MỤC LỤC
Võ An Đinh - 1253003 Page 1
LỜI NÓI ĐẦU
Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một trong những nguyên tắc cơ bản, là linh
hồn của triết học Mác - Lênin. Lần đầu tiên trong lịch sử triết học, C.Mác đã phát hiện ra sức
mạnh của lý luận chính là mối liên hệ của nó với thực tiễn, cũng như sức mạnh của thực tiễn
là ở mối quan hệ của nó với lý luận. Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là sự thống nhất
biện chứng và cơ sở của sự tác động qua lại ấy chính là thực tiễn. Thực tiễn luôn luôn vận
động, biến đổi, do đó lý luận cũng không ngừng đổi mới, phát triển; sự thống nhất biện
chứng giữa chúng - vì thế - cũng có những nội dung cụ thể và những biểu hiện khác nhau
trong mỗi thời đại, mỗi giai đoạn lịch sử. Đất nước Việt Nam bước vào thế kỷ XXI với
những thành tựu to lớn đạt được trong hơn 20 năm đổi mới, nhưng cũng đối mặt với không
ít khó khăn thách thức, trong đó có những vấn đề về kinh tế, xã hội, và vấn đề về năng lượng
và môi trường hiện ngày càng được quan tâm nhiều hơn…Trong đề tài này em muốn “vận
dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn vào việc giải quyết các vấn đề về
hoạt động nghiên cứu và phát triển sản xuất nhiên liệu sinh học ở nước ta”.
I. PHẠM TRÙ THỰC TIỄN VÀ PHẠM TRÙ LÝ LUẬN
I.1. Lịch sử ra đời.
Trong lịch sử Triết học, các nhà triết học Duy vật trước Mác không thấy được vai trò của
hoạt động thực tiễn đối với nhận thức, lý luận nên quan điểm của họ mang tính chất trực
quan. Các nhà triết học Duy tâm lại tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của thực tiễn, họ
hiểu hoạt động thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động của “ý niệm”, tư tưởng, tồn
tại đâu đó ngoài con người. Nói cách khác, Họ gạt bỏ vai trò của thực tiễn trong xã hội.
Mác-Ăngghen, những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khắc phục được những hạn chế trong
quan điểm về thực tiễn của các nhà triết học trước và đưa ra quan điểm đúng đắn, khoa học
về thực tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức cũng như đối với sự tồn tại và phát
triển của xã hội loài người. Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận, Mác-Ăngghen đã
thực hiện bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức
nói riêng.
I.2 Cơ sở lý luận.
I.2.1 Phạm trù Thực tiễn.
tiễn, và xét đến cùng nó cũng phụ thuộc vào tiêu chuẩn thực tiễn. Đó là tư tưởng cơ bản của
Mac-Ăngghen khi đưa phạm trù thực tiễn vào nội dung của lý luận nhận thức, tư tưởng đó
đã được Lênin bảo vệ và phát triển sâu sắc hơn trong tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ
nghĩa kinh nghiệm phê phán”, trong đó Lênin nhắc lại luận cương thứ hai của Mac về Phoi-
ơbăc và Người kết luận “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và
cơ bản của lý luận về nhận thức”. Nếu không bám sát thực tiễn cuộc sống chúng ta sẽ không
thể có lý luận, không thể có khoa học, không xác định nổi bất kỳ đề tài khoa học nào với
đúng nghĩa của nó.
I.2.2. Lý luận.
Lý luận là sản phẩm cao của nhận thức của sự phản ánh hiện thực khách quan. Trong hệ
thống các khái niệm, phạm trù, các nguyên lý và các quy luật tạo nên lý luận, quy luật là hạt
nhân của lý luận, là sản phẩm của qúa trình nhận thức nên bản chất của lý luận là hình ảnh
chủ quan của thế giới khách quan, là sự phản ánh một cách gần đúng đối tượng nhận thức.
Lý luận là trình độ cao hơn về chất so với kinh nghiệm. Tri thức lý luận là tri thức khái quát
tri thức kinh nghiệm. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Lý luận là sự tổng kết những kinh
nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong qúa
trình lịch sử”. Lý luận được hình thành trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng không phải
mọi lý luận đều trực tiếp xuất phát từ kinh nghiệm. Do tính độc lập tương đối của nó, lý luận
có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm mà vẫn không làm mất đi mối liên hệ giữa lý
luận với kinh nghiệm. Khác với kinh nghiệm, lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao
nên nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, về tính quy luật của các sự vật, hiện tượng
khách quan. Vì vậy, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài chỉ
biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự.
Võ An Đinh - 1253003 Page 3
II. NHỮNG YÊU CẦU CƠ BẢN CỦA NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN - ÁP DỤNG TRONG THỰC TẾ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU VÀ SẢN XUẤT NHIÊN LIỆU SINH HỌC Ở NƯỚC TA.
II.1. Thực tiễn là cơ sở, là động lực, là mục đích và tiêu chuẩn của lý luận; lý luận
hình thành phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Quá trình phát triển nhận thức của con người nhất thiết dẫn đến sự hình thành lý luận.
dụng lý luận máy móc, giáo điều, kinh viện thì chẳng những hiểu sai giá trị của lý luận mà
còn phương hại đến thực tiễn, làm sai lệch sự thống nhất tất yếu giữa lý luận và thực tiễn.
Lý luận hình thành là kết quả của quá trình nhận thức lâu dài và khó khăn của con
người trên cơ sở hoạt động thực tiễn. Hoạt động thực tiễn tuy phong phú, đa dạng nhưng
không phải không có tính qui luật. Tính qui luật của thực tiễn được khái quát dưới hình thức
Võ An Đinh - 1253003 Page 4
lý luận. Mục đích của lý luận không chỉ là phương pháp mà còn định hướng cho hoạt động
thực tiễn. Đó là định hướng mục tiêu, biện pháp sử dụng lực lượng, định hướng giải quyết
các mối quan hệ trong hoạt động thực tiễn. Không những thế, lý luận còn định hướng mô
hình của hoạt động thực tiễn, trước hết, từ lý luận để xây dựng mô hình thực tiễn theo những
mục đích khác nhau của quá trình hoạt động, dự báo các diễn biến, các mối quan hệ, lực
lượng tiến hành và những phát sinh của nó trong quá trình phát triển để phát huy các nhân tố
tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm đạt kết quả cao hơn.
II.3. Áp dụng trong thực tế nghiên cứu và sản xuất nhiên liệu sinh học ở nước ta.
Chúng ta thấy rõ những điều như đã trình bày ở trên, khi xem xét đến thực tế kế hoạch
và chính sách phát triển nhiên liệu sinh học của nước ta. Trong quá trình phát triển và hội
nhập, chúng ta đang đối mặt với vấn đề về năng lượng và môi trường, chính từ nhu cầu cấp
thiết đó, thủ tướng chính phủ đã phê duyệt “ Đề án phát triển nhiên liệu sinh học đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2025” tại Việt Nam với mục tiêu tổng quát là phát triển NLSH, một
dạng năng lượng mới, tái tạo được để thay thế một phần nhiên liệu hóa thạch truyền thống,
góp phần bảo đảm an ninh năng lượng và bảo vệ môi trường, với các chỉ tiêu, nhiệm vụ và
giải pháp sau.
Một số chỉ tiêu cụ thể :
- Đến năm 2010, xây dựng và phát triển được các mô hình sản xuất thử nghiệm và
sử dụng nhiên liệu sinh học quy mô 100.000 tấn xăng sinh học E5 và 50.000 tấn dầu sinh
học B5/năm, bảo đảm đáp ứng 0,4% nhu cầu xăng dầu của cả nước.
- Đến năm 2015, sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 250.000 tấn (pha được 5
triệu tấn E5, B5), đáp ứng 1% nhu cầu xăng dầu của cả nước.
- Đến năm 2025, sản lượng ethanol và dầu thực vật đạt 1,8 triệu tấn, đáp ứng khoảng
5% nhu cầu xăng dầu của cả nước.
đổi lý luận cho phù hợp với thực tiễn. Nhìn vào thực tế tiêu thụ nhiên liệu sinh học ở nước
ta, ta thấy rõ rằng khi sản phẩm xăng sinh học E5 gia nhập vào thị trường, ngay lập tức bị
phản đối vì chưa có qui chuẩn, sau đó, Bộ Công Thương ban hành qui chuẩn và xăng E5
một lần nữa được bán ra thị trường, thì một lần nữa người tiêu dùng không mặn mà với sản
phẩm này. Thời gian gần đây (thời điểm cuối tháng 5 năm 2013), có một số báo trong nước
cho rằng lộ trình xăng E5 đang có nguy cơ “vỡ trận”.
Từ những dẫn chứng trên ta thấy rằng “vận dụng lý luận vào thực tiễn đòi hỏi chúng ta
phải bám sát diễn biến của thực tiễn”. Thực tiễn cho chúng ta thấy rằng chúng ta đang đối
mặt với nhiều vấn đề, đó là:
+ Sự lo lắng của người tiêu dùng về sự tương thích giữa nhiên liệu sinh học với động
cơ truyền thống.
+ Nước (hơi nước có ở mọi nơi) rất dễ tan vào trong nhiên liêu sinh học (cũng như là
xăng E5) làm giảm chất lượng sản phẩm.
+ Nhà nước chỉ kích thích sản xuất còn tiêu dùng chưa có chính sách phù hợp (chưa có
hệ thống phân phối, trong thực tế, đối với nhiên liệu sinh học thì ngoài bồn xăng, bồn dầu
diesel phải thêm một bồn xăng sinh học, một bồn dầu biodiesel tức chi phí để xây cây xăng
tăng gấp đôi chưa tính chi phí lưu trữ phát sinh thêm, nên sẽ không có cây xăng tư nhân
tham gia nếu xét về mặt kinh tế).
+ Chúng ta chưa xét đến khía cạnh kỹ thuật đối với động cơ để chạy nhiên liệu sinh
học, trong thực tế, chúng ta hiện tại chưa sản xuất được một động cơ thương mại nào lấy đâu
động cơ thương mại sử dụng nhiên liệu sinh học, ngoài ra, người dân chúng ta có ý thức bảo
vệ môi trường còn kém (quanh nhà còn xả rác lung tung lấy đâu ra ý thức mà nghĩ đến tầm
bảo vệ môi trường cao hơn).
+ Vẫn còn có nhiều ý kiến trái chiều nhau giữa các nhà quản lý, các nhà khoa học về
vấn đề trữ lượng dầu khí có nguồn gốc từ hóa thạch và nhiều vấn đề khác.
Tôi xin trích một đoạn trong báo người lao động (số ra ngày 21/05/2012):
Nghiên cứu mười năm, chưa thấy thị trường
Theo ông Trần Ngọc Năm, Phó Tổng Giám đốc Petrolimex, trong “cơn sốt nhiên liệu
ethanol” trên toàn thế giới, hàng chục năm nay, Petrolimex đã thành lập một bộ phận nghiên cứu
khả năng sản xuất, tiêu thụ xăng E5 nhưng đến nay vẫn thấy chưa đủ điều kiện tham gia. Độ hút
- Duy trì và tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.
- Có chính sách thỏa đáng nhằm tăng cường khả năng nghiên cứu trong nước (tăng cường
nghiên cứu các đặc điểm, tính chất của nhiên liệu sinh học, tăng cường nghiên cứu về khả
năng tiêu thụ, cơ sở hạ tầng tối thiểu để phục vụ sản xuất, tiêu thụ nhiên liệu sinh học).
- Chúng ta cần định hướng lại các mối quan hệ trong hoạt động nghiên cứu, sản xuất và phát
triển nhiên liệu sinh học của nước ta, cần đề cao hơn nữa vai trò của khoa học, nâng cao
trình độ của cán bộ quản lý và nghiên cứu khoa học.
Võ An Đinh - 1253003 Page 7
III. KẾT LUẬN
Từ thực tiễn nghiên cứu, sản xuất và tiêu thụ nhiên liệu sinh học, chúng ta có thể kết
luận như sau: lý luận góp phần thúc đẩy thực tiễn phát triển, bởi vì ở bên ngoài sự thống
nhất lý luận và thực tiễn, tự thân lý luận không thể biến đổi được hiện thực, nói cách khác,
hoạt động lý luận không có mục đích tự thân mà vì phục vụ thục tiễn, để cải tạo thực tiễn.
Thực chất của sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là phải quán triệt được thực tiễn là cơ
sở, là động lực, mục đích của lý luận, của nhận thức, là tiêu chuẩn của chân lý (lý luận). Như
trên đã nói, lý luận đích thực bao giờ cũng bắt nguồn từ thực tiễn, do thực tiễn quy định.
Thực tiễn quy định lý luận thể hiện ở nhu cầu, nội dung, phương hướng phát triển của nhận
thức, lý luận. Thực tiễn biến đổi thì lý luận cũng biến đổi theo, nhưng lý luận cũng tác động
trở lại thực tiễn bằng cách soi đường, chỉ đạo, dẫn đắt thực tiễn.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
[1].http://luanvan.co/luan-van/van-dung-nguyen-tac-thong-nhat-giua-ly-luan-voi-thuc-tien-va-con-
duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-nuoc-ta-4689/
[2].http://kinhdoanh.vnexpress.net/tin-tuc/vi-mo/no-hang-tram-ty-dong-nha-may-con-ethanol-bi-
bao-vay-2724864.html
[3].http://www.dienluctth.com.vn/vn_diem-bao/kinh-te/ngung-ban-xang-pha-con-ra-thi-truong-21-
pctth.aspx
[5].http://www.vietnamplus.vn/Home/Lo-trinh-su-dung-xang-E5-dang-co-nguy-co-vo-
tran/20135/197721.vnplus
[4].http://nld.com.vn/20120521113141798p0c1042/xang-e5-e-am-ethanol-bi-dau-ra.htm
Võ An Đinh - 1253003 Page 8