Mục lục
Lời mở đầu....................................................................................................................................................2
Nội dung........................................................................................................................................................3
1.Khái niệm về công nghiệp chế biến............................................................................................................3
2. Vai trò của chế biến nông sản………........................................................................................................3
2.1. Đáp ứng được nhu cầu đời sống nhân dân ngày càng cao...............................................................4
2.2. Góp phần mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản.............................................................................4
2.3. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp.......................................................................4
2.4. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động.........................................................................5
2.5. Một số vai trò khác..........................................................................................................................5
3. Đặc điểm của ngành chế biến nông sản.....................................................................................................6
3.1. Ngành chế biến nông sản vừa mang tính độc lập vừa mang tính phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp
................................................................................................................................................................6
3.2. Hoạt động của ngành chế biến nông sản thường không hoàn toàn diễn ra trong phạm vi doanh
nghiệp......................................................................................................................................................6
3.3. Ngành chế biến nông sản là một bộ phận cấu thành quan trọng của cơ sở sản xuất kinh doanh nông
nghiệp......................................................................................................................................................7
4. Những nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp chế biến................................................................................7
4.1. Nhóm nhân tố thị trường..................................................................................................................7
4.2. Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất- kỹ thuật và công nghệ.................................................................9
4.3. Nhóm nhân tố về chính sách vĩ mô...............................................................................................10
5. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ, kết quả và hiệu quả.................................................................................12
5.1. Hệ thống chỉ tiêu các nhân tố.........................................................................................................12
5.1.1. Các chỉ tiêu khái quát.............................................................................................................12
5.1.2. Chỉ tiêu kết quả tổng hợp........................................................................................................12
5.2. Hệ thống chỉ tiêu kết quả...............................................................................................................13
5.2.1. Chỉ tiêu kết quả trực tiếp........................................................................................................13
5.2.2. Chỉ tiêu kết quả tổng hợp........................................................................................................13
5.3. Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của chế biến nông sản.......................................................................14
5.3.1. Mức doanh lợi.........................................................................................................................14
5.3.2. Mức doanh lợi của đầu tư bổ sung.........................................................................................14
2
1. Khái niệm về công nghiệp chế biến:
Trong các tài liệu thống kê quốc tế, công nghiệp chế biến (hay còn gọi là công nghiệp chế tạo,
manufacturing ) được hiểu là toàn bộ khu vực công nghiệp loại trừ những ngành khai khoáng, xây dựng và
những ngành cung cấp những tiện ích sinh hoạt xã hội (điện, nước, ga) thuộc mã ngành 3 trong ISIC (Bảng
mã ngành công nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế ). Công nghiệp chế biến có đặc trưng làm thay đổi về chất của
các đối tượng lao động là nguyên liệu nguyên thủy (sản phẩm của khai thác ) thành các sản phẩm trung gian
và tiếp tục biến thành sản phẩm cuối cùng.
Công nghiệp chế biến còn được hiểu là quá trình làm tăng giá trị của nông sản. Sản phẩm chế biến
có thể cất trữ lâu dài, vận chuyển đi xa mà không bị hư hỏng. Công nghiệp chế biến có vai trò to lớn đối với
nền kinh tế - xã hội. So với nhiều ngành công nghiệp khác thì nó không đòi hỏi vốn quá lớn, chúng ta có thể
xây dựng nhanh công trình và đưa cơ sở mới vào hoạt động, vốn chu chuyển nhanh, nhờ đó mà tạo được
nguồn vốn tich lũy trong nước, thúc đẩy sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
Một trong những sản phẩm đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam, do đất nước giàu tiềm năng nông
nghiệp là chế biến nông sản thực phẩm, và đặc biệt là hải sản.
2. Vai trò của chế biến nông sản:
Công nghiệp chế biến có vai trò quyết định trong công nghiệp hóa và phát triển kinh tế. Cồn nghiệp
hòa thường được giải thích là quá trình trong đó tỷ trọng của công nghiệp nói chung và đặc biệt là tỷ trọng
của công nghiệp chế biến tăng lên trong toàn bộ các hoạt động kinh tế. Công nghiệp chế biến là bộ phận năng
động nhất của công nghiệp, giữ vai trò chủ đạo trong chiến lược phát triển. Năng suất lao động cao trong
công nghiệp chế biến là chìa khóa dẫn đến sự gia tăng thu nhập bình quân đầu người, tăng sức mua, mở rộng
thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ. Một nền kinh tế trưởng thành khi nó có tỷ trọng công nghiệp( hay công
nghiệp chế biến ) cao trong GDP, trong cơ cấu việc làm và cơ cấu xuất khẩu. Ta có thể thấy những vai trò cụ
thể của công nghiệp chế biến như sau:
3
đầu tiên là phải xây dựng được vùng nguyên liệu chon chế biến để có quy mô, công nghệ hợp lý. Quy mô,
tốc độ phát triển của chế biến nông sản phụ thuộc vào trình độ, tính chất phát triển của sản xuất nông nghiệp
mặt khác nhờ sự phát triển chế biến nông sản mà xuất khẩu nông nghiệp sẽ phát triển theo hướng chuyên
canh có năng suất cao, tỷ suất hàng hóa lớn, hiệu quả kinh tế cao.
Công nghiệp chế biến còn có vai trò to lớn trong việc chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông
thôn theo hướng phát triển mạnh, vững chắc có hiệu quả, công nghiệp-dịch vụ ở nông thôn tăng nhanh ngành
này trong cơ cấu nông nghiệp- công nghiệp- dịch vụ. Trong nội bộ ngành nông nghiệp cũng bố trí lại cơ cấu
cây trồng, vật nuôi gắn với công nghiệp chế biến theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng
ngành trồng trọt và trong nội bộ ngành trồng trọt thì giảm tỷ trọng cây lương thực, tăng tỷ trọng cây công
nghiệp, cây ăn quả…
2.4. Tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động:
Công nghiệp chế biến tại chỗ trong nông nghiệp nông thôn góp phần giải quyết nhu cầu việc làm
cho lao động nhàn rỗi ở khu vực này. Chính công nghiệp chế biến đã giải quyết tốt nạn di dân ồ ạt từ nông
thôn ra thành phố, đã tạo việc làm cho hàng ngàn lao đông thất nghiệp và bán thất nghiệp ở nông thôn. Chế
biến nông sản vừa làm tăng giá trị vừa tăng giá trị sử dụng và cũng làm tăng thu nhập của người lao động.
Ngành công nghiệp chế biến nếu phát triển tương xứng với tiếm năng, lợi thế của ngành sản xuất nông
4
nghiệp thì sẽ thu hút được rất nhiều lao động nông thôn vốn rất dồi dào, giá lại rẻ mạt…Chủ trương chính
sách của nhà nước là phải tận dụng được ưu thế này bằng cách tạo ra những ngành nghề mới ở nông thôn,
giải quyết việc làm cho người lao động với yêu cầu không cao, đào tạo cơ bản ít tốn kém như các ngành chế
biến nông sản, chế biến hải sản đông lạnh…
2.5. Một số vai trò khác:
Bên cạnh những vai trò đã đề cập ở trên, chế biến nông sản còn có nhiều vai trò quan trọng khác. Nó
tác động mạnh đến sự phát triển của nhiều ngành nghề kinh tế nhất là dịch vụ, nó ảnh hưởng sâu rộng đến đời
sống kinh tế- xã hội của người nông dân. Khi công nghiệp chế biến được chú trọng ở nông thôn thì cơ sở hạ
quan trọng của cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp:
Chế biến là hoạt động tiếp tục quá trình sản xuất hàng hóa có sự đan xen giữa các thành phần kinh
tế và các tổ chức sản xuất kinh doanh. Phải lựa chọn các sản phẩm có lợi thế so sánh để có chủ trương đầu tư
đúng đắn cho chế biến. Chế biến là một khâu trong chuỗi sản xuất- chế biến- tiêu thụ. Rõ ràng nếu chế biến
tốt sẽ tạo điều kiện tiêu thụ nhanh và sản xuất được nâng lên. Chính vì vậy cần phải có sự phát triển công
nghiệp chế biến sao cho tương xứng với sự phát triển của nền nông nghiệp, có như thế mới đưa nền nông
5
nghiệp phát triển lên một tầm cao mới.
4. Những nhân tố ảnh hưởng đến công nghiệp chế
biến:
4.1. Nhóm nhân tố thị trường:
Thị trường là nhân tố quan trọng tác động lớn đến hầu hết các lĩnh vực của chế biến và tiêu thụ sản
phẩm. Hiện nay các cơ sở sản xuất kinh doanh nông nghiệp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Tùy theo quy mô, trình độ chuyên môn hóa, trình độ công
nghệ… của từng loại cơ sở sản xuất kinh doanh mà ảnh hưởng của thị trường có khác nhau. Mặc dù vậy,
nhân tố thị trường có ảnh hưởng rất lứn chi phối quá trình sản xuất kinh doanh của các cơ sở chế biến nông
sản nói riêng và kinh doanh nông nghiệp nói riêng. Có thể xét trên 3 yếu tố sau đây của thị trường:
- Nhu cầu thị trường: Nhu cầu thị trường là yếu tố hang đầu cần tính đến trong cư sở kinh doanh chế
biến nông sản, nhu cầu thị trường chính là động lực cho các cơ sở kinh doanh ra đời và phát triển. Cầu về
nông sản chế biến phụ thuộc vào thu nhập, cơ cấu dân cư ở các vùng, các khu vực. Về nguyên lý, thu nhập
của dân cư tăng lên thì cầu cũng tăng lên, song đối với sản phẩm nông nghiệp, khi thu nhập của dân cư tăng
lên thì cầu về hàng nông sản có thể diễn ra theo chiều hướng tăng lên đối với các sản phẩm có nhu cầu thiết
yếu hàng ngày của dân cư và các sản phẩm cao cấp, đồng thời giảm đối với các sản phẩm kém phẩm chất và
cấp thấp. Trong giai đoạn hiện nay, khi dân số ngay một gia tăng về số lượng cũng như sự tăng thêm thu
nhập của mỗi người dân đòi hỏi một lượng lớn hơn số lượng hàng hóa nông sản đã qua chế biến. Cơ cấu dân
cư ở các vùng cũng có ảnh hưởng lớn đến cầu. Đối với vùng nông thôn mà cư dân nông thôn là chủ yếu,
vậy phải có mức giá hợp lý để có thị trường tiêu thụ rộng hơn, với số lượng ngày càng tăng.
- Ngoài ra khi xem xét yêu cầu sản phẩm cũng phải tính đến những thị hiếu, tập quán và thói quen
tiêu dùng của cư dân.
4.2. Nhóm nhân tố về cơ sở vật chất- kỹ thuật và công nghệ:
- Các nhân tố về cơ sở vật chất- kỹ thuật bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng như đường sá giao thông,
phương tiện vận tải, hệ thống bến cảng kho bãi, hệ thống thông tin liên lạc… Hệ thống này đóng vai trò quan
trọng trong việc lưu thông nhanh chóng kịp thời, đảm bảo an toàn cho việc tiêu thụ sản phẩm, cũng như việc
vận chuyển nguyên liệu kịp thời cho dây chuyền chế biến.
- Các nhân tố về kĩ thuật và công nghệ và thiết bị chế biến: Tuỳ từng loại đối tượng chế biến mà lựa
chọn công nghệ và thiết bị cho phù hợp. Công nghệ và thiết bị tốt sẽ cho ra sản phẩm có chất lượng cao, phế
phẩm ít, mẫu mã đẹp đáp ứng được nhu cầu đa dạng và ngày càng cao của người tiêu dùng. Nếu không sẽ
dẫn đến tình trạng chất lượng sản phẩm không đảm bảo, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Cần dựa
vào yêu cầu, sự đòi hỏi của người tiêu dùng về sản phẩm để trang bị những công nghệ phù hợp, những sản
phẩm xuất khẩu thì cần đầu tư công nghệ thiết bị hiện đại hơn. Khi lắp đặt công nghệ phải đánh giá được
công nghệ của nó, tránh tình trạng vừa đưa vào sử dụng đã hỏng hóc hoặc lạc hậu gây tổn thất lớn. Công
nghệ, thiết bị chế biến không chỉ ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm mà nó còn ảnh hưởng đến giá thành sản
xuất do đó cần có kế hoạch khấu hao hợp lý, giảm hao mòn vô hình. Công nghệ thiết bị được xem là tối ưu
khi nó có tuổi thọ cao, công suất lớn, cho ra sản phẩm có chất lượng tốt, ít hư hao và giá thành vừa phải. Để
có được những điều đó cần chú ý những điểm sau:
+ Thiết bị phải đồng bộ, đủ phụ tùng thay thế. Yêu cầu người đi mua phải có hiểu biết về máy móc
thiết bị.
+ Thuê chuyên gia để hướng dẫn cách sử dụng, sửa chữa đồng thời đào tạo công nhân kỹ thuật để
vận hành, bảo dưỡng và quản lý thiết bị để kéo dài tuổi thọ, phát huy công suất tối đa với hiệu quả kinh tế
cao nhất.
+ Có sự liên doanh liên kết hợp tác với nước ngoài để thu hút vốn đầu tư, thiết bị công nghệ,
phương pháp sản xuất tiên tiến vào việc phát triển mạnh công nghệ chế biến nông sản ở nước ta.
+ Phải đánh giá, xem xét một cách toàn diện, sâu sắc để lựa chọn công nghệ, thiết bị thích hợp nhất.
4.3. Nhóm nhân tố về chính sách vĩ mô:
quan hệ với nhau. Nếu giá nguyên liệu rẻ thì giá bán sản phẩm cơ bản sẽ không cao và ngược lại, thế nhưng
nếu giá nguyên liệu quá thấp người sản xuất nông nghiệp sẽ bị thua thiệt dẫn đến tình trạng nhà máy thiếu
nguyên liệu mà người nông dân không muốn thu hoạch vì không dủ bù đắp chi phí. Nhà nước cần có chính
sách để vừa khuyến khích người sản xuất nông nghiệp vừa tạo điều kiện cho công nghiệp chế biến phát triển.
- Chính sách thuế, chính sách xuất khẩu: Xuất khẩu là con đường mang lại ngoại tệ để phục vụ sự
nghiệp CNH – HĐH đất nước, nếu như chỉ xuất thô thì hiệu quả không cao. Nhà nước cần đánh thuế cao vào
những sản phẩm xuất thô và quy định mức thuế thấp đối với sản phẩm tinh chế. Đó là điều kiện thuận lợi cho
các nhà sản xuất phải đầu tư phát triển công nghiệp chế biến nông sản, vừa giải quyết tốt cho lao động trong
nước vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao.
8
5. Các chỉ tiêu đánh giá trình độ, kết quả và hiệu quả
chế biến nông sản:
5.1. Hệ thống chỉ tiêu các nhân tố:
5.1.1. Các chỉ tiêu khái quát:
- Tổng số vốn sản xuất (bao gồm vốn cố định và vốn lưu động). Chỉ tiêu này phản ánh đầy đủ nhất
tư liệu sản xuất và lao động ứng trước. Ưu việt của vốn sản xuất biểu hiện chủ yếu ở sự tập trung hoá đầy đủ
nhất các nhân tố và điều kiện vào quá trình sản xuất. Khuynh hướng chunh trong việc thay đổi các nhân tố
của vốn sản xuất thông thường là sự tăng lên của vốn lưu động trên với việc hạ thấp chi phí lao động sống và
thù lao lao động. Nhưng do các yếu tố khác nhau cấu thành vốn sản xuất có chức năng khác nhau trong quá
trình sản xuất và tham gia không giống nhau trong việc tạo thành giá trị sản phẩm, nên khi sử dụng chỉ tiêu
này cần kèm theo chỉ tiêu khác để đảm bảo tính chất toàn diện của quá trình chế biến nông sản.
- Tổng chi phí sản xuất (bao gồm chi phí thực tế về tư liệu sản xuất và lao động). Chỉ tiêu này phản
ánh đầy đủ nhất chi phí thực tế và nó có ý nghĩa trực tiếp để tăng khối lượng sản phẩm. Thông qua chỉ tiêu
này có thể so sánh chính xác hơn kết quả thu được với chi phí đã tiêu hao, từ đó xác định được lượng tuyệt
đối của kết quả sản xuất và hiệu quả kinh tế trong quá trình sản xuất chế biến nông sản. Tuy nhiên chỉ tiêu
này không phản ánh được toàn bộ lượng vốn sản xuất ứng trước mà thiếu khoản này không thể nhận được kết
quả sản xuất. Vì thế khi sử dụng chỉ tiêu này phải đồng thới sử dụng chỉ tiêu vốn sản xuất trên đơn vị diện
đơn vị diện tích với nhịp độ lớn hơn so với giá trị sản lượng khi các điều kiện khác khi các điều kiện khác
không thay đổi thể hiện sử dụng tốt hơn tư liệu vật chất.
- Lợi nhuận: Là chỉ tiêu kết quả kinh tế cuối cùng của sản xuất. Lợi nhuận biểu hiện đầy đủ nhất
những khả năng tái sản xuất mở rộng trong nông nghiệp là tham gia vào tích luỹ xã hội. Lợi nhuận là chỉ tiêu
cơ sở để thu hút các nhà đầu tư cũng như các doanh nghiệp bước đầu quan tâm đến lĩnh vực kinh doanh này.
10
5.3. Chỉ tiêu về hiệu quả kinh tế của chế biến nông sản:
Hiệu quả sản xuất đem lại là kết quả tác động tổng hợp của tư liệu sản xuất sẵn có và tư liệu sản
xuất đầu tư bổ sung, thông thường tư liệu sản xuất bổ sung được hoàn thiện hơn cho phép nâng cao hiệu quả
của những tư liệu sản xuất đã đầu tư và sử dụng trước đó. Sự tác động này có thể tác động trực tiếp thông qua
việc nâng cao chất lượng những tư liệu sản xuất tương tự được sử dụng, có thể gián tiếp thông qua cơ cấu số
lượng hợp lý hơn giữa đầu tư công nghệ mới và cũ nhằm đảm bảo ảnh hưởng tổng hợp để tăng hiệu suất của
ruộng đất, cây trồng và gia súc. Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế của chế biến nông sản bao gồm:
5.3.1. Mức doanh lợi: Là chỉ tiêu khái quát nhất về hiệu quả sản xuất. Mức doanh lợi có thể biểu hiện
bằng mối quan hệ so sánh về lượng của thu nhập và chi phí sản xuất, hoặc của thu nhập với tổng số vốn sản
xuất (vốn cố định và vốn lưu động, trừ phần khấu hao). Thu nhập tính bằng cách lấy tổng giá trị sản xuất trừ
đi tổng chi phí sản xuất. (Thu nhập và giá trị mới sáng tạo ra là hai cách gọi khác nhau của cùng một chỉ
tiêu).
Mặc dù mức doanh lợi là chỉ tiêu quan trọng nhất để đo lường hiệu quả kinh tế của chế biến nông
sản nhưng không phải bao giờ mức doanh lợi cao cũng đảm bảo thu nhập nhiều hơn trên đơn vị lao động và
tư liệu sản xuất.
Doanh thu của công nghiệp chế biến được tính theo phương pháp công xưởng bao gồm:
+ Doanh thu của công nghiệp chế biến ( Doanh thu sản phẩm, dịch vụ công nghiệp, bán phế liệu,
phế phẩm và doanh thu cho thuê máy móc, thiết bị có kèm theo người điều khiển).
+ Chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ, thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, sản phẩm dở dang.
truyền
thống)
Trong đó công nghiệp chế biến lương thực- thực phẩm được xem là một trong các ngành chủ lực của
nước ta hiện nay. Điều đó tạo động lực to lớn thúc đẩy công nghiệp chế biến lương thực- thực phẩm phát
triển đồng thời với những chính sách thích hợp thu hút đầu tư nước ngoài cũng như trong nước vào lĩnh vực
này.
Với một đất nước có trên 74% dân số sống ở nông thôn và 59% lực lượng lao động làm nông nghiệp,
11
sản xuất nông nghiệp hiện còn chiếm tỷ trọng cao trong GDP như Việt Nam, thì phát triển công nghiệp chế
biến nông, lâm, thủy sản cần phải được ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn hiện nay. Theo phân loại của Tổng
cục Thống kê, ngành công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản được chia thành 4 phân ngành, gồm:
- Chế biến lương thực- thực phẩm và đồ uống
- Chế biến thuốc lá, thuốc lào
- Chế biến gỗ và lâm sản
- Sản xuất giấy và các sản phẩm về giấy
Trong những năm gần đây, ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản đạt tốc độ tăng trưởng cao và khá ổn
định, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong ngành công nghiệp chế biến. Theo sơ bộ ước tính, năm 2005, giá trị sản
xuất công nghiệp của ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản(bao gồm 4 phân ngành nêu trên, không kể ngành
chế biến xay xát gạo) đạt 114.447,2 tỷ đồng, chiếm 32% giá trị sản xuất công nghiệp của toàn ngành công
nghiệp chế biến. Trong số đó, phân ngành thực phẩm và đồ uống chiếm tỷ trọng cao nhất, trên 3/4 tổng giá trị
sản xuất công nghiệp của ngành; 3 nhóm còn lại chỉ chiếm xấp xỉ 1/4. Với gần 7 tỷ USD, kim ngạch xuất
khẩu của ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản chiếm hơn 40% kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp
chế biến và khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá cả nước. Phát triển chế biến nông-lâm-thuỷ sản còn
kéo theo sự phát triển các ngành công nghiệp - dịch vụ khác gắn liền với nông nghiệp, thúc đẩy quá trình
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Hiện nay, với gần 400.000 cơ sở, đơn vị sản xuất, toàn ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản đã thu hút
khoảng trên 1,75 triệu lao động (chiếm 41,68% tổng số lao động ngành công nghiệp chế biến); trong đó,
ngành thực phẩm và đồ uống thu hút 50,04% lao động ngành, sau đó là chế biến lâm sản và đồ gỗ 39,74%,
- Chế biến thuỷ- hải- sản đông lạnh: Cả nước đã có tổng số hơn 470 cơ sở - doanh nghiệp chế biến
thủy sản. Trong đó, 248 cơ sở - doanh nghiệp (chiếm gần 53%) đã đạt tiêu chuẩn của thị trường EU - một thị
trường khó tính vào bậc nhất thế giới; trên 300 cơ sở - doanh nghiệp được Hàn Quốc công nhận tiêu chuẩn
chất lượng… Theo Bộ Thủy sản, hiện nay hàng thủy sản Việt Nam đã có mặt trên 140 nước và vùng lãnh thổ
trên thế giới, có chỗ đứng vững chắc ở các thị trường lớn như Nhật Bản, EU và Bắc Mỹ. Về giá trị kim ngạch
xuất khẩu, thủy sản Việt Nam hiện đã vươn lên đứng hàng thứ 7 trên thế giới. Năm 2006, sản lượng thuỷ sản
Việt Nam đạt 3,75 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 3,75 tỷ USD. Thuỷ sản đông lạnh đang là lĩnh
vực đầu tư có hiệu quả, xuất khẩu mặt hàng thuỷ sản đông lạnh sang các nước phát triển như Mỹ, Nhật
Bản… là những thị trường tiềm tàng cần khai thác. Chính vì vậy cần phải đầu tư phát triển hợp lý, đồng thời
phải chú ý hơn nữa vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm qua những bài học đắt
giá về bán phá giá cá basa, dư lượng kháng sinh trong tôm xuất khẩu…
- Chế biến nước mắm: Cả nước có 104 cơ sở chế biến nước mắm quốc doanh và hàng chục cơ sở chế
biến tư nhân với tổng công suất khoảng 180 triệu lít/năm, ngoài ra còn có trên 10 cơ sở sản xuất bột cá, chế
biến mỗi năm khoảng 10.000 tấn cá bột các loại. Đây là lĩnh vực rất cần sự quan tâm về vệ sinh an toàn thực
phẩm trong chế biến tiêu dùng cũng như xuất khẩu.
- Chế biến mía đường: Theo Hiệp hội Mía đường Việt Nam, niên vụ 2007-2008, cả nước có 37 nhà
máy đường đang hoạt động, tổng công suất chế biến 96.300 tấn mía/ngày. Sản lượng chế biến cả vụ sẽ đạt
khoảng 13,8 triệu tấn mía, tương đương 1,42 triệu tấn đường. Trên thế giới, niên vụ 2007-2008, sản lượng
đường cũng đạt con số kỷ lục từ trước đến nay, khoảng 169 triệu tấn (niên vụ trước là 167 triệu tấn). Sản
lượng mía đường rất cao nhưng vẫn xảy ra nhiều bất cập, nguyên liệu mía vẫn còn thừa rất nhiều, đến mùa
thu hoạch bà con nông dân vẫn còn “mang nỗi lo khi được mùa”. Mặc dù được mùa nhưng việc thu mua của
nhà máy mía đường vẫn còn hạn chế, dẫn đến tình trạng dư thừa nguyên liệu, giá rẻ mạt, chính vì vậy rất cần
sự quan tâm, đầu tư đầy đủ về công nghệ cũng như sự quy hoạch về cùng nguyên liệu phù hợp với năng lực
sản xuất.
- Chế biến rau quả: do nhu cầu tiêu thụ nội địa hiện rất lớn nên phần lớn sản lượng rau quả thu
hoạch vẫn đang tập trung đáp ứng cho thị trường này. Sản lượng rau quả được đưa vào chế biến và phục vụ
xuất khẩu mới chiếm một sản lượng nhỏ. Ngành rau-quả năm 2005, dù xuất khẩu tới 6,5 triệu tấn nhưng
tổng công suất chế biến cả nước chỉ đạt khoảng 290.000 tấn/năm. Hơn nữa, công nghệ bảo quản trái cây tươi
kém khiến các nhà máy chỉ hoạt động được 20-30% công suất. Do vậy, hiện mới chỉ có khoảng 12% sản
5 năm tới Song hành cùng với tốc độ công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng trên toàn cầu, thói quen tiêu
dùng của người châu á cũng thay đổi, đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng thực phẩm. Vì vậy, các nhà sản
xuất và chế biến thực phẩm đang tập trung chế biến ra những loại sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu “tiện
ích” của người tiêu dùng và như thế cũng đòi hỏi các hãng chế biến, đóng gói sản phẩm khắp khu vực ngày
càng phải quan tâm nâng cao công nghệ chế biến hơn nữa.
Để cung cấp thực phẩm cho dân số xấp xỉ 3,6 tỷ người châu á và một thị trường xuất khẩu lớn cho thế
giới phương Tây, các hãng chế biến thực phẩm đang thu hút rất nhiều các nhà đầu tư. Các nguồn thống kê
độc lập ước tính rằng, thị trường cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm châu á sẽ tăng trưởng mạnh với
tỷ lệ từ 12 – 15% mỗi năm trong 5 năm tới. Thị trường xuất khẩu trong khu vực cũng hứu hẹn sẽ cung cấp
cho nhiều nhà máy sản xuất chế biến thực phẩm và rượu bia ngày càng nhiều cơ hội, tăng 13% vào cuối năm
2007.
Cùng với những thay đổi lớn trong điều chỉnh thương mại và nhận thức ngày càng cao về các
sản phẩm tiêu dùng, nhu cầu về thực phẩm chế biến vì sức khoẻ, nước đóng chai, nước hoa quả, trà thảo
dược, thực phẩm hữu cơ, các sản phẩm sữa ít chất béo và những đồ uống có ga đang hướng dòng đầu tư trực
tiếp nước ngoài (FDI) vào châu á - Thái Bình Dương. Thêm vào đó, môi trường thương mại mở khắp các
nước châu á - Thái Bình Dương trong những năm gần đây đã khuyến khích ngành công nghiệp chế biến thực
phẩm sử dụng các thiết bị nhập khẩu và công nghệ tốt hơn, đầu tư nhiều hơn cho thí nghiệm và giới thiệu
nhiều loại sản phẩm chế biến mới cho thị trường, như các thực phẩm đông lạnh, thịt, cá, đã chế biến sẵn và
bia. Theo ANTARA, Bộ trưởng Biển và Đánh cá Indonesia Freddy Numbery cho biết, các doanh nghiệp
Trung Quốc đã bày tỏ sẵn sàng đầu tư khoảng 800 triệu USD vào ngành công nghiệp chế biến cá ở nước này.
Nói đến ngành công nghiệp chế biến thực phẩm khu vực, không thể không nhắc đến Australia.
Australia là nước nổi tiếng nhất khu vực về sản xuất những sản phẩm chế biến chất lượng cao và an toàn thực
phẩm. Nước này đã cam kết đảm bảo tiêu chuẩn quốc tế về quản lý chất lượng chế biến thực phẩm. Theo
thống kê của bản tin nghiên cứu thị trường “Food Processing Industry – Asia Pacific (2005)”, năm ngoái, các
hãng công nghệ sinh học trong khu vực đã thu lợi 65,9 tỷ USD từ thị trường chế biến thực phẩm ở Australia.
Ngoài ra, còn phải kể tới 2 thị trường tiêu dùng lớn nhất là Trung Quốc và ấn Độ. Hai thị trường này
hứu hẹn sẽ tăng trưởng rất mạnh, vì sự thay đổi đa dạng các loại hình thực phẩm và thu nhập của người dân
cũng tăng cao. Một ví dụ điển hình là ngành công nghiệp chế biến sữa của Trung Quốc. Sữa và các sản phẩm
chế biến từ sữa ngày nay đã trở thành thực phẩm có trong bữa ăn hàng ngày của người dân Trung Quốc. Năm
2004, sản lượng sữa của Trung Quốc đạt 23,68 triệu tấn, gấp 2,5 lần năm 1995. Tổng giá trị sản của ngành
ết luận:
Qua phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn có thể thấy tầm quan trọng của công nghiệp chế biến nông
sản trong phát triển kinh tế nói chung cũng như phát triển kinh tế và phát triển nông thôn nói riêng. Trong
những năm gần đây ngành chế biến nông sản thực phẩm đã có những bước tiến đáng kể, thể hiện ở các mặt
sau:
- Giá trị sản xuất liên tục tăng, tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm giai đoạn 1996-2000 là 9,44%,
năm 2001 tiếp tục tăng 13,45% và năm 2002 tăng 13,3% so với năm trước. Tỷ trọng công nghiệp chế biến
nông - lâm - thủy sản - thực phẩm - đồ uống năm 2002 trong công nghiệp chế biến là 35,08% và trong toàn
ngành công nghiệp năm là 28,11%.
- Các sản phẩm chế biến hàng năm đều gia tăng về số lượng và chất lượng.
- Đã hình thành một số cơ sở công nghiệp chế biến có công nghệ và thiết bị tương đối hiện đại (xay
xát, chế biến mủ cao su, đường sữa, dầu thực vật...).
- Công nghiệp chế biến đã làm thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu và làm tăng kim ngạch xuất khẩu các
sản phẩm nông -lâm - thủy sản.
- Chất lượng sản phẩm, mẫu mã, bao bì của nhiều mặt hàng chế biến đã được cải tiến từng bước, đang
chiếm lĩnh thị trường trong nước và một số mặt hàng bước đầu được thị trường nước ngoài chấp nhận.
- Góp phần đáng kể trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong cả nước.
Tuy nhiên, công nghiệp chế biến nông-lâm-thuỷ sản cũng còn có một số tồn tại như:
- Công tác quy hoạch, cả quy hoạch vùng nguyên liệu lẫn quy hoạch đầu tư phát triển chế biến nônglâm-thuỷ sản, còn kém. Một mặt, do công tác điều tra cơ bản vừa yếu lại vừa chậm, trình độ năng lực cán bộ
làm công tác quy hoạch còn hạn chế... nhưng mặt khác, cũng do chủ quan của các cơ quan chủ quản xây
dựng và thực hiện quy hoạch.
- Sự phối hợp giữa các địa phương và vùng miền chưa tốt, trong một số trường hợp còn xảy ra hiện
tượng phát triển ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản theo phong trào (đường mía, tôm, cà phê...) nên không
những hiệu quả thấp, mà đôi khi còn gây những thiệt hại lớn đối với bà con nông dân và Nhà nước.
- Tỷ trọng công nghiệp chế biến một số nông, lâm sản còn thấp so với nguyên liệu hiện có như mía
đường 30%, chè 55%, rau quả 5%, thuỷ sản thịt xuất khẩu 1%... Riêng chế biến thuỷ sản có giá trị khá hơn
(65,8%) nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của Ngành. Tác động của công nghiệp chế biến, nhất là
chế biến đồ uống từ hoa quả để tiêu thụ nông sản, đến việc thay đổi cơ cấu và phát triển cây trồng, vật nuôi
chưa mạnh; Tuy nhiên, ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản còn một số hạn chế. Đó là công tác quy hoạch
- Việc đầu tư cơ sở hạ tầng (đường sá, thủy lợi...) chưa theo kịp với việc xây dựng nhà máy chế biến,
mức độ đầu tư cũng chưa hợp lý, có lúc còn xem nhẹ.
- Các chính sách tuy đã có một số khuyến khích, nhưng vẫn chưa vận động được mọi thành phần kinh
tế tham gia tích cực vào phát triển công nghiệp chế biến.
- Công tác đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ công nhân kỹ thuật cho công nghiệp chế biến chưa tương
xứng và đồng bộ với quy mô và tốc độ phát triển. Công tác nghiên cứu thiếu tập trung, đặc biệt là việc nghiên
cứu về giống để có vùng nguyên liệu năng suất cao, chất lượng tốt phục vụ cho chế biến còn bị xem nhẹ.
Định hướng phát triển:
Trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước, ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản được xác định là
có lợi thế cạnh trạnh hàng đầu trong các ngành công nghiệp cả nước.
Trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, ngành công nghiệp nói chung và ngành
chế biến nông-lâm-thuỷ sản của nước ta có điều kiện thuận lợi để tranh thủ sự giúp đỡ và học tập kinh
nghiệm từ các nước trong việc lựa chọn các bước đi thích hợp, trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Sự phát triển vượt bậc của ngành Nông nghiệp Việt Nam trong thời gian qua đã tạo điều kiện quan trọng về
nông sản hàng hóa cho tiêu dùng, xuất khẩu và phục vụ cho ngành chế biến nông-lâm-thuỷ sản. Nhiều chủ
trương của Đảng và Nhà nước được ban hành và thực hiện có kết quả, đang tiếp tục được hoàn thiện, sẽ tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất công nghiệp nói chung, trong đó có ngành chế biến nông-lâm-thuỷ
sản. Lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn trương đối khá, cần cù, chịu khó và có khả năng tốt trong
tiếp thu chuyển giao công nghệ, nhất là lao động đã qua đào tạo… Đó là những tiềm năng to lớn cho phát
triển kinh tế nói chung và phát triển chế biến nông-lâm-thuỷ sản nói riêng.
Để khai thác triệt để và phát huy những tiềm năng vốn có của ngành Công nghiệp chế biến nông, lâm,
thủy sản, Ngành cần tập trung phát triển theo những định hướng chủ yếu sau:
- Tập trung phát triển công nghiệp chế biến nông - lâm - thủy sản - và thực phẩm đồ uống vào những
ngành có lợi thế cạnh tranh và nguồn nguyên liệu dồi dào của nền nông - lâm - ngư nghiệp nhiệt đới, sản
phẩm có thị trường tiêu thụ lớn trong nước và xuất khẩu.
- Nhanh chóng giảm dần các sản phẩm sơ chế, tích cực nhập khẩu, đầu tư các công nghệ chế biến sâu
để chế biến ra những sản phẩm tiêu dùng cuối cùng, nhằm tăng nhanh giá trị của hàng hóa tiêu dùng trong
nước và xuất khẩu.
- Phát triển chế biến gắn với chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, giải quyết nguồn nhân lực dư
thừa ở khu vực nông thôn, phù hợp với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
Để đạt được các mục tiêu trên, một số giải pháp chính được đề xuất là:
- Quy hoạch và xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung
- Quy hoạch từng ngành và từng vùng phát triển công nghiệp chế biến phải gắn liền với vùng nguyên
liệu.
- Tiếp tục hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, phục vụ cho công nghiệp
chế biến và xuất khẩu như:
+ Các vùng tập trung trồng lúa xuất khẩu ở đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng với
tổng diện tích khoảng 1,3 triệu ha, để hàng năm sản xuất ra khoảng 70% lượng gạo xuất khẩu chất lượng cao.
+ Các vùng cà phê thâm canh cao ở Tây Nguyên, miền núi phía Bắc; các vùng chè xuất khẩu, nhất là
vùng chè ở độ cao trên 1.000 mét để chế biến chè xanh đặc sản. Vùng sản xuất tập trung cây ăn quả đặc sản,
vùng rau và chăn nuôi xuất khẩu...
- Việc quy hoạch xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung gắn với việc xây dựng cơ sở chế biến công
nghiệp phải đáp ứng yêu cầu:
+ Có điều kiện sinh thái thích hợp với sinh trưởng cây trồng, vật nuôi; diện tích, sản lượng phải đáp
ứng đủ cho các nhà máy hoạt động liên tục trong thời gian chế biến quy định.
Chọn lọc giống tốt cho sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt, đồng đều theo nhu cầu thị trường
xuất khẩu và yêu cầu của chế biến nông-lâm-thuỷ sản.
+ Hướng dẫn nông dân kỹ thuật thu hái, sơ chế, bảo quản, vận chuyển để không làm tổn thất về số
lượng cũng như chất lượng nông - lâm - thủy sản phục vụ chế biến.
+ Tổ chức tốt việc thu mua nguyên liệu. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Quyết định số 80/QĐ-TTg ngày
24/6/2002 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tiêu thụ nông sản hàng hoá thông qua hợp đồng. Tạo mối
liên hệ giữa nông dân, ngư dân và công nhân nhà máy, giữa nuôi trồng, đánh bắt và chế biến trong các tổ
chức hợp tác, nhằm điều hòa lợi ích hợp lý giữa các phía, khuyến khích người sản xuất nguyên liệu góp vốn
(hoặc đóng cổ phần) với nhà máy.
- Tiếp tục đổi mới về tổ chức quản lý trong chế biến nông - lâm - thủy sản - thực phẩm
+ Nghiên cứu việc chuyển đổi các cơ sở chế biến gắn liền với sản xuất nguyên liệu và thị trường thành
18
+ Phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong việc khai thác các thị trường mới; điều hoà sản
xuất, kinh doanh giữa các thành viên, tránh gây khủng hoảng thừa, thiếu, sốt giá.
+ Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, thông qua việc cung cấp đầy đủ, kịp thời cho nông dân,
ngư dân, các doanh nghiệp và các hiệp hội ngành hàng những thông tin về thị trường, pháp luật, tập quán
kinh doanh ở các nước và các tổ chức quốc tế. Đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp thiết lập quan hệ, tìm hiểu thị
trường, thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại, đầu tư, khoa học, công nghệ và đào tạo với các đối tác
nước ngoài.
19
Tài liệu tham khảo:
1.Giáo trình Kinh tế Nông nghiệp, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội-2006
2.Giáo trình Quản trị Kinh doanh nông nghiệp, NXB Lao động- Xã hội Hà Nội-2005
3.Giáo trình Kinh tế Nông thôn, NXB Thống kê-2002
4.Giáo trình Phân tích Chính sách nông nghiệp nông thôn, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân-2007
5.Tạp chí Nông nghiệp và phát triển nông thôn
6.Tạp chí Kinh tế và Phát triển
7.Tạp chí Hoạt động khoa học
8.Tạp chí Công nghiệp, tháng 9/2003 và tháng10/2006
9.Báo điện tử Công nghiệp và tiếp thị, tháng10/2005
10.
Báo Nhân dân – Báo Quân đội nhân dân, ngày 03/10/2007
11.
Tạp chí Cộng sản điện tử, Số 12 (132) năm 2007
12.
Tạp chí Khoa học công nghệ
13.
Website Bộ kế hoạch và đầu tư, ngày 25 tháng 9 năm 2007
14.