Trường Đại học Nông Lâm Huế
Khoa Khuyến nông & Phát triển nông thôn
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
NÔNG THÔN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Huế, tháng 01 năm 2011
Trong hệ thống chính sách xã hội chung của cả nước, chính sách xã hội nông thôn
có vị trí quan trọng và có đặc trưng riêng về tính chất, mức độ, cơ chế vận hành.
Thời gian qua, chính sách này đã và đang đi vào thực tiễn, góp phần không nhỏ
trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân ở nông thôn nước ta. Tuy
nhiên, bên cạnh đó nó cũng còn không ít những tồn tại, hạn chế, đòi hỏi phải được
khẩn trương hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển nông thôn trong tình hình
mới.
I/Tác động của chính sách xã hội đối với phát triển nông thôn
1.1Những tác động tích cực
Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và cải thiện đời sống người dân nông thôn. Trong những năm
qua, dân số và lực lượng lao động nông thôn về mặt tỷ trọng tuy có giảm, nhưng vẫn
chiếm số lượng khá lớn trong tổng dân số và lực lượng lao động xã hội và là nguồn nhân
lực quan trọng đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nông thôn. Tính đến năm 2005, dân số
nông thôn chiếm 73,25% tổng dân số và 75,06% tổng lực lượng lao động của cả nước.
Mặc dù tốc độ tăng trưởng nông nghiệp thấp hơn công nghiệp và dịch vụ, nhưng yếu tố lao
động tham gia vào tăng trưởng rất lớn, nhất là khu vực nông thôn.
Giai đoạn 2001-2005, tăng trưởng kinh tế cả nước đạt bình quân 7,5%/năm, trong đó,
nông, lâm, ngư đạt 3,66%/năm; đặc biệt, sản lượng lương thực có hạt từ 34,27 triệu tấn
(năm 2001) đã tăng lên 39,55 triệu tấn (năm 2005), bình quân mỗi năm tăng 1,32 triệu tấn,
là thành tựu rất to lớn, chẳng những đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia, mà
còn phục vụ tốt cho xuất khẩu (đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu gạo).
Yếu tố lao động tham gia vào tăng trưởng nói chung, theo các nhà kinh tế, chiếm khoảng
20%, yếu tố vốn chiếm 57,5% và các yếu tố tổng hợp chiếm khoảng 22,5%. Tuy nhiên,
trong nông nghiệp, yếu tố lao động tham gia vào tăng trưởng rất lớn vì đầu tư cho nông
nghiệp thấp hơn cho công nghiệp, đặc biệt trong sản xuất lương thực, yếu tố lao động đóng
góp khoảng 50%. Tăng trưởng kinh tế góp phần quan trọng nâng cao đời sống người dân
ta được triển khai từ năm 1992 và đến năm 2005 đã đạt được kết quả cao (từ 58,1% hộ
nghèo giảm xuống còn dưới 22% - tính theo chuẩn nghèo của WB), được cộng đồng quốc
tế đánh giá là nước có tốc độ giảm nghèo nhanh nhất thế giới (so với mục tiêu thiên niên
kỷ về xoá đói giảm nghèo, chúng ta đã về đích trước 10 năm). Chênh lệch thu nhập giữa
khu vực thành thị và nông thôn năm 1993 là 1,96 lần, đến năm 1998 tăng lên 3,66 lần, năm
2002 lại giảm xuống còn 2,26 lần và đến năm 2004 giảm còn 2,16 lần. Đó là một sự chênh
lệch tất yếu được người dân chấp nhận, đồng thuận; chưa trở thành vấn đề xã hội bức xúc,
gây mất ổn định xã hội.Người dân nông thôn được tiếp cận tốt hơn với hệ thống chính sách
an sinh xã hội. Trong hệ thống chính sách an sinh xã hội, ngoại trừ chính sách bảo hiểm xã
hội người dân nông thôn đến nay chưa được tham gia, còn lại các chính sách khác liên
quan đến bảo trợ xã hội chủ yếu đều đã đến với các đối tượng xã hội ở nông thôn. Với sự
quan tâm của Nhà nước, của cộng đồng trong chủ động dự phòng cứu trợ khẩn cấp với
phương châm 4 tại chỗ, hàng năm đã cứu trợ đột xuất cho 1-1,5 triệu người ổn định cuộc
sống do thiên tai, bão lụt, mất mùa, giảm thiểu thiệt hại về người và của. Số đối tượng
được hưởng trợ cấp xã hội ngày một tăng, từ 205.314 người (năm 2001) lên 300.000 (năm
2004) và 360.000 người (2005). Trong 5 năm qua, đã cai nghiện cho 184.277 lượt người,
giáo dục chữa trị, phục hồi chức năng cho 25.420 đối tượng mại dâm; dạy nghề cho 10.000
đối tượng và 3.468 đối tượng được tạo việc làm, hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng. Trong
tổng số đối tượng được hưởng trợ cấp xã hội, 80% là ở nông thôn. Dịch vụ xã hội cơ bản,
nhất là giáo dục, y tế, nước sạch sinh hoạt đã chú ý hơn đến khu vực nông thôn.Năm 2000,
nước ta đã công bố xoá xong nạn mù chữ và đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, bắt đầu
phổ cập bậc trung học cơ sở. Đặc biệt, con em các hộ gia đình nghèo đã được Nhà nước hỗ
trợ để có điều kiện đến rường. Hàng năm, có trên 3 triệu lượt học sinh nghèo và học sinh
dân tộc thiểu số được miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường.Người
dân nông thôn đã được chăm sóc tốt hơn về sức khoẻ nhờ củng cố và phát triển được mạng
lưới y tế rộng khắp trong cả nước, đến nay hầu hết các xã đã có trạm y tế, cả nước có
96.604/116.359 thôn, bản có nhân viên y tế hoạt động (đạt 83%), 61,4% số xã có bác sỹ.
Bảo hiểm y tế không ngừng mở rộng, thực hiện tốt chính sách hỗ trợ người nghèo trong
khám chữa bệnh, nhất là cấp thẻ, sổ khám chữa bệnh, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người
nghèo, đến nay, 14 triệu lượt người nghèo được khám chữa bệnh miễn phí (3,5 triệu lượt
lượng lao động này di chuyển đến các khu công nghiệp, đô thị, các thành phố lớn tìm việc
làm ngày càng tăng, nhưng chỉ tham gia được thị trường lao động có trình độ thấp hay
những khu vực phi kết cấu với việc làm không ổn định, thu nhập thấp và có nhiều rủi ro.
Cũng vì vậy, nhiều vấn đề xã hội của lao động nhập cư từ nông thôn nổi lên gay gắt như:
Vấn đề nhà ở, phúc lợi xã hội, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
Quá trình CNH, đô thị hóa đang diễn ra nhanh chóng ở nước ta, kéo theo đó là tình trạng
mất việc làm trong nông nghiệp của một bộ phận lớn nông dân cũng gia tăng. Trong giai
đoạn 2000-2004, cả nước có số diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử
dụng sang công nghiệp, đô thị là 157.000 ha và cứ mỗi héc ta đất nông nghiệp chuyển đổi
mục đích sử dụng có 13 lao động nông thôn mất việc làm. Do vậy, tạoviệc làm cho người
lao động nông nghiệp bị chuyển đổi mục đích sử dụng đất là một trong những vấn đề lớn
nhưng chưa được giải quyết.