một số vấn đề về chính sách tiền tệ ở việt nam hiện nay - Pdf 10

Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
Lời mở đầu
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học: Tiền (hoặc một cách tơng tự, l-
ợng tiền cung ứng) đợc coi là bất cứ thứ gì đợc chấp nhận chung trong việc
thanh toán cho hàng hoá hoặc dịch vụ hoặc trong việc hoàn trả các món nợ.
Tiền tệ xuất hiện nh một tất yếu khách quan, phục vụ cho mục đích riêng
của con ngời dù xấu, dù tốt. Giờ đây, khi thiên niên kỷ thứ ba đã bắt đầu, tiền
vẫn cha bớt đi tính huyền bí vốn có của nó.
Với tiền tệ, vô luận là thời gian và không gian nào, ngời ta vẫn phải đi
tìm một nền tảng lý thuyết và nguyên lý của nó khả dĩ làm cứu cánh tơng
thích cho phát triển và giao lu kinh tế.
Do vai trò quan trọng của tiền tệ trong cuộc sống, trong nền kinh tế thị tr-
ờng, do tính huyền bí vốn có của nó. Việc tìm hiểu, học tập và nghiên cứu là
rất cần thiết đối với mỗi chúng ta, nhất là đối với sinh viên kinh tế. Với đề tài:
Một số vấn đề về chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay, Em sẽ trình bầy
những lý luận chung về chính sách tiền tệ và thực tế ở việt nam cùng một số
giải pháp để chính sách tiền tệ tơng thích với quá trình phát triển và hội nhập
kinh tế.
Qua đây, Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo: TS. Vũ Duy Hào đã giúp
đỡ Em hoàn thành bài viết.
Hà nội, năm 2004
SV: Nguyễn Ngọc Mạnh
nguyễn ngọc mạnh 1 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
Chơng I
Tổng quan về chính sách tiền tệ
1. Chính sách tiền tệ là gì?
Chính sách tiền tệ là tổng hoà các phơng thức mà Ngân hàng Trung ơng
sử dụng nhằm điều khiển việc cung tiền tệ, để ổn định giá trị đồng bản tệ, đa
sản lợng và việc làm của quốc gia đến mức mong muốn. ở đó, chính sách tiền
tệ luôn là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của

* Chính sách đối với ngân sách nhà n ớc: Nhằm đảm bảo cung ứng phơng
tiện thanh toán cho chính phủ trong trờng hợp ngân sách Nhà nớc bị thiếu hụt.
Phơng thức cung ứng tối u là ngân hàng trung ơng cho ngân sách Nhà nớc vay
theo kỳ hạn nhất định. Dần dần và tiến tới loại bỏ hoàn toàn phát hành tiền để
bù đắp thiếu hụt ngân sách.
3. Mục tiêu của chính sách tiền tệ.
3.1. Kiểm soát lạm phát, ổn định giá trị đồng bản tệ.
Trong điều kiện lu thông tiền giấy không đợc tự do chuyển đổi ra vàng,
lạm phát luôn là khả năng tiềm tàng, thậm chí khó tránh khỏi của các nớc. Với
chức năng của mình Ngân hàng trung ơng luôn coi việc kiểm soát lạm phát,
ổn định giá trị đồng tiền là mục tiêu hàng đầu của chính sách tiền tệ.
Lạm phát là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian. Khi lạm phát ở
mức độ cao (lạm phát phi mã, siêu lạm phát), sẽ dẫn tới phân phối lại thu
nhập và của cải giữa các tầng lớp giai cấp khác nhau. Khi giá cả tăng lên một
cách bất thờng thì ngời mất là những ngời đang nắm các tài sản danh nghĩa
còn ngời đợc là những ngời có các khoản nợ tính theo các giá trị danh nghĩa.
Khi lạm phát tăng lên ở mức độ cao thu nhập thực tế của dân c sẽ giảm, đời
sống của nhân dân lao động sa sút , lạm phát cao còn gây ra hiện tợng đầu t
tích trữ hàng hoá và hiện tợng chuyển tiền sang các loại hàng hoá khác, làm
cho cầu về hàng hoá tăng (gồm cả cầu giả tạo) dẫn tới mất cân đối cung cầu
và giá cả hàng hoá tăng lên làm tốc độ lạm phát càng cao và dễ bị rơi vào
vòng xoáy lạm phát nếu tình trạng này diễn ra trong một thời gian dài. Lạm
phát cao còn làm sai lệch các biến số kinh tế vĩ mô, gây khó khăn cho việc lập
kế hoạch cho tơng lai và con có thể gây xung đột trong xã hội.
Còn khi lạm phát ở mức độ vừa phải (lạm phát dự tính), thờng là dới
10% thì nó không có tác động tiêu cực mà theo nhiều nhà kinh tế nó còn là
một liều thuốc bổ tăng trởng kinh tế. Vì khi đó một khối lợng tiền cho lu
thông tăng lên, kích thích đầu t, tạo công ăn việc làm cho ngời lao động, tạo
đà cho tăng trởng kinh tế.
Ngân hàng trung ơng có thể kiểm soát lạm phát bằng cách mở rộng cung

xuống sẽ thu hẹp các hoạt động sản xuất kinh doanh, nền kinh tế cần ít lao
động hơn, việc làm giảm và thất nghiệp tăng.
3.3. ổn định và tăng trởng kinh tế
Mục đích cao nhất của chính sách tiền tệ là làm thế nào để phát triển
kinh tế, gia tăng sản lợng của nền kinh tế.
Mục tiêu ổn định tăng trởng kinh tế có quan hệ chặt chẽ với mục tiêu
việc làm cao. Chính sách tiền tệ có thể tác động đồng thời đến hai mục tiêu
này. Khi cung ứng tiền tệ tăng lên, trong ngắn hạn lãi suất tín dụng giảm sẽ
khuyến khích đầu t, mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu sử dụng lao động
nhiều hơn, làm tăng sản lợng và tăng trởng kinh tế. Ngợc lại, khi cung ứng
tiền tệ giảm, trong ngắn hạn lãi suất tăng sẽ hạn chế đầu t, thu hẹp hoạt động
sản xuất kinh doanh và cần ít lao động hơn, lam cho sản lợng giảm, tăng trởng
kinh tế chậm lại.
nguyễn ngọc mạnh 4 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
3.4. Quan hệ giữa các mục tiêu
Nhìn một cách tổng quát và có chiến lợc lâu dài thì các mục tiêu chính
sách tiền tệ có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau. Điều đó
cho thấy rằng, trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ không thể tuyệt đối
hoá một mục tiêu nào, không thể giải quyết các mục tiêu một cách độc lập
trên tầm vĩ mô.
Mặc dù nhiều mục tiêu nêu ra nhất trí với nhau - việc làm cao với tăng tr-
ởng kinh tế hoặc ổn định lãi suất với ổn định thị trờng tài chính - nhng không
phải lúc nào cũng nh vậy. Trong ngắn hạn, các mục tiêu tăng trởng, thất
nghiệp và lạm phát có mối quan hệ chế ớc lẫn nhau. Khi kìm chế đợc lạm
phát thì tăng trởng chậm lại dẫn đến suy thoái, thất nghiệp cao. Và khi mở
rộng đầu t khắc phục suy thoái, phát triển kinh tế thì sẽ tạo đợc nhiều công ăn
việc làm hơn, thất nghiệp giảm nhng lại rất khó kìm chế lạm phát.
4. Quan hệ giữa chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác.
Để đạt đợc các mục tiêu và vận hành một cách hiệu quả chính sách tiền

đổi lợng tiền cung ứng.
Khi Ngân hàng trung ơng mua bán chứng khoán trên thị trờng sẽ làm
thay đổi cơ số tiền tệ (tiền đang lu hành ngoài hệ thống ngân hàng và tiền dự
trữ trong hệ thống ngân hàng). Do các ngân hàng thơng mại có thể tạo ra tiền
(tuỳ vào tỷ lệ dự trữ), vì vậy lợng tiền cung ứng có thể tăng hoặc giảm ngoài l-
ợng tiền mà Ngân hàng trung ơng cung ứng.
Khi Ngân hàng trung ơng mua chứng khoán, làm tăng cơ số tiền tệ, qua
đó làm tăng lợng tiền cung ứng.
Khi Ngân hàng trung ơng bán chứng khoán, thu hẹp cơ số tiền tệ, qua đó
giảm lợng tiền cung ứng.
Có hai loại nghiệp vụ thị trờng mở là nghiệp vụ thị trờng mở chủ động
nhằm thay đổi mức dự trữ và cơ sồ tiền tệ và nghiệp vụ thị trờng mở thụ động
nhằm bù lại những chuyển động của các nhân tố khác đã ảnh hởng đến cơ số
tiền tệ.
Nghiệp vụ thị trờng mở là công cụ quan trọng nhất của Ngân hàng trung
ơng trong viêc điều tiết lợng tiền cung ứng, bởi những u thế vốn có của nó:
* Ngân hàng trung ơng có thể kiểm soát đợc hoàn toàn lợng nghiệp vụ thị
trờng tự do.
* Nghiệp vụ thị trờng mở linh hoạt và chính xác, có thể đợc sử dụng ở bất
cứ mức độ nào, điều chỉnh một lợng tiền cung ứng lớn hay nhỏ.
* Ngân hàng trung ơng dễ dàng đợc đảo ngợc lại tình thế của mình. Nếu
Ngân hàng trung ơng thấy rằng cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do mua quá
nhiều trên thị trờng mở, thì lập tức nó có thể sửa chữa ngay bằng cách tiến
hành nghiệp vụ bán và ngợc lại.
* Thực hiện nhanh chóng, ít tốn kém về chi phí và thời gian
Tuy nhiên, nghiệp vụ này phụ thuộc rât lớn vào thị trờng chứng khoán và
chỉ có thể áp dụng trong điều kiện mà hầu hết tiền trong lu thông đều nằm ở
tài khoản tại ngân hàng.
nguyễn ngọc mạnh 6 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ

Thứ nhât: Tác động đến cơ chế tạo tiền gửi của các ngân hàng thơng mại.
Trong trờng hợp ngân hàng thơng mại quá ham kiếm lợi nhuận bằng cách cho
vay quá mức, có thể phơng hại tới quyền lợi của ngời ký gửi tiền. ở đây, Ngân
hàng trung ơng đảm bảo an toàn tiền gỉ cho khách hàng. Theo thuyết tạo tiền,
hệ thống ngân hàng thơng mại có thể tạo ra một lợng tiền lớn gấp nhiều lần,
với công thức tổng quát:
nguyễn ngọc mạnh 7 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
Tiền gửi mới đợc tạo ra = (1/ tỷ lệ dự trữ bắt buộc) * Tiền dự trữ ban đầu.
Thứ hai: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc tác động đến lãi suất cho vay của hệ thống
ngân hàng thơng mại. Tiền dự trữ không đợc hởng lãi nên khi mức dự trứ tăng
lên, đòi hỏi các ngân hàng thơng mại phải tăng lãi suất cho vay đối với nền
kinh tế, khả năng cho vay của các ngân hàng thơng mại giảm xuống, và theo
đó lợng tiền cung ứng giảm xuống. Ngợc lại, khi mức dự trữ giảm xuống, lãi
suất cho vay giảm, khả năng cho vay của các ngân hàng thơng mại tăng và
làm cho lợng tiền cung ứng tăng.
Hiện nay, công cụ dữ trữ bắt buộc đóng vai trò kém quan trọng trong quá
trình thực thi chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ơng, bởi nó ảnh hởng tới
lợi nhuận của các ngân hàng thơng mại và kém linh hoạt tuy nó tác động nh
nhau tới các ngân hàng thơng mại.
5.4. Quản lý lãi suất của các ngân hàng thơng mại.
Lãi suất đợc xem là công cụ gián tiếp thực hiện chính sách tiền tệ trong
việc cung ứng tiền vào lu thông hoặc rút bớt tiền khỏi lu thông. Sở dĩ, nói lãi
suất là công cụ gián tiếp, bởi lẽ, lãi suất không trực tiếp làm tăng hay giảm
khối lợng tiền tệ trong lu thông.
Thông thờng, chính sách lãi suất đi vay hay lãi suất tiền gửi và lãi suất
cho vay biến đổi cùng chiều. Nghĩa là, cả hai mức lãi suất đó đều tăng lên hay
giảm xuống đồng thời. Tuy nhiên, nó vận động ngợc chiều với giá cả của
chứng khoán.
Hiện nay, trên thế giới có hai quan điểm về cơ chế hình thành lãi suất.

làm giảm cạnh tranh giữa các ngân hàng thơng mại, làm lệch lạc cơ cấu đầu t
của các ngân hàng thơng mại, làm phát sinh các thị trờng tài chính ngầm
ngoài sự kiểm soát của Ngân hàng trung ơng, gây khó khăn về vốn cho các
doanh nghiệp nhỏ
nguyễn ngọc mạnh 9 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
Chơng II
Chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay
1. Tình hình kinh tế tiền tệ việt nam hiện nay
Tuỳ vào từng thời điểm khác nhau, mỗi nớc có mục tiêu riêng về chính
sách tiền tệ. Chính sách tiền tệ ở Việt Nam đã đợc xác định là thúc đẩy tăng
trởng kinh tế và kiềm chế lạm phát và chúng ta đã thu đợc một số thành tựu
trong những năm qua.
* Tình hình tỷ giá.
Tháng 9/1994, thị trờng ngoại tệ liên ngân hàng đợc thiết lập, NHNN
thực hiện vai trò ngời mua bán cuối cùng trong ngày. Tỷ giá chính thức vẫn đ-
ợc ngân hàng công bố, chỉ có biên độ dao động là có sự thay đổi. Đồng USD
là đồng ngoại giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, và có xu hớng tăng giá so
với VNĐ.
* Tình hình lạm phát.
Những năm gần đây, theo ớc tính lạm phát ở Việt Nam là hai con số,
trung bình khoảng 6%. Theo nh lời của Ngân hàng nhà nớc thì chúng ta vẫn
khống chế đợc tỷ lệ lạm phát nh mong muốn. Sự ra đời với mệnh giá lớn của
đồng tiền việt nam không phải là dấu hiệu của lạm phát, chúng ta vẫn cha nên
thay đổi chính sách tiền tệ trong trờng hợp này.
* Tình hình thất nghiệp.
Tỷ lệ thất nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã lên mức báo
động. Theo tính toán không chính thức của NH thế giới, thì giai đoạn hiện nay
tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam xấp xỉ 7%, lao động qua dạy nghề chiếm tỷ
trọng không lớn trong tổng số lao động.

0.5%/tháng đồng thời NHNN công bố lãi suất chiết khấu là 0.45%/tháng.
2.3. Nghiệp vụ thị trờng mở.
ở Việt Nam hiện nay nghiệp vụ thị trờng mở cha thực sự trở thành công
cụ đóng vai trò quan trọng để NHNN điều tiết mức cung ứng tiền. Nguyên
nhân cơ bản nhất là chúng ta mới chỉ có thị trờng sơ cấp còn thị trờng thứ cấp
mới đợc hình thành và manh nha hoạt động. Hàng hoá trên thị trờng chủ yếu
là tín phiếu kho bạc, nhng khối lợng đợc phát hành còn ít lại cha thờng xuyên.
Trong năm 1999 tính đến giữa tháng 11, kho bạc nhà nớc phối hợp với NHNN
tổ chức đợc 40 phiếu đấu thầu tín phiếu kho bạc kỳ hạn một năm. Tổng giá trị
đấu thầu trong 40 phiếu này là 4000 tỷ đồng (100tỷ/phiếu) tổng khối lợng tín
phiếu đã đấu thầu là 2.863,6 tỷ đồng, bằng 78.59% tổng khối lợng tín phiếu
đấu thầu.
Đây là một công cụ hết sức linh hoạt, chính xác, chủ động và dễ dàng
mua bán. nhằm tiến hành chuyển hớng điều hành tiền tệ từ các công cụ trực
tiếp sang công cụ gián tiếp năm 1999, NHNN đã gấp rút các điều kiện chuẩn
nguyễn ngọc mạnh 11 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
bị về pháp lý cũng nh công cụ cho hoạt động thị trờng mở, dự kiến sẽ hoạt
động vào quý I năm 2000.
2.4. Quản lý lãi suất của ngân hàng thơng mại.
Quốc hội khoá IX trong kỳ họp thứ 8, tháng 8/1995 cùng với nghị quyết
bỏ thuế doanh thu trong hoạt động tín dụng ngân hàng, đã yêu cầu ngân hàng
tiết kiệm chi phí hoạt động kinh doanh và khống chế mức lãi suất huy động và
cho vay bình quân là 0.35%/tháng.
Việc quy định trần lãi suất và quy định sàn lãi suất. Vì thế từ 1/1/96,
NHNN đã quy định trần lãi suất cho vay tối đa và mức chênh lệch 0.35% thay
cho việc điều hành lãi suất cho vay, lãi suất tiền gửi chi tiết và lãi suất thoả
thuận quy định trớc đó.
Từ 21/1/1998 đến nay, tại kỳ họp thứ 2 tháng 12/1997, quốc hội khoá IX
cho phép bỏ mức chênh lệch 0.35%/tháng đồng thời để thu hẹp mức cách biệt

3.1. Những mặt tích cực.
Việc cho ra đời và vận hành một chính sách tiền tệ theo các nguyên tắc
cơ bản của hoạt động tiền tệ trong nền kinh tế thị trờng là một bớc ngoặt trong
lịch sử điều hành và thể hiện tập nhất của quá trình đổi mới hệ thống tiền tệ
NH thời gian qua.
Thứ nhất: Về hoạt động cung ứng tiền.
Thời điểm thay đổi có tính chất quyết định đối với cơ chế cung ứng tiền
là năm 1990, khi cơ chế xác định lợng tiền cung ứng một cách hành chính bị
xoá bỏ, thay và đó là lợng tiền cung ứng hàng năm đợc xác định trên các căn
cứ tơng đối hợp lý đó là tốc độ tăng trởng kinh tế và lạm phát dự tính. Xác
định các căn cứ cung ứng tiền trên đây cũng đồng nghĩa với việc xoá bỏ một
kênh cung cấp tiền truyền thống in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách (năm
1991). Cơ chế điều hành việc cung ứng tiền cũng đã có những thay đổi rõ rệt.
Với chức năng điều tiết lu thông tiền tệ kể từ năm 1993, NHNN đã đợc trao
quyền chủ động hơn và rút tiền khỏi lu thông trên cơ sở chỉ tiêu năm đã đợc
duyệt, loại bỏ vĩnh viễn tình trạng thiếu tiền mặt có tính thời điểm trong nền
kinh tế.
Thứ hai: Về chính sách lãi suất.
Lãi suất đối với nền kinh tế: Nội dung việc điều tiết lãi suất đã kết hợp đ-
ợc cả hai yêu cầu, đó là quán triệt nguyên tắc lãi suất dơng và từng bớc thị
trừơng hóa việc điều tiết lãi suất tạo môi trờng tự chủ cho các tổ chức tận dụng
cũng nh khu vực khách hàng. Từ chỗ ấn định cụ thể mức lãi suất đối với các
hoạt động huy động và cho vay của hệ thống NH, đến nay NHNN chỉ quản lý
trần lãi suất thả nổi hoàn toàn lãi suất đầu vào cũng trong thời gian đó, mức lãi
suất liên tục điều chỉnh giảm 4-5 lần/năm vào các năm 96-99.
Lãi suất tái cấp vốn: do cha có thị trơng tiền tệ (kể cả thị trờng thơng
phiếu) nên lãi suất tái cấp vẫn đợc sử dụng trong quản lý tiền tệ thay cho lãi
suất chiết khấu. Trong quá trình đổi mới một mặt NHNN luôn nỗ lực phát
triển thị trờng tiền tệ, mặt khác cũng chú trọng việc điều tiết lãi suất tái cấp
vốn. Điểm nổi bật trong điều tiết lãi suất tái cấp vốn thời gian qua là chuyển

liên tục với tốc độ cao, bình quân khoảng hơn 7% trong những năm gần đây.
Giữ đợc ổn định vĩ mô, ổn định tỷ giá điều chỉnh lãi suất phù hợp để đáp
ứng cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ chế điều hành tỷ giá hối
đoái ngoại tệ phù hợp tăng ngoại tệ cho đất nớc thị trờng ngoại tệ sôi động
doanh số giao dịch trên thị trờng ngoại tệ tăng.
Huy động đợc quyền vốn đầu t bù đắp sự giảm sút vốn đầu t nớc ngoài,
ngoài d nợ cho vay thông thờng còn đáp ứng nhu cầu vốn đầu t của nhà nớc,
nguyễn ngọc mạnh 14 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
đáp ứng đủ ngoại tệ để đầu t những dự án trọng điểm với lãi suất thấp hơn lãi
suất quốc tế.
Cái đợc lớn nhất trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thời gian qua là tốc
độ gia tăng nguồn vốn huy động và d nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng góp
phần quan trọng vào việc ổn định lu thông tiền tệ, đáp ứng nhu cầu to lớn về
vốn cho phát triển kinh tế trong bối cảnh cơ sở vật chất tự có còn rất hạn chế
(theo ớc tính vốn tự có của khu vực sản xuất chiếm khoảng 10-20% tổng vốn
sản xuất).
3.3. Mặt hạn chế còn tồn tại.
Tỷ lệ lạm phát biến động không đông đều, lạm phát ở nớc ta thấp ở mức kỷ
lục và có thể rơi vào vòng xoáy lạm phát từ tháng 3 đến tháng 10 năm 99 chúng
ta có lạm phát âm gây ra những tác động tiêu cực đến tăng trởng kinh tế.
Tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn hiện nay đã lên đến mức báo động đạt
xấp xỉ 7% gây lãng phí về nguồn lực gây ra các tệ nạn xã hội
Đầu t của nền kinh tế đang chậm lại hoặc đang thiếu vốn, đặc biệt là vốn
cho sản xuất của các doanh nghiệp.
Tỷ lệ nợ của các ngân hàng thơng mại còn qua cao tới mức báo động
quan hệ giữa lãi suất huy động cho vay ngoại tệ và VNĐ còn cha hợp lý gây
ra tình trạng cốn huy động bằng ngoại tệ tăng nhng d nợ cho vay ngoại tệ lại
giảm.
3.4. Nguyên nhân.

Kênh truyền dẫn trực tiếp chủ yếu lợi dụng cơ chế tác động của thị trờng
tài chính thông qua sự thay đổi giá tài sản và sự cơ cấu lại danh mục đầu t của
ngời đầu t . Với các công cụ, đặc biệt là nghiệp vụ thị trờng mở, ngân hàng
trung ơng có thể đa phơng truyền tác động của nó đến các mục tiêu của chính
sách tiền tệ bao gồm các kênh dẫn truyền trực tiếp và gián tiếp.
Các công cụ điều hành chính sách tiền tệ hiện có cha phát huy tốt tác
dụng trong cơ chế thị trờng , thậm chí có công cụ vẫn còn ở dạng sơ khai và
rất thiếu công cụ cần thiết để đáp ứng đòi hỏi mới của tình hình.
NHNN việt nam chỉ sử dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc là chính , nhng công cụ
này rất khó sử dụng, rất rễ bị lỡ tay và trong thực tế nó cũng cha phát huy đợc
hết tác dụng. Trong khi đó nghiệp vụ thị trờng mở rất linh hoạt, chính xác, chủ
động và rễ ràng đảo ngợc việc mua lại cha đợc sử dụng
3.4.3. Sự bất cập của các thủ tục pháp lý, hành chính và sự yếu kém của bộ
máy hành chính.
Hệ thống ngân hàng cha thoát khỏi cơ chế cũ, cha bám thị trờng, cha
bám khách hàng, cha đủ năng động. Để vay đợc vốn của ngân hàng là điều rất
khó, khó hơn rất nhiều so với gửi tiền vào. Còn trong quan hệ của NHTM và
NHNN thì những điều kiện để chiết khấu, tái chiết khấu cũng rất khó. Gần
đây NHNN ra quyết định về việc trích dự phòng rủi ro tín dụng. Đây là vấn đề
mà các NHTM mong đợi từ lâu song khi có rồi lại thất vọng. Bởi vì, khi điều
kiện thực hiện quá ngặt nghèo, nằm ngoài tầm với của NHTM thì có cũng nh
không.
nguyễn ngọc mạnh 16 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
3.4.4. Nguyên nhân thuộc về những ngời lập, ra quyết định, thực hiện quyết định.
Những ngời lập chính sách còn cha có trình độ cao nhiều khi còn ra các
quyết định sai lầm , thêm vào đó là chất lợng thông tin về các biến số vĩ mô
còn cha đợc cao.
Những biện pháp đề ra cha đủ nhanh, mạnh, nội dung công việc triển
khai chậm cha bám sát thực tiễn.

nguyễn ngọc mạnh 17 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
thu nhập cao hơn kinh doanh tiền đồng. Không ít ngân hàng huy động đợc
ngoại tệ đã không cho các doanh nghiệp trong nớc vay mà gửi ra nớc ngoài
kiếm chênh lệch cao hơn cho vay trong nớc.
ChơngIII
Nâng cao hiệu quả của
chính sách tiền tệ ở Việt Nam
1. Với các công cụ trực tiếp
1.1. Một số giải pháp sử dụng nghiệp vụ thị trờng mở.
Ngân hàng trung ơng các nớc thờng tiến hành phần lớn các nghiệp vụ thị
trờng mở theo yêu cầu điều chỉnh cùng cầu tiền tệ, đặc biệt khi không thể thực
hiện đợc với công cụ tái chiết khấu.
ở Việt Nam hiện nay, thị trờng mở cha thực sự trở thành công cụ đóng
vai trò quan trọng để NHNN điều tiết mức cung ứng tiền tệ.
Để sớm có thể đa nghiệp vụ thị trờng mở vào hoạt động, cần có các giải
pháp sau:
1.1.1. Hoàn thiện cơ chế tổ chức, điều kiện công nghệ nhằm thực hiện có hiệu
quả nghiệp vụ thị trờng mở.
Để thực hiện tốt nghiệp vụ thị trờng mở, NHNN cần có bộ máy gồm các
chuyên gia tài chính - tiền tệ giỏi chuyên môn theo dõi, phân tích đánh giá
diễn biến tình hình tiền tệ, lạm phát để đa ra những quyết định can thiệp
vào thị trờng một cách kịp thời, cùng các công cụ khác thực thi có hiệu quả
mục tiêu chính sách tiền tệ. Bộ máy này có thể gọi là ban thị trờng mở trực
thuộc NHNN. Nhiệm vụ chủ yếu của ban thị trờng mở gồm.
* Theo dõi, tính toán dự toán vốn khả dụng của các ngân hàng (qua bộ
phận nghiệp vụ). Các thông tin này giúp ban thị trờng mở quyết định cần phải
thay đổi vốn khả dụng của các NHTM ở mức độ cần thiết để đạt đợc yêu cầu
cung ứng tiền tệ.
* Theo dõi diễn biến xu hớng vận động của tình hình lạm phát, lãi suất

thực hiện xã hội hoá việc mở tài khoản thanh toán cho các chủ thể trong xã
hội. Có nh vậy khi các chủ thể này tham gia mua bán tín phiếu tại thị trờng
mở , nó sẽ nhanh chóng tác động ngay đến khả năng tín dụng của các NHNN
và công cụ thị trờng mở mới có thể phát huy hết các u thế vốn có của nó.
2. Cần có các công cụ gián tiếp để điều hành CSTT.
Các công cụ trực tiếp ngày càng bộc lộ những yếu điểm và ngày càng
kém hiệu lực trong một nền kinh tế thị trờng đầy biến động.
Để có một chính sách tiền tệ mềm dẻo, linh hoạt cần có các công cụ gián
tiếp nh: Quản lý lãi suất của các NHTM, chính sách tái cấp vốn (bao gồm hạn
mức tái cấp vốn và chính sách tái cấp vốn).
Để có thể sử dụng các công cụ gián tiếp cần phải:
* Có một hệ thống ngân hàng hoạt động lành mạnh trong cơ chế cạnh tranh.
nguyễn ngọc mạnh 19 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
* Một thị trờng tiền tệ thứ cấp hoạt động tích cực và đợc điều tiết hiệu quả.
Nền kinh tế nớc ta đang đứng trớc thách thức của nhu cầu mở cửa và hội
nhập toàn diện, một chính sách tiền tệ cứng nhắc và kém hiệu quả sẽ không
bảo đảm cho nó tránh đợc những ảnh hởng mạnh mẽ từ thị trờng bên ngoài.
Hơn nữa sau 10 năm đổi mới và những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực ngân
hàng, những điều kiện cho phép sử dụng cơ chế điều chỉnh gián tiếp đang dần
hình thành hứa hẹn một khả năng chắc chắn cho sự chuyển đổi cơ chế điều tiết
lợng tiền cung ứng. Công việc cần phải làm tiếp theo là đánh giá và dự tính
hiệu quả tác động của công cụ gián tiếp trong điều kiện cụ thể của Việt Nam.
2.1. Các giải pháp đối với chính sách lãi suất.
2.1.1. Cần có một chính sách lãi suất đồng bộ.
Thứ nhất: Tiền lãi suất cho vay bằng nội tệ cần phải dựa trên các cơ sở
sau:
* Tỷ lệ lạm phát: Lãi suất danh nghĩa phải đợc xác định cao hơn tỷ lệ lạm
phát để đảm bảo một tỷ lệ lãi suất thực dơng.
* Tỷ suất lợi nhuận bình quân: Giới hạn tối đa đối với tỷ lệ lãi suất là tỷ

- Lãi suất cho vay tối thiểu.
* Lãi suất sàn do NHTW quy định có thể là
- Lãi suất tiền gửi tối thiểu
- Lãi suất tiền gửi tối đa
Nhng cơ sở nào để xác định lãi suất cơ bản thì đó là một vấn đề còn
nhiều tranh cãi.
Hiện nay có một số quan điểm tiếp cận lãi suất cơ bản nh sau:
* Quan điểm thứ nhất cho rằng: Nên lấy lãi suất tái cấp vốn của NHNN
làm lãi suất cơ bản, theo quan điểm này mô hình chung đã phủ nhận nội dung
điều luật 18 của luật NHNN là: NHNN xác định nội dung và công bố lãi suất
cơ bản và lãi suất tái cấp vốn, nh vậy có sự phân định giữa lãi suất tái cấp vốn
và lãi suất cơ bản mà NHNN đã quy định đối với khoản tín dụng mà NHNN
quy định thực hiện cho vay cuối cùng với ba hình thức:
+ NHNN cho vay chiết khấu và tái chiết khấu đối với các thơng phiếu
của NHTM.
+ NHNN cho vay đối với giá trị các hợp đồng tín dụng cha đến hạn hợp
đồng của các NHTM.
+ NHNN cho vay cầm cố bất động sản và thế chấp các chứng từ có giá
khác của NHTM. Lãi suất tái cấp vốn của ba hình thức chủ yếu này đợc
NHNN sử dụng để thắt chặt hoặc mở rộng tín dụng đối với nền kinh tế qua đó
thực hiện chính sách tiền tệ. ở các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển thì
NHNN thờng sử dụng lãi suất chiết khấu và lãi suất tái chiết khấu để điều
khiển lãi suất tín dụng, trong khi ở nớc ta hình thức này cha xuất hiện do vậy
lãi suất tái cấp vốn cha thể chi phối.
nguyễn ngọc mạnh 21 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
* Quan điểm thứ hai cho rằng: Vẫn duy trì lãi suất trần hiện nay và xem
đó là lãi suất cơ bản nhng có thể quy định mức biên độ, tuy nhiên chúng ta đã
chấp nhận lãi suất trần lại còn có biên độ dao động.
* Quan điểm thứ ba cho rằng: Việc xác định lãi suất cơ bản trên cơ sở lãi

hơn của các NHTMquốc doanh) để có thể cạnh tranh giành khách hàng.
nguyễn ngọc mạnh 22 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
Nhng sự thống nhất về sàn lãi suất cho vay của bốn NHTM quốc doanh
cha thể hiện một chính sách điều hành bằng lãi suất. Bởi lẽ nó cha mang tính
pháp lý đối với các NHTM đang hoạt động tại Việt Nam. Nhất là đối với các
chi nhánh ngân hàng nớc ngoài tại Việt Nam, thực tế đã có một số NH này
cho vay với lãi suất 0,68% tháng.
Vì vậy, chúng ta cần một chính sách, nghĩa là sàn lãi suất phải đợc
NHNN ban hành. Tỷ lệ bao nhiêu còn cần đợc xem xét tới nhiều yếu tố liên
quan nh lãi trả cho tiền gửi huy động, phí hoạt động cần thiết của NH, tỷ giá
tỷ lệ dự trữ, tỷ lệ lạm phát khả năng kinh doanh và tỷ suất phát triển bình
quân của các doanh nghiệp.
Khi áp dụng một lãi suất sàn cần có các lu ý sau:
* Một là, lãi suất sàn chỉ áp dụng ở khu vực thành thị, nơi có nhiều ngân
hàng đóng trụ sở và là nơi đã và đang có các điều kiện thuận lợi thu hút sự đầu
t và dễ huy động vốn, bởi vì chính nơi đây đang diễn ra sự cạnh tranh lãi suất
gay gắt theo chiều hớng bất lợi.
* Hai là, lãi suất sàn không cần áp dụng ở khu vực nông thôn nơi đang
thiếu vốn; một nơi nghèo, chậm phát triển đang cần sự đầu t với lãi suất u đãi
hơn để tăng trởng; do đó, không cần phải khống chế sàn lãi suất cho khu vực
này, đây là khu vực cơ sở phát triển cho toàn bộ nền kinh tế đất nớc; vì thế ở
khu vực này phải đợc bảo vệ bằng trần lãi suất (việc đầu t ở khu vực nông thôn
cần hiểu là cho vay trực tiếp cho sản xuất hoặc xây dựng các cơ sở hạ tầng
phục vụ cho sản xuất). Sự không khống chế lãi suất sàn ở khu vực nông thôn
trong điều kiện hiện nay sẽ tạo ra một luồng chảy vốn từ các ngân hàng ở
thành thị về nông thôn, từ đó mới có điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá ở
nông thôn.
* Ba là, lãi suất sàn cũng cần phải quy định luôn cho trung và dài hạn
theo nguyên tắc, lãi suất sàn trung và dài hạn lớn hơn lãi suất sàn ngắn hạn.

văn bản pháp luật một cách rõ ràng, cụ thể, chính sách bộ máy hành chính nói
chung và của NHNN nói riêng còn cồng kềnh, yếu kém, còn nhiều bất cập,
làm việc kém hiệu quả cho nên các quyết định nhiều khi cha chính xác, việc
chỉ đạo thực hiện các chính sách nhiều khi chậm trễ, không hiệu quả.
Yếu tố con ngời là cực kỳ quan trọng do đó cần phải đào tạo, bồi dỡng để
có những cán bộ tín dụng có kiến thức, trình độ , có đạo đức, trình độ nghề
nghiệp và phải có bản lãnh, kinh nghiệm nghề nghiệp.
Bên cạnh đó cần phải giảm biên chế bộ máy hành chính, tăng cờng các
mối quan hệ theo chiều ngang. Tiếp tục thực hiện một cách mạnh mẽ dứt điểm
việc củng cố, sắp xếp các tổ chức tín dụng.
Ngoài ra cần phải nâng cao chất lợng của thông tin, bao gồm cả thông tin
tài chính và thông tin phi tài chính, hiện đại hoá công nghệ NH mà trọng tâm
là nghiệp vụ thanh toán qua NH. Phát triển các công cụ và dịch vụ thanh toán
không dùng tiền mặt để dễ dàng hơn trong việc kiểm soát khôí lợng tiền cung
ứng, lu thông điều hành chính sách tiền tệ hiệu quả hơn.
nguyễn ngọc mạnh 24 tcdn43b
Đề án môn học Lý thuyết tài chính tiền tệ
Kết luận
Giờ đây chúng ta đã có lý luận căn bản về chính sách tiền tệ, đó là cơ sở
cho chúng ta hiểu, phân tích và đánh giá biện pháp mà Ngân hàng trung ơng
sử dụng trong quá trình thực thi chính sách tiền tệ.
Với Việt Nam mục tiêu của chính sách tiền tệ là thúc đẩy tăng trởng kinh
tế và kiềm chế lạm phát. Việc vân dụng chính sách này vào thực tế nh thế nào
để đạt đợc mục tiêu luôn là một vấn đề đặt ra cho các nhà hoạch định.
Chúng ta có thể sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng hoặc chính sách tiền
tệ thắt chặt. ở đó chúng ta nên dùng nghiệp vụ thị trờng mở để điều tiết lợng
tiền cung ứng hay là chính sách chiết khấu hay là dự trữ bắt buộc hay quản lý
lãi suất Các bạn có thể đặt mình nh những nhà hoạch định chính sách và lựa
chọn một phơng án khả thi với quan điểm của riêng các bạn, phù hợp với mục
tiêu mà chính sách tiền tệ u tiên ( kìm chế lạm phát, việc làm, hay thúc đẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status