợp thực tiễn thì tiếp tục điều chỉnh, bổ sung hoặc
nhận thức lại. Giá trị của lý luận nhất thiết phải được chứng minh trong hoạt động
thực tiễn. Tuy thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận nhưng không phải mọi
thực tiễn đều là tiêu chuẩn của chân lý. Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận
khi thực tiễn đạt đến tính toàn vẹn của nó. Tính toàn vẹn của thực tiễn là thực tiễn
đã trải qua quá trình tồn tại, vận động, phát triển và chuyển hóa. Đó là chu kỳ tất
yếu của thực tiễn. Thực tiễn có nhiều giai đoạn phát triển khác nhau. Nếu lý luận
chỉ khái quát một giai đoạn nào đó, một bộ phận nào đó của thực tiễn thì lý luận có
thể xa rời thực tiễn. Do đó chỉ lý luận nào phản ánh được tính toàn vẹn của thực
tiễn thì mới đạt đến chân lý.
C. Mác nói: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt đến chân
lý khách quan hay không hoàn toàn không phải là vấn đề lý luận mà là một vấn đề
thực tiễn. Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý”. Thừa
nhận thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý của lý luận, cần chú ý những vấn đề sau:
5


- Thực tiễn chỉ là tiêu chuẩn chân lý của lý luận khi thực tiễn đạt đến tính
toàn vẹn của nó.

sai giá trị của lý luận mà còn làm phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống
nhất tất yếu của lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn
của con người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy phong phú
và đa dạng nhưng không phải không có tính quy luật. Tính quy luật của thực tiễn
được khái quát dưới hình thức lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương
pháp mà còn định hướng cho hoạt động thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện
pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết các mối quan hệ trong hoạt động
thực tiễn, không những thế lý luận còn định hướng mô hình của hoạt động thực
6


tiễn. Vận dụng lý luận vào hoạt động thực tiễn, từ lý luận để xây dựng mô hình
thực tiễn theo những mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn
biến, các mối quan hệ, lực lượng tiến hành và những phát sinh trong quá trình phát
triển để phát huy các nhân tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực để đạt kết quả
cao hơn.
Lý luận tuy là logic của thực tiễn, song lý luận có thể lạc hậu so với thực
tiễn. Vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải bám sát diễn biến của
thực tiễn để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những khiếm khuyết của lý luận, hoặc có
thể thay đổi lý luận cho phù hợp với thực tế. Khi vận dụng lý luận vào thực tế,
chúng có thể mang lại hiệu quả hoặc không, hoặc kết quả chưa rõ ràng. Trong
trường hợp đó, giá trị của lý luận phải do thực tiễn quy định. Tính năng động của
lý luận chính là điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn. Lênin nhận xét rằng: “Thực
tiễn cao hơn nhận thức (lý luận), vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến,
mà cả của tính hiện thực trực tiếp”.
CHƯƠNG 2
VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC
TIỄN TRONG QUÁ TRÌNH ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HOÁ,
HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM

tiễn sẽ cho ta hiểu rõ sự vật hơn nữa - đó là bài học không chỉ của sự nghiệp kháng
chiến chống ngoại xâm mà còn là bài học của sự nghiệp đổi mới vừa qua và hiện
nay.
Trong khi đề cao vai trò của thực tiễn, Đảng ta không hề hạ thấp,
không hề coi nhẹ lý luận. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập
quốc tế là quá trình Đảng ta không ngừng nâng cao trình độ lý luận của mình, cố
gắng phát triển lý luận, đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
2.2. Trong hoạt động thực tiễn phải lấy lý luận khoa học làm
phương pháp, khi vận dụng lý luận phải phù hợp với không gian và thời
gian
Lý luận được hình thành không chỉ là sự tổng kết thực tiễn mà còn mục
đích cho hoạt động thực tiễn tiếp theo. Sự phát triển của thực tiễn trong lịch sử
đã được lý luận khái quát. Mặc dù thực tiễn diễn biến phức tạp, ít khi lặp lại
hoàn toàn, song thực tiễn nào cũng mang tính khách quan, mang tính khuynh
hướng. Chính vì lý luận có khả năng phản ánh thực tiễn dưới dạng quy luật mà lý
luận có khả năng trở thành phương pháp luận cho thực tiễn. V.I. Lênin đã nói rất
đúng rằng: “Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng”.
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin
làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng của mình. Kiên
định lập trường đó, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt
Nam khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam
theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh”. Chính vì chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận không
chỉ được hình thành trong những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, trong sự
phát triển của khoa học tự nhiên cũng như những thành tựu của lý luận thế kỷ
XVIII – XIX mà còn được khái quát từ thực tiễn phong trào cách mạng của quần
chúng lao động, đồng thời nó phù hợp với thực tiễn của lịch sử.
“Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát

nghệ nước ta trong thời gian tới là: "Tập trung xây dựng và phát triển tiềm lực
khoa học và công nghệ của đất nước, tăng năng lực tiếp thu, làm chủ thích nghi,
cải tiến các công nghệ hiện đại nhập từ nước ngoài trong một số lĩnh vực sản
xuất, dịch vụ, kết cấu hạ tầng, rút ngắn thời gian chuyển giao công nghệ, sớm
đưa vào ứng dụng trong sản xuất".
Lý luận cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin khi vận dụng vào thực
tiễn phải quán triệt quan điểm lịch sử, cụ thể, đồng thời biết tiếp thu những
thành tựu của tư duy nhân loại trong xây dựng nền kinh tế thị trường, thành
tựu về xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền, cơ chế quản lí khoa học, công
nghệ, văn hoá, xã hội... để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Một trong những lĩnh vực hoạt động của con người mà thực tiễn và lý
luận được kết hợp một cách mật thiết là lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Giáo
dục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm phát triển từ khi nền
cộng hoà được thiết lập. Trong quá trình cách mạng, giáo dục và đào tạo đã góp
phần đào tạo lớp người lao động mới có lí tưởng cách mạng, có năng lực hoàn
thành nhiệm vụ, vượt qua mọi khó khăn, có sức khoẻ và có kỉ luật. Thắng lợi của
hai cuộc kháng chiến, của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt trong
9


thời kì đổi mới càng chứng tỏ giáo dục, đào tạo nước ta đã đóng góp tích cực
cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Tuy thế, giáo dục và đào tạo nước ta còn
nhiều bất cập. Mô hình các bậc học, các loại hình đào tạo chưa thật khoa học và
ổn định, chưa thật phù hợp với thực tiễn. Nội dung, chương trình, chất lượng đào
tạo chưa đáp ứng sự phát triển của nền kinh tế thị trường, của sự phát triển khoa
học và công nghệ. Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, giáo dục và đào
tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Theo đó, đầu tư hàng năm cho giáo
dục và đào tạo được tăng lên. Mục tiêu giáo dục và đào tạo của nước ta là mở
mang dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Đại hội IX xác định: “Bồi

thức kinh nghiệm là trình độ thấp của tri thức. Tri thức này chỉ khái quát thực tiễn
cụ thể với những yếu tố và điều kiện đơn giản, chưa biến đổi hoặc đã biến đổi
10


nhưng chưa được phản ánh kịp thời. Những tri thức kinh nghiệm góp phần tạo nên
những thành công không nhỏ, đặc biệt thành công trong quá khứ đã củng cố niềm
tin để tiếp tục khẳng định giá trị của các kinh nghiệm. Những thành công tiếp theo
khi tiếp tục vận dụng những kinh nghiệm cũ vào hiện tại đã tạo nên chủ nghĩa kinh
nghiệm. Khi các yếu tố, các điều kiện đã thay đổi hoặc có những diễn biến phức
tạp nhưng vẫn tiếp tục vận dụng kinh nghiệm cũ thì nó trở thành bệnh kinh
nghiệm.
Nước ta là nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ rất
thấp. Đó là thực trạng của một nền kinh tế truyền thống - nền kinh tế chỉ dựa vào
kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác bằng hình thức dân gian. Điều
đó dẫn đến phong cách tư duy, phong cách hoạt động của người Việt Nam chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm. Truyền thống đó là một trong những nguyên nhân sâu xa của
bệnh kinh nghiệm. Cơ chế kế hoạch hoá, tập trung, bao cấp thực hiện một thời gian
dài ở nước ta đã triệt tiêu tính sáng tạo của người lao động và tạo nên tâm lý ỉ lại,
dựa dẫm là một trong những nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa - tuyệt
đối hoá kinh nghiệm của thế hệ trước, của cấp trên. Cơ chế hoạt động của từng lĩnh
vực chưa được luật hoá, việc tổ chức thực hiện tuỳ tiện dẫn đến chủ nghĩa kinh
nghiệm.
Kinh nghiệm có thể mang lại thành công. Những kinh nghiệm đó đáng được
trân trọng. Nhưng quá đề cao kinh nghiệm để trở thành căn bệnh thì rất nguy hiểm.
Tiếp tục vận dụng kinh nghiệm khi các yếu tố, các điều kiện đã thay đổi để dẫn đến
thất bại kéo dài, thậm chí sụp đổ thần tượng sẽ làm mất lòng tin với lớp người đã
có nhiều công lao với dân tộc, với đất nước. Đó là một trong những tội lỗi.
Để khắc phục bệnh kinh nghiệm có hiệu quả, một mặt phải quán triệt sâu sắc
nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tức là bám sát thực tiễn, tăng

động qua lại của nó sẽ tạo động lực cho sự phát triển kinh tế trong giai đoạn này.
Chính những sai lầm này là một trong những nguyên nhân gây ra tình trạng khủng
hoảng kinh tế trầm trọng trong thời kỳ trước đổi mới.
Bệnh giáo điều có căn nguyên sâu xa của nó. Trước hết là do hiểu lý luận
còn nông cạn, chưa có thực tiễn vận dụng lý luận nên khi thực tiễn biến đổi hoặc
xuất hiện thực tiễn mới thì lý luận trở thành giáo điều. Mặt khác, do tính tập trung
hoá cả trong lĩnh vực lý luận đã làm mất đi tính sáng tạo, sinh động của lý luận.
Quá trình đó lặp đi lặp lại một thời gian dài đã trở thành đường mòn trong tư duy
của cán bộ kể cả cán bộ khoa học. Những gì trên chưa khái quát, chưa có ý kiến
hoặc chưa được bổ sung bởi cơ quan có thẩm quyền đều bị phủ quyết tạo cho cán
bộ bệnh giáo điều. Thứ nữa, do vận dụng sai lý luận vào thực tiễn. Vận dụng lý
luận vào hoạt động thực tiễn là một trong những yêu cầu cơ bản của nguyên tắc
thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, đồng thời là vận dụng cái chung vào cái riêng
một cách linh hoạt. Bệnh giáo điều chỉ biết trích dẫn, thậm chí chỉ vận dụng lý luận
nhưng không quan tâm đến thực tiễn, không bổ sung, điều chỉnh lý luận.
Bệnh giáo điều đặc biệt nguy hiểm. Do giáo điều mà lý luận không mang lại
hiệu quả cho hoạt động thực tiễn, dẫn đến mất lòng tin đối với vai trò của lý luận
nói chung, đối với chủ nghĩa Mác - Lênin cũng như đường lối của Đảng Cộng sản
Việt Nam nói riêng. Đó là một trong những căn nguyên dẫn đến sự sụp đổ của chủ
nghĩa xã hội ở một số nước, dẫn đến khủng hoảng (mất lòng tin) đối với chủ nghĩa
Mác - Lênin, đối với sự lãnh đạo của Đảng.
Để khắc phục bệnh giáo điều, chúng ta phải quán triệt sâu sắc sự thống nhất
giữa lý luận và thực tiễn mà cốt lõi là thực tiễn luôn luôn là tiêu chuẩn chân lý của
lý luận như triết học Mác - Lênin đã khái quát cách đây hơn một thế kỉ. Tuy vậy, lý
luận vẫn có ý nghĩa quan trọng của nó. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh đã nói: “Thống
nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý
luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.
12



và có hiệu quả mọi khả năng của đất nước, của mọi thành phần kinh tế; trên cơ sở
phát huy các nguồn lực trong nước là chính, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút mạnh
mẽ và có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài; hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý;
phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và đổi mới quan hệ sản
xuất (cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và quan hệ phân phối) nhằm bảo đảm
cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, tạo
nên động lực mạnh mẽ cho sự phát triển. Mọi sự tăng trưởng và phát triển đều
hướng tới “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”.
13


Đại hội VI (12/1986) xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế cho những
năm còn lại của chặng đường đầu tiên là:
1- Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích luỹ;
2- Bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất;
3- Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính
chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất;
Nhờ có định hướng đúng đắn này mà trong 20 năm tiến hành công cuộc đổi
mới, kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình to lớn.
Đất nước thoát khỏi khủng hoảng, kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng nhanh
- Giai đoạn 1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương
trình mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN
trong chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ
sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và
giải phóng sức sản xuất.
- Giai đoạn 1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy
thoái, đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện. GDP bình
quân hàng năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu
đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước.

Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa hiện đại
hóa gắn với sản xuất thị trường
- Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là
46,3%, năm 2005 còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6%. Trong nội bộ ngành nông
nghiệp cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ
trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị xuất
khẩu.
- Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là
21,6%, năm 2005 lên 41%. Công nghiệp và xây dựng phát triển mạnh với thiết bị
công nghệ ngày càng hiện đại.
- Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên
38,1% năm 2005. Các ngành dịch vụ đã phát triển đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu của sản xuất và đời sống. Ngành du lịch, bưu chính viễn thông
phát triển với tốc độ nhanh. Các ngành dịch vụ tài chính, ngân hàng, tư vấn pháp
lý... có bước phát triển theo hướng tiến bộ, hiệu quả.
Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần,
phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế
- Kinh tế Nhà nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả,
tập trung hơn vào những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền
kinh tế. Cơ chế quản lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng
theo hướng xoá bao cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách
nhiệm của doanh nghiệp trong kinh doanh.
- Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn
lực và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Năm 2005, khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng
38% GDP của cả nước.
- Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở
thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan
trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào
ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân.

- Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng và có nhiều tiến bộ.
Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứng
dụng công nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi
thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 đến nay nâng lên trên 72 tuổi.
Kinh tế đối ngoại phát triển khá, vị thế của nước ta trên trường quốc tế đã
được nâng cao
Với chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế
quốc tế, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa
phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và
phát triển, Việt Nam đã kiên trì phấn đấu đẩy lùi và làm thất bại chính sách bao vây
cấm vận, cô lập Việt Nam của các thế lực thù địch, tạo được môi trường quốc tế,
khu vực thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước.
- Tháng 7-1995, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Hiệp hội
các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).
- Tháng 3-1996, Việt Nam đã tham gia Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)
gồm 10 nước châu Á và 15 nước châu Âu với tư cách thành viên sáng lập. Tháng
10-2004, Hội nghị ASEM lần thứ năm đã họp tại Thủ đô Hà Nội của Việt Nam.
16


- Tháng 11-1998, Việt Nam đã gia nhập Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) gồm các nước và lãnh thổ thuộc châu Á, châu Mỹ và
châu Đại Dương ở ven hai bờ Thái Bình Dương.
- Tháng 01-2007, Việt Nam trở thành thành viên đầy đủ của WTO. Sự kiện
này mở ra cơ hội mới cho sự phát triển đất nước và cả những thách thức cần phải
vượt qua khi Việt Nam được tham gia vào tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu.
3.1.2. Thành tựu về văn hóa, xã hội và con người
Song song với việc phát triển và tăng trưởng kinh tế, 30 năm qua, dưới sự
lãnh đạo của Đảng; việc xây dựng nền văn hoá mới và giải quyết các vấn đề xã
hội, con người luôn luôn được quan tâm. Tăng trưởng kinh tế gắn chặt với phát
triển văn hoá, xã hội và con người. Nhiều học giả nước ngoài đã khẳng định rằng:

17


trào khuyến học, khuyến tài được phát động rộng khắp, phong trào xã hội hoá giáo
dục ngày càng toả rộng và được toàn dân tích cực hưởng ứng. Nhờ những cố gắng
đó mà nguồn nhân lực xã hội được nâng cao về chất lượng. Tính đến giữa năm
2004, 22,5% số người lao động đã được đào tạo, trong đó số đào tạo nghề là
13,3%.
Khoa học-công nghệ và tiềm lực khoa học-công nghệ có bước phát triển nhất
định.
Nhiều thành tựu khoa học và công nghệ đã được đưa vào áp dụng trong thực
tế, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội rõ rệt đặc biệt là trong các lĩnh vực nông
nghiệp, y tế, bưu chính viễn thông... Kinh phí đầu tư cho khoa học và công nghệ
được tăng lên. Nước ta đã có quan hệ hợp tác về khoa học và công nghệ với trên
70 nước, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế. Đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ
(bao gồm Khoa học Xã hội, Khoa học Tự nhiên và Khoa học Kỹ thuật) đã góp
phần cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chủ trương chính
sách đổi mới của Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng các chương trình, dự án
phát triển kinh tế-xã hội; tiếp thu, làm chủ và ứng dụng có hiệu quả các công nghệ
nhập từ nước ngoài.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, góp phần hạ thấp
đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi,
cơ bản thanh toán một số dịch bệnh phổ biến trước đây, khống chế thành công
bệnh viêm đường hô hấp cấp (SARS). Tuổi thọ trung bình của người dân từ 63 tuổi
năm 1990 tăng lên 71,3 tuổi năm 2005. Chỉ số phát triển con người (HDI) từ mức
dưới trung bình (0,498 năm 1991) tăng lên mức trung bình (0,688 năm 2002). Năm
2004, với chỉ số 0,691, nước ta xếp thứ 112 trên tổng số 177 nước được điều tra.
Năm 2005, Việt Nam được lên 4 bậc, xếp thứ 108 trong tổng số 177 nước được
điều tra. Điều đáng chú ý là, nếu so với thứ bậc xếp hạng GDP bình quân đầu
người thì thứ bậc xếp hạng HDI của Việt Nam luôn cao hơn. Chẳng hạn, năm 2002

chính viễn thông, dầu khí, xây dựng cơ bản, cơ khí đóng tầu…
Nông dân là lực lượng đang có sự biến đổi mạnh mẽ. Nông dân thuần nông
ngày càng giảm. Đã hình thành những chủ trang trại, những hộ sản xuất cá thể,
những xã viên kiểu mới của các hợp tác xã kiểu mới có khả năng thích ứng với cơ
chế kinh tế thị trường, tham gia tích cực vào công cuộc phát triển đất nước theo
đường lối đổi mới. Đã hình thành các quan hệ hộ - hợp tác xã, hộ - doanh nghiệp tư
nhân, hộ - doanh nghiệp nhà nước, hộ - trang trại.
Đội ngũ trí thức nước ta hiện nay có 1,8 triệu người với trình độ từ cao đẳng,
đại học trở lên, trong đó có 16 nghìn thạc sĩ, 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học.
Đây là một lực lượng có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước.
3.2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn
nguyên lý thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tổng kết thực tiễn, đưa ra đường lối
đổi mới kịp thời, phù hợp, thì hiện tại vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế trong sự
vận dụng nguyên lý này.
Mặt hạn chế lớn nhất, dễ nhận thấy nhất là trong việc ban hành chính sách,
pháp luật nghị định. Chính sách, luật pháp thì có ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế,
đời sống của nhân dân, những chính sách, luật pháp được đưa ra không phù
hợp, không đảm bảo thực hiện được vai trò của nó sẽ để lại những hệ lụy rất phức
tạp cho xã hội.
Trong thời gian qua, có rất nhiều chính sách được ban hành không xuất phát
từ thực tiễn, không lấy thực tiễn làm mục tiêu, động lực. Mỗi một chính sách hoặc
một kiến nghị nào đó được đề xuất đều phải hướng đến mục đích duy nhất đó là
khắc phục những tồn tại đã, đang hoặc sẽ xuất hiện trong thực tiễn xã hội. Thế
nhưng, đáng tiếc, đã có không ít chính sách hoặc các đề xuất đã hoặc manh nha
hình thành phải chết yểu hoặc ban hành nhưng không thể áp dụng.
19



pháp luật.
Bất kỳ một chính sách nào muốn đạt được hiệu lực, hiệu quả cao nhất bắt
buộc phải xuất phát từ cuộc sống, bám sát cuộc sống và phải phục vụ cho đời sống.
Thực tế đã chứng minh có không ít chính sách khi mới ban hành đã vấp phải sự
phản đối rất lớn. Nhưng thực tiễn lại khẳng định: việc phải ban hành chính sách đó
là đúng đắn và cần thiết - thì đương nhiên, người dân sẽ ủng hộ và chính sách đó
có sức sống.
Thực trạng này đòi hỏi Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan chính phủ phải
nâng cao hơn nữa chất lượng công tác xây dựng luật, thay đổi tư duy làm chính
sách và nhất là trong quá trình soạn thảo chính sách, trước khi ban hành, phải thực
hiện đầy đủ các bước nghiên cứu, soạn thảo cơ bản: đánh giá tổng kết thực trạng
20


vấn đề, đặt ra mục tiêu, giải pháp, lấy ý kiến đánh giá của các đối tượng bị tác
động của chính sách. Có như thế thì hiệu quả, hiệu lực và sức sống của luật, của
chính sách mới bền, lâu được.

21


KẾT LUẬN

Sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hơn 30 năm qua đã đạt
được những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội và có ý nghĩa lịch sử to lớn. “Đất
nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội và có sự thay đổi toàn diện, kinh tế
tăng trưởng khá nhanh, sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa phát triển kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đang đẩy mạnh. Đời sống nhân dân được
cải thiện rõ rệt. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết dân tộc được tăng cường.
Chính trị xã hội ổn định. Quốc phòng an ninh được giữ vững. Vị thế nước ta trên

Lê Ngọc Tòng. Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay. Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2009;
3. Đảng cộng sản Việt Nam 80 năm xây dựng và phát triển, NXB Chính trị quốc
gia, Hà Nội. 2010;
4. Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Bộ Giáo dục và
Đào tạo. NXB Chính trị Quốc gia. 2010;
5. Giáo trình Đường lối cách mạng của Đảng cộng sản Việt Nam, Bộ Giáo dục và
Đào tạo. NXB Chính trị quốc gia. 2010;
6. Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh, Bộ Giáo dục và Đào tạo. NXB Chính trị
quốc gia. 2013;
7. Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng Cộng
sản Việt Nam.

23




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status