Một số vấn đề về chính sách tiền tệ, công cụ thực hiện và định hướng hoàn thiện ở Việt nam - Pdf 24

Website: Email : Tel : 0918.775.368
Phần mở đầu
Bớc vào thế kỷ 21, cả nhân loại trong xu hớng toàn cầu hoá các nền kinh
tế của các thể chế khác nhau đang trên con đờng hội nhập chung vào các hoạt
động kinh tế đầy sôi động. Loài ngời đang nỗ lực thúc đẩy thế giới tiến lên
trong văn minh với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế. Vậy đáp số của
bài toán phát triển kinh tế ở đâu?

Nếu ta coi nền kinh tế là một cơ thể sống thì đồng tiền là dòng máu này
chảy đến từng tế bào của nền kinh tế thúc đẩy sự phát triển, tăng trởng mạnh.
Nếu thiếu tiền nền kinh tế sẽ thiếu cầu, kiệt quệ, tăng trởng chậm và hàng loạt
các căn bệnh khác của một nền kinh tế thiếu sự sống.
Ngợc lại nếu quá d thừa tiền thì sao? Khi lợng tiền tăng quá nhanh gây ra
lạm phát, thất nghiệp và nền kinh tế mất ổn định, suy thoái nghiêm trọng. Sự
d thừa này kéo theo nó hàng loạt các vấn đề có tác hại đến sự phát triển và
tăng trởng cuả nền kinh tế.
Vấn đề đặt ra là làm sao điều tiết đợc tiền, một phơng tiện mạnh nhất cũng
là điểm yếu nhất của nền kinh tế khi khủng hoảng tiền tệ?. ở tầm quản lý vĩ
mô, Chính phủ thờng sử dụng chính sách tiền tệ thông qua ngân hàng(NHTW)
để điều tiết lợng tiền đảm bảo sự phát triển của nền kinh tế, đạt đợc các mục
tiêu trong tơng lai. Và riêng Việt Nam với hơn 10 năm đổi mới theo cơ chế thị
trờng, có rất nhiều vấn đề đặt ra. Chính vì vậy trong khuôn khổ môn học Lý
thuyết tài chính tiền tệ em đã nghiên cứu đề tài Một số vấn đề về Chính
sách tiền tệ, công cụ thực hiện và định hớng hoàn thiện ở Việt Nam.
I. Chính sách tiền tệ và mục tiêu của chính sách tiền tệ
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1.Vị trí và vai trò của chính sách tiền tệ
Hiện nay trên thế giới bất cứ Chính phủ nào cũng phải đối mặt với sự
mất ổn định của nền kinh tế đó là lạm phát, thất nghiệp, là khủng hoảng, sự
trì trệ của nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách khác của Chính phủ thì

2
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Chính sách tiền tệ có vai trò quyết định trong việc điều hành toàn bộ hệ
thống ngân hàng từ NHTW đến ngân hàng thơng mại và các định chế tài
chính. Nó cho phép kiểm soát hệ thống tiền tệ, kiềm chế và đẩy lùi lạm
phát, không những thế nó ổn định sức mua của đồng tiền, thúc đẩy tăng tr-
ởng kinh tế, là công cụ để kiểm soát toàn bộ hệ thống kinh doanh tiền tệ
làm cho hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng đợc lành mạnh an toàn và
có hiệu quả trớc sóng gió của thị trờng. Nó cho phép dự báo tình hình báo
động các diễn biến thuận lợi và bất lợi của lu thông tiền tệ, phân tích và đa
ra các giải pháp cần áp dụng, các công cụ cần vận hành để hệ thống tiền tệ
đợc lành mạnh. Một chính sách tiền tệ thích hợp sẽ là tác nhân mạnh mẽ để
ổn định và kích thích tăng trởng kinh tế và ngợc lại sẽ gây mất ổn định, sự
phát triển kinh tế chậm lại thậm chí lâm vào đình trệ, suy thoái và khủng
hoảng. Sự phát triển kinh tế và lành mạnh về tài chính-tiền tệ là tỷ lệ thuận
với nhau. Vì vậy nếu xây dựng chính sách tiền tệ phù hợp vào các điều kiện
của một nền kinh tế là một vấn đề chiến lợc.
Trong một quãng thời gian cụ thể nào đó chính sách tiền tệ quốc gia có
thể đợc xác định theo hai hớng:
- Chính sách tiền tệ mở rộng: là chính sách nới lỏng tiền tệ ( tăng
cung ứng tiền tệ trong lu thông ) nhằm khuyến khích đầu t, mở rộng
sản xuất, trong trờng hợp này chính sách tiền tệ nhằm vào chống suy
thoái và kích thích tăng trởng kinh tế.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt: chính sách tiền tệ này thu hẹp lợng tiền
trong lu thông nhằm hạn chế đầu t, kìm hãm sự phát triển quá nóng
của nền kinh tế, lúc này chính sách tiền tệ nhằm vào chống lạm phát.

Việc sử dụng chính sách tiền tệ tuỳ theo thực trạng nền kinh tếthông qua
nhiều công cụ khác. Tuỳ từng lúc nhấn mạnh cái gì theo từng mục tiêu và đó
thực sự là một nghệ thuật của nhà vạch chính sách.

đồng tiền biến đổi tỷ lệ nghịch với giá cả hàng hoá và dịch vụ. ổn định sức
mua đồng tiền là một đại lợng tơng đối. Nó biến động xung quanh một biên độ
cho phép; ở nớc ta hiện nay đang phấn đấu giữ cho tỷ lệ lạm phát ở mức độ
một con số (tức là dới 10%).
2.2. ổn định sức mua của đồng tiền
Giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiềnđợc đo bằng tỷ giá hối đoái thả
nổi. Tỷ giá hối đoái là một đại lợng so sánh giá trị giữa nội tệ và ngoại tệ, vì
vậy tỷ giá hối đoái có liên quan đến hàng loạt các yếu tố:
- Giá thành nhập và xuất khẩu.
- Tỷ lệ lạm phát làm thay đổi sức mua đồng tiền trong nớc.
- Tình trạng cán cân thơng mại và cán cân thanh toán quốc tế làm biến
đổi quan hệ cung cầu ngoại tệ.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Yếu tố tâm lý.
- Chính sách can thiệp tỷ giá của Nhà nớc.
Tỷ giá hối đoái là một yếu tố, một tín hiệu kinh tế hết sức nhạy cảm. Tỷ
giá bị nâng lên quá sức mua thực tế của đồng tiền trong nớc đều kéo theo
những hệ quả tích cực hoặc tiêu cực khó lờng cho nền kinh tế. Cho nên đờng
lối kinh tế xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ là ổn định (không
phải cố định) tỷ giá hối đoái.
Nh vậy, giá trị đối nội và đối ngoại của đồng tiền có mối liên quan tác
động qua lại với nhau.
Muốn ổn định tiền tệ và kinh tế trong nớc phải có biện pháp ổn định giá cả
hàng hoá, dịch vụ và tỷ giá hối đoái.
2.3. Tăng trởng kinh tế.
Về đại thể, khi tỷ lệ tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) lớn hơn nhịp độ
tăng dân số sẽ có tăng trởng kinh tế. Việc tăng trởng khối lợng tiền tệ có ảnh
hởng rất lớn đến thực trạng kinh tế.


nhất, khó có thể toàn dụng đợc. Muốn đạt đợc mục tiêu về công ăn việc làm
phải chống suy thoái nhất là suy thaói chu kỳ, đạt đợc mức tăng trởng kinh tế
ổn định.
Nhìn tổng quát giữa lạm phát và tăng trởng kinh tế và công ăn việc làm có
mâu thuẫn đối nghịch nhau. Thông thờng khi kiềm chế đợc lạm phát thì có
nguy cơ tăng trởng kinh tế giảm, dễ dẫn đến suy thoái và thất nghiệp. Ngợc
lại, khi mở rộng đầu t khắc phục suy thoái, tạo tăng trởng kinh tế và công ăn
việc làm thì rất khó kiềm chế lạm phát.
Có nhiều ý kiến khác nhau về xử lý mâu thuẫn và tìm đến dung hoà giữa
các xu hớng nói trên:
- Có nhà kinh tế hiện đại chủ trơng đa mục tiêu chống lạm phát lên
hàng đầu, tất cả phải phục tùng yêu cầu chống lạm phát, kể cả tăng
trởng kinh tế và công ăn việc làm nhng nếu ổn định mà để ổn định
thì thực chất là tụt hậu, khó khăn sẽ phát sinh và có nguy cơ tái phát.
- Một số nhà kinh tế khác chủ trơng phải mua bằng một tỷ lệ lạm
phát thấp để đạt đợc mức độ tăng trởng kinh tế vừa phải và một tỷ lệ
thất nghiệp có thể chấp nhận đợc. Nó tạo đợc tình thế ổn định hơn,
tránh đợc các cơn sốc lạm phát, khủng hoảng kinh tế và thất nghiệp.
- Có ngời cho rằng chấp nhận một mức lạm phát nhự nhàng đôi khi là
liều thuốc bổ quan trọng để kích thích phát triển sản xuất, có thể tìm
ra một phần chân lý ở luận điểm này. Nhng nếu lấy lạm phát làm
chất xúc tác cho tăng trởng thì quả là một trò đi trên dây.
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vì vậy vấn đề đặt ra là chính sách tiền tệ phải tìm đợc giải pháp để dung
hoà đợc 4 mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể, để vừa kìm chế đợclạm phát
vừa tăng trởng đợc nền kinh tế và đạt mức nhân dụng cao.
II. Nội dung cơ bản của chính sách tiền tệ.
Chính sách tiền tệ là một bộ phận cấu thành trong chính sách vĩ mô của
Nhà nớc. Về thực chất điều chỉnh quan hệ giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ,

phát triển công nghệ ngân hàng, gồm:
- Tiền mặt lu thông ngoài ngân hàng và tiền gửi không kỳ hạn tại ngân
hàng là M
1
- M
1
và các khoản tiền tiết kiệm (có kỳ hạn) và tiền gửi có kỳ hạn tại
các ngân hàng thơng mại là M
2
- M
2
và các loại tiền huy động tại các định chế tài chính khác là lhối l-
ợng tiền tệ M
3
Khối lợng tiền tệ cung ứng tăng thêm hàng năm về một phía nhằm đáp
ứng đủ phơng tiện thanh toán, gồm tiền mặt và các loại tiền gửi ở ngân hàng.
Và phía khác nhằm dành cho các nhu cầu tín dụng ngắn hạn đối với nền kinh
tế, tăng dự trữ ngoại hối và tạm ứng cho ngân sách Nhà nớc.
c.Điều hoà khối lợng tiền tệ tăng giảm theo tín hiệu thị trờng.

Khối lợng tiền tệ tăng thêm chỉ là chỉ tiêu định hớng. Điều quan trọng là
ngân hàng trung ơng phải theo dõi diễn biến:
- Của hoạt động kinh tế
- Của giá cả
- Của tỷ giá hối đoái.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Từ đó NHTW điều chỉnh kịp thời việc cung ứng tiền sao cho khối lợng tiền
tệ tăng thêm hay giảm đi không làm tăng giá cả hoặc tắc nghẽn lu thông vì
thiếu phơng tiện thanh toán.

Sau khi các ngân hàng thơng mại cho vay sẽ diễn ra chu trình tạo tiền gửi
và phát sinh bội số tín dụng rất phức tạp. ở các nớc công nghiệp có hệ thống
ngân hàng đã phát triển cao, thị trờng tiền tệ nhạy cảm thì ngời ta năng sử
dụng về các công cụ tác động vĩ mô gián tiếp ( nh lãi suất, thị trờng mở...) để
điều tiết tín dụng và mức tăng giảm khối tiền tệ. Từ khối lợng tiền tệ cung ứng
có thể cung ứng thêm, NHTW sẽ dành chủ yếu cho hoạt động tín dụng ngắn
hạn, phù hợp mức tăng trởng kinh tế, có tính đến mức lạm phát đã đợc khống
chế trong một thời kỳ nhất định. Khối lợng tiền tệ tăng thêm qua tín dụng sẽ
không đợc rót từ NHTW xuống, bất chấp thực trạng về vốn, chất lợng tín
dụng của các ngân hàng trung gian mà đợc hình thành trớc hết từ nhu cầu thực
sự của thị trờng tiền tệ, quan hệ vay vốn giữa các doanh nghiệp và các ngân
hàng trung gian. Khi các ngân hàng trung gian thiếu phơng tiện thanh toán thì
họ mới đến NHTW xin tái cấp ( tái chiết khấu ) tiền trung ơng. ở đây phải đảo
ngợc chu trình cấp vốn, NHTW luôn là ngời cho vay cuối cùng, đóng vai trò
chủ nợ nhằm kiểm soát đợc chất lợng và số lợng tín dụng, các nguồn tiền gửi
của các ngân hàng thơng mại và tổ chức tín dụng theo các định hớng chính
sách cụ thể sau:

a.Để tăng tầm kiểm soát của NHTW, tích cực kìm chế lạm phát, tăng
nguồn tín dụng, ngời ta thực hiện chính sách đa dạng hoá các thành phần
của khối tiền tệ: NHTW thúc đẩy các NHTM thu hút tất cả các nguồn tiền
gửi của mọi doanh nghiệp và dân c bằng cách mở tài khoản và thanh toán
qua ngân hàng. Từ đó phát triển các thành phần kinh tế của khối tiền tệ và
các công cụ lu thông tín dụng khác bên cạnh tiền mặt nhằm tăng nguồn vốn
tín dụng của các NHTM và khả năng chi phối của NHTW đối với khối tiền
tệ.
b.Thay lãi suất thực (-) bằng lãi suất thực (+) để thay chính sách tiền tệ
làm xói mòn nguôn vốn bằng chính sách tiền tệ mở rộng nguồn vốn với một
lãi suất (+) vừa phải sẽ làm cho dân c chuyển từ dạng tiết kiệm phi tài chính
(dự trữ vàng, ngoại tệ, bất động sản...) qua dạng tiết kiệm tài chính, tăng tiền

- Tiến hành kinh doanh ngoại hối trên thị trờng quốc tế
- Phấn đấu ổn định tỷ giá hối đoái để kiềm chế lạm phát, ổn định giá
cả trong nớc
- Quan hệ với NHTW khác, với các tổ chức tài chính-tiền tệ quốc tế
nhằm tìm kiếm nguồn tài trợ nớc ngoài có điều kiện u đãi, khuyến
khích đầu t nớc ngoài và thu hút kiều hối
- Tổ chức quản lý nợ nớc ngoài.
a.Chính sách hối đoái:
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Nhiều nớc thực hiện chính sách độc quyền hối đoái cấm lu thông tiền n-
ớc ngoài trên đất nớc mình, chính sách ngoại hối hớng vào việc ngăn chặn
việc tích trữ ngoại hối rải rác trong các pháp nhân và thể nhân, quản lý mua
và bán ngoại tệ, thu hút các nguồn ngoại tệ vào NHTW. Đây là chính sách
mua đứt bán đoạn chứ không phải cho phép các tổ chức dân sự và ngời c trú
đọc cất giữ ngoại tệ trên tài khoản mở ở các ngân hàng. Bởi vì điều này chỉ
có lợi cho nớc phát hành số ngoại tệ đó. Nhờ phát hành tiền họ đã thu về
khối lợng hàng hoá và dịch vụ mà cha bị đòi nợnh một khoản tín dụng tự
nguyện không trả lãi suất. Về phía các ngân hàng trong nớc, nếu huy động
tiền gửi không kỳ hạn hoặc ngắn hạn thì không thể sử dụng đợc nhiều số
ngoại tệ đó. Tất yếu họ phải đem gửi ngân hàng nớc ngoài để sẵn sàng đáp
ứng nhu cầu rút ra của khách hàng và tìm kiếm chút lãi dể bù đắp lãi suất
tiền gửi đã huy động vào việc và huy động ngoại tệ dài hạn lại là vấn đề
khác.
b.Dự trữ ngoại hối: mỗi nớc đều có dự trữ ngoại hối, tuỳ theo khả năng
nền kinh tế nớc đó. Dự trữ ngoại hối phục vụ cho nhu cầu thanh toán quốc
tế và điều chỉnh khối lợng tiền tệ trong nuức. NHTW mua và gia tăng dự trữ
ngoại hối sẽ làm tăng khối lợng tiền tệ. Ngợc lại khi NHTW bán ngoại tệ ra,
giảm dự trữ ngoại hối thì cũng đồng thời làm giảm khối tiền tệ. Qua việc
mua bán ngoại hối, NHTW thực hiện can thiệp thị trờng, chủ động tác động


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status