Một số vấn đề về chính sách đất đai đối với nông nghiệp ở nước ta - Pdf 29

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
Chính sách đất đai luôn là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nớc
ta, đặc biệt từ khi đảng ta chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì giải quyết vấn đề đất đai không
những có ảnh hởng quyết định đến sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn mà
còn ảnh hởng đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Do vậy, chính
sách đất đai luôn giữ một vị trí trọng yếu trong hệ thống các chính sách kinh tế
của quốc gia. Đối với nông nghiệp, khi đa đất đai vào quá trình sản xuất thì đất
đai đợc gọi là ruộng đất, lúc đó nó trở thành t liệu sản xuất chủ yếu không thể
thay thế. Trong hệ thống các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn,
chính sách ruộng đất có vị trí quan trọng nhất. Nó đã góp phần to lớn trong việc
phát triển nông nghiệp nông thôn. Tuy nhiên. giải quyết các vấn đề đất đai là
một viếc làm vô cùng phức tạp của mọi quốc gia. ở nớc ta, chính sách đất đai
đã đợc ban hành qua các thời kỳ cùng với sự phát triển của lực lợng sản xuất.
Công việc này đã đem lại những hiệu quả nhất định nhng vẫn còn những khó
khăn cha giải quyết đợc. Vì vậy em chọn đề tài:
" Một số vấn đề về chính sách đất đai đối với nông nghiệp ở nớc ta."
Việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp em hiểu rõ hơn về chính sách đất đai
trong nông nghiệp. Từ đó đa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách,
góp phần phát triển kinh tế nông thôn nói riêng và đất nớc nói chung.

Hà Nội, tháng 11 năm 2003
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. Đất đai và chính sách đất đai trong phát triển kinh
tế xã hội nông thôn.
1. Vị trí, đặc điểm và vai trò của đất đai
1.1. Vị trí của đất đai
Nớc ta với gần 80% dân số sống ở nông thôn, đất đai nói chung và đất
nông nghiệp nói riêng có vị trí quan trọng đặc biệt, nó không chỉ là t liệu sản

hiện thâm canh tăng năng suất.
Ruộng đất có vị trí cố định và chất lợng không đồng đều: Đặc điểm này là
do quá trình hình thành đất và do trình đọ canh tác của nông dân giữa các vùng
là khác nhau. Điều này làm cho chất lợng của ruộng đất không đồng đếu giữa
các khu vực, các vùng và ngay trên cánh đồng. Đất đai cũng không nh các t liệu
sản xuất khác, nó có vị trí cố định gắn với từng vùng, từng điều kiện tự nhiên
nhất định. Đặc điểm này đòi hỏi phải nghiên cứu tính chất của từng loại đất ở
các vùng để đa ra kế hoạch sản xuất cho phù hợp. Đồng thời giúp việc thực
hiện chính sách về thuế của nhà nớc cho công bằng.
Ruộng đất - t liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn, đào thải khỏi quá
trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lợng ngày càng tốt hơn:
Khác với cá t liệu sản xuất khác sau một thời gian sử dụng đều bị hao mòn vô
hình hoặc hữa hình rồi cuối cùng bị đào thải khỏi quá trình sản xuất. Nhng
ruộng đất không bị hao mòn, nếu sử dụng nó đúng kỹ thuật thì chất lợng của nó
ngày một tốt hơn.
1.3. Vai trò của đất đai
Đất đai trong nông nghiệp là t liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt không thể
thay thế. Đất là thành phần quan trọng của môi trờng sống, phân bố dân c, xây
dựng các cơ sở văn hoá -kinh tế -xã hội. Với sinh vật đất đai không chỉ là môi
trờng sống mà còn là nguồn cung cấp thức ăn. Năng suất cât trồng, vật nuôi phụ
thuộc rất nhiều vào chất lợng đất đai. Việc quản lý và sử dụng đất đai đúng đắn
có tác động quyết định đến sự thành công của các chính sách kinh tế khác. Từ
đó, ngời sử dụng đất và cơ quan tổ chức nhà nớc cần phải bảo vệ đất đai và quản
lý đất đai theo đúng pháp luật mà Đảng và Nhà nớc ta đã ban hành.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Khái niệm, vị trí, vai trò của chính sách đất đai.
2.1. Khái niệm
Hiện nay cha có một khái niệm cụ thể về chính sách đất đai.Tuy nhiên qua
sự can thiệp của nhà nớc trong việc quản lý đất đai ta có thể đa ra khái niệm về

ngành nghề mới xuất hiện kéo theo tình trạng đất nông nghiệp ngày càng giảm.
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một chính sách đất đai hợp lý có vai trò vô
cùng quan trọng. Vai trò của chính sách đất đai đợc thể hiện ở một số điểm
sau:
Thứ nhất, chính sáchh đất đai hợp lý tạo ra động lực để sử dụng đầy đủ và
hợp lý đất đai: Trong điều kiện đất nông nghiệp có hạn mà dân số lại ngày một
tăng thì việc xác lập một chính sách đất đai hợp lý là vô cùng quan trọng. Nó
góp phần sử dụng đất đai hợp lý và có hiệu quả hơn.
Thứ hai, chính sách đất đai hợp lý góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp nông thôn theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá và sản xuất hàng hoá:
Để thực hiện đợc vấn đề trên thì phải giải quyết rất nhiều vấn đề, trong đó có việc
đổi mới và hoàn thiện Luật đất đai và các chính sách về ruộng đất là vô cùng quan
trọng, cơ bản và cấp thiết. Chính sách đất đai hợp lý sẽ tạo điều kiện để các nhà
sản xuất, kinh doanh, đầu t... yên tâm đa vốn của mình vào nông nghiệp nhằm thu
lợi nhuận. Cùng với việc đầu t đó nông nghiệp nông thôn sẽ phát triển theo hớng
sản xuất hàng hoá mà Nhà nớc ta đã đề ra.
Thứ ba, chính sách đất đai có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình
chuyển nền nông nghiệp Việt Nam từ sản xuất tự cung tự cấp sang sản xuất
hàng hoá: Chính sách đất đai phù hợp giúp cho ngời nông dân áp dụng đợc tiến
bộ khoa học kỹ thuật, phát triển thêm các ngành nghề, tiến lên sản xuất hàng
hoá.
Thứ t, chính sách đất đai hợp lý là một trong những biện pháp quan trọng
để giải quyết vấn đề tranh chấp ruộng đất ở nông thôn: Trong cuộc sống có
nhiều tranh chấp xảy ra giữa cá nhân, tập thể. ở nông thôn việc tranh chấp đất
đai cũng xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau. Để giải quyết vấn đề tranh chấp này
một cách công bằng đòi hỏi phải có sự can thiệp của nhà nớc. Nhà nớc với t
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cách là trọng tài da ra các văn bản pháp luật nhằm giải quyết các tranh chấp
đất đai. Một trong các văn bản pháp luật đó là chính sách đất đai. Việc ban

gần nh đồng nhất là các hộ tiểu nông để sản xuất tự túc là chủ yếu, ngoại trừ
một số đồn điền chuyển thành nông trờng quốc doanh do nhà nớc quản lý và
sau này có sự phát triển rộng thêm. Chế độ sở hữu tiểu nông về ruộng đất thuộc
từng hộ nông dân ở miền Bắc chỉ kéo dài trong khoảng 5-7 năm từ sau cải cách
ruộng đất cho tới thời kỳ đầu hợp tác hoá - tập thể háo nông nghiệp bậc cao
(giữa thập kỷ 60).Sau thời kỳ đó, ruộng đất đợc tập thể hoá. Chế độ tập thể hoá
về cơ bản đã xoá bỏ các chủ thể kinh tế hộ nông dân, đợc thực hiện trên quy mô
lớn hàng trăm, hàng nghìn ha trong từng hợp tác xã nông nghiệp với sản xuất
thủ công là chính, trình độ kỹ thuật và quản lý rất thấp kém đã tỏ ra không có
hiệu quả trong thời gian dài. Chính sách tập thể hoá ruộng đất đã không giải
quyết thoả đáng mối quan hệ ruộng đất, với việc tổ chức hợp tác xã thành các
dơn vị sản xuất kinh doanh đã xoá bỏ vai trò của hộ gia đình trong sản xuất
kinh doanh nông nghiệp và biến ngời nông dân thành ngời lao động bộ phận,
làm cho ngời nông dân không hăng hái sản xuất, không thiết tha với ruộng đất
và tài sane thuộc sở hữu tập thể, hàng vạn ha đất trồng trọt bị bỏ hoang. Sản
xuất nông nghiệp giảm sút, đời sống nhân dân khó khăn, phong trào tập thể hoá
trong nông nghiệp có nguy cơ bị tan vỡ.
Cùng với thời kỳ trên ở miền Nam, sau năm 1954, dới thời Mỹ - Nguỵ,
chính quyền Sài Gòn cũng tiến hành 2 lần cải cách ruộng đất : Lần thứ nhất
vào năm 1955-1956, Ngô Đình Diệm tớc đoạt phần lớn ruộng đất của nông dân
đã đợc cách mạng chia cấp, trả lại cho địa chủ, phục hồi chế độ đại điền chủ, đa
số dân trở lại làm tá điền. Lần thứ hai vào năm 1970 Nguyễn Văn Thiệu cũng
thực hiện luật ngời cày có ruộng, bằng cách truất hữu có bồi thờng giá trị
đất cho địa chủ để cấp đất cho nông dân. Nhng về thực chất, Luật ruộng đất
năm 1970 của Nguyễn Văn Thiệu không có ý nghĩa thực tế vì vấn đề ruộng đất
đã đợc chính quyền cách mạng và nông dân giải quyết trớc đó. Mặc dù vậy,
chính sách ruộng đất của Nguyễn Văn Thiệu cũng đã tạo lên một tầng lớp trung
nông khá giả nhờ tích tụ ruộng đất cao hơn và áp dụng kỹ thuật mới, trong khi
khoảng 30% nông dân không có đất hoặc có quá ít ruộng đất không thể sinh
sống.

vị kinh tế chủ yếu ở nông thôn. Đó là nguyên nhân làm cho tác động tích cực
của Chỉ thị 100 không còn hiệu lực. Miền Nam sau khi hoàn thành hợp tác hoá
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nông nghiệp (1985) phát sinh hàng loạt mâu thuẫn trong quan hệ ruộng đất sau
sự điều chỉnh mang tính cào bằng.Sản xuất nông nghiệp bị giảm sút đòi hỏi
phải có chính sách ruộng đất mới ra đời để khắc phục tình trạng trên.
2. Chính sách đất đai từ năm 1986-1993
Trớc tình hình nền kinh tế hoạt động không có hiệu quả, nhiều mâu thuẫn
nảy sinh. Tại Đại hội Đảng lần thứ 6 (tháng 12-1986), Đảng ta đã quyết định
đổi mới nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trờng. Cùng với
việc đổi mới đó, để có cơ sở pháp lý giải quyết các vấn đề đất đai, ngày 8-1
1988, Luật đất đai đầu tiên của nớc ta mới đợc thông qua. Luật đất đai đã cụ thể
hoá đờng lối, chủ trơng, chính sách của Đảng (tại đại hội lần thứ 6) và hiến
pháp năm 1980 đồng thời khẳng định: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà n-
ớc thống nhất quản lý. Nh vậy Luật này một lần nữa khẳng định quyền sở hữu
tối cao của nhà nớc, Nhà nớc giao đất lâu dài cho các nông lâm trờng, hợp tác
xã, cá nhân. Có thể nêu ra một số thay đổi căn bản về mặt pháp lý trong luật
này nh sau
Nhà nớc không chỉ giao đất cho tổ chức mà còn giao cho cả các cá
nhân sử dụng lâu dài và ổn định
Cho phép ngời đợc giao quyền sử dụng đợc bán thành quả lao động và
kết quả đầu t trên đất.
Nâng mức đất giao cho các hộ làm kinh tế gia đình từ 5-10%
Quy định những nguên tắc giải quyết đất đai.
Luật đất đai năm 1988 đã có tác dụng gắn bó ngời nông dân với ruộng đất,
giúp họ yên tâm đầu t vào sản xuất, cải tạo, bảo vệ đất đai đợc giao. Nhng Luật
đất đai năm 1988 đã bộc lộ những hạn chế cơ bản sau: Luật mới tập chung điều
chỉnh quan hệ sản xuất nông nghiệp theo kiểu tự cung tự cấp, mới điều chỉnh
quan hệ pháp lý hành chính, cha chú ý đến quan hệ kinh tế, cha tạo điều kiện để

thần của các văn bản đó đã giúp cho việc quản lý và sử dụng ruộng đất có hiệu
quả hơn. Các văn bản đó đã từng bớc cụ thể hoá, thể chế hoá quyền và nghĩa vụ
của từng ngời đợc giao đất. Từ quan niệm chung về quyền sơ hữu của Nhà nớc
đối với ruộng đất, dới cấp tối cao đó là các doanh nghiệp nhà nớc và các hợp tác
xã, đến chỗ thừa nhận cá nhân cũng có thể đợc giao đất, thừa thận một phần
thành quả lao động trên đất là hàng hoá có thể chuyển nhợng. Có thể nói, những
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Website: Email : Tel : 0918.775.368
thay đổi về mặt pháp lý, chính sách, chủ trơng của nhà nớc, của Đảng ta trong
quan hệ ruộng đất đang thích ứng dần với xu thế phát triển tất yếu của cơ chế
thị trờng đó là những căn cứ để uốn nắn những xu thế lệch lạc, những xu thế
quá khích dẫn đến làm mất ổn định kinh tế xã hội, chính trị của nớc nhà, mà
vẫn đảm bảo tạo ra đợc cơ chế để làm tăng hiệu quả sử dụng đất trong nông
nghiệp.
Những thành tựu đạt đợc trong sản xuất nông nghiệp từ khi cá Nghị quyết
10 và các văn bản pháp lý của nhà nớc đã góp phần quyết định đa nền kinh tế n-
ớc ta thoát khỏi khủng hoảng và tìm thấy hớng đi mới. Song vẫn còn những
nhân tố hạn chế và kìm hãm tốc độ tăng trởng kinh tế. Đó là mâu thuẫn giữa
yêu cầu giải phóng mạnh mẽ sức lao động, sức sản xuất với tiềm năng đất đai
manh mún theo nhân khẩu. Đất nông nghiệp vố đã ít lại giảm dần và bị chia nhỏ
hơn nhằm đảm bao tính công bằng xã hội, điều đó mâu thuẫn với yêu cầu tập
trung ruộng đất theo hớng sản xuất hàng hoá, cơ cấu đất thay đổi theo chiều h-
ớng giảm dần diện tích cây hàng năm va fdiện tích đất lúa. Nhiều chủ trơng,
chính sách của nhà nớc cha phản ánh hết đợc tính phức tạp thực tiễn của quan
hệ ruộng đất. Vì vậy, giữa thực tế cuộ sống với các văn bản pháp lý bắt đầu có
khoảng cách.
3. Chính sách đất đai từ năm 1993 đến nay
Để giảm bớt khoảng cách giữa những quy định của luật pháp với cuộc
sống linh động, đồng thời để tạo cơ sở pháp lý tốt hơn cho công cuộc đổi mới
trong quan hệ ruộng đất, Đảng và nhà nớc ta đã đa ra một số chính sách nhằm

về phân công, phân cấp giữa hệ thống cơ quan quản lý nhà nớc ở các lĩnh vực
khác với t cách là ngời sử dụng đất . Mở rộng thẩm quyền về đất đai cho cơ
quan hành chính cấp dới, chú trọng vai trò của chính quyền cấp cơ sở và tổ chức
quần chúng để hoà giải các tranh chấp đất đai trong nội bọ nông dân, đồng thời
chuyển sang Toà án giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất mà ngời sử
dụng đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nớc có
thẩm quyền và trang chấp về tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất đó. Luật
quy định về việc đổi mới chế độ sử dụng các loại đất, khuyến khích mọi thành
phần kinh tế đầu t công của để mở rộng thâm canh đất nông nghiệp, đất lâm
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Trích đoạn Thực hiện quyhoạch lại đất nhằm phát triển nông nghiệp hàng hó a
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status