CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ - CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT VÀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ TRONG HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 23

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
chính sách tiền tệ - chính sách lãi suất và nghiệp vụ
thị trờng mở trong hệ thống chính sách tiền tệ ở
Việt Nam hiện nay
lời nói đầu
Nền kinh tế thế giới đang bớc vào thế kỷ 21 thế kỷ của hội nhập, toàn cầu
hoá và sự phát triển to lớn của kinh tế toàn cầu. Bất cứ một nền kinh tế quốc gia
nào cũng đều không nằm ngoài xu thế kinh tế tất yếu đó. Đối với Việt Nam cũng
vậy xu thế hội nhâpạ, phát triển là con đờng duy nhất và có ý nghĩa quyết định
trong công cuộc xây dựng CNXH và đi lên CNCS nếu không muốn bị tụt hậu và
suy vong. Để bắt kịp xu thế của thời đại và chủ động hoà nhập để có những bớc
phát triển vững chắc về kinh tế đòi hỏi chúng ta phải có đờng lối, chiến lợc vững
chắc và có những chính sách kinh tế vĩ mô thật sự có hiệu quả.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX đã khẳng định đờng lối phát triển kinh
tế là : Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng nền kinh tế độc lập tự
chủ, đa nớc ta trở thành một nớc công nghiệp, u tiên phát triển lực lợng sản xuất,
đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hớng xã hội chủ nghĩa,
phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội
nhập kinh tế để phát triển nhanh, có hiệu quả bền vững . Nền kinh tế thế giới
với xu thế phát triển đi lên vợt bậc đã đem lại nhiều cơ hội cho đất nớc ta đi lên v-
ợt bậc đã đem lại nhiều cơ hội cho đất nớc ta đi lên đuổi kịp các nớc phát triển,
đồng thời nó cũng luôn diễn biến phức tạp, thăng trầm tạo ra nhiều thách thức to
lớn đối với đất nớc. Để xây dựng đợc một nền kinh tế phát triển mạnh và ổn định
đòi hỏi chúng ta phải có những chính sách kinh tế đúng đắn, có hiệu quả, phù hợp
với tình hình thực tiễn của đất nớc.
Nằm trong hệ thống chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách tiền tệ quốc gia
đóng một vai trò rất quan trọng mang tính chất quyết định đối với sự phát triển và
ổn định của nền kinh tế.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
1
Để có đợc một chính sách tiền tệ đúng đắn thực sự có tác dụng tích cực,

ở trong thời kỳ quá độ) thì việc xây dựng một nền kinh tế phát triển, phồn vinh,
hiện đại, ổn định, có mức tăng trởng cao, đời sống vật chất của nhân dân ở mức
cao là một đòi hỏi tất yếu mục tiêu quan trọng và là một vấn đề bức xúc hiện
nay ở nớc ta.
Sau 15 năm đổi mới, từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị tr-
ờng có sự quản lý của Nhà nớc theo định hớng XHCN, nền kinh tế nớc ta đã đạt đ-
ợc những thành tựu to lớn đáng kể. Những thành tựu này ngoài sự nổ lực to lớn của
toàn dân cả nớc thì việc hoạch định thực thi các chính sách kinh tế vĩ mô cũng có
vai trò rất quan trọng đối với những thành tựu vợt bậc này. trong hệ thống chính
sách kinh tế vĩ mô thì chính sách tiền tệ quốc gia là một trong những chính sách
trọng yếu góp phần quan trọng trong việc điều chỉnh nền kinh tế quốc dân tăng tr-
ởng liên tục ở mức cao và tơng đối ổn định. Vậy chính sách tiền tệ quốc gia đợc
hiểu nh thế nào?
Nói chung, chính sách tiền tệ quốc gia là một chính sách vĩ mô của Nhà nớc
giao cho Ngân hàng Nhà nớc thực hiện nhằm một mục tiêu chung là tăng trởng và
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
3
ổn định nền kinh tế. Theo điều 2 của luật Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam thì:
chính sách tiền tệ là một bộ phận của chính sách kinh tế tài chính của Nhà nớc
nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiềm chế lạm phát góp phần thúc đẩy phát triển
kinh tế xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống nhân dân.
Với chính sách này, Nhà nớc thống nhất quản lý mọi hoạt động của Ngân
hàng, động viên các nguồn lực trong nớc, đồng thời tranh thủ các nguồn lực bên
ngoài, tạo nguồn vốn để phát triển kinh tế. Trên cơ sở đó giữ vững định hớng
XHCN, giữ vững chủ quyền quốc gia, mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế, đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế xí nghiệp, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nớc.
Chính sách tiền tệ là một chính sách nằm trong hệ thống chính sách vĩ mô
nói chung, nó thống nhất và có quan hệ chặt chẽ với các chính sách vĩ mô khác về
mặt quản lý thực hiện, tác động và đều nhàm mục tiêu chung là tăng trởng ổn định

cao. Vì thế một mục tiêu quan trọng của chính sách tiền tệ đó là kiềm chế lạm
phát, giữ cho lạm phát ở mức thấp để có thể kích thích nền kinh tế tăng trởng,
tức là giữ cho mức giá chung ổn định và ở mức tăng nhẹ phù hợp với tình hình
kinh tế hiện đại.
c. ổn định lãi suất:
Lãi suất là biểu hiện quan trọng của sự cân đối giữa cung và cầu tiền tệ
trong nền kinh tế. Khi cung và cầu tiền tệ (cầu hay cung trái phiếu) biến động sẽ
làm cho mức lãi suất chung trong nền kinh tế thay đổi. Ta đã biết, lãi suất chính là
chi phí cơ hội của việc giữ tiền, là chi phí của ngời đi vay, do đó khi lãi suất thay
đổi sẽ làm cho chi phí cơ hội của việc giữ tiền thay đổi, chi phí của ngời vay biến
động. Nếu sự biến động này lớn sẽ ảnh hởng lớn đến các quyết định kinh tế (cho
vay, đi vay, đầu t, mua tài sản, tiêu dùng ) nền kinh tế không ổn định. Lãi suất
còn tác động đến nhiều biến số kinh tế vĩ mô khác (tổng cầu, GDP ), do đó việc
điều chỉnh cho lãi suất ở mức thích hợp, ổn định luôn là một mục tiêu quan trọng
của chính sách tiền tệ quốc gia.
d. ổn định tỷ giá:
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
5
Đối với nớc ta hiện nay, nền kinh tế đợc mở cửa dần (từ 1986, khi thay đổi
cơ chế kinh tế ), xu hớng giao lu hội nhập kinh tế là tất yếu thì tỷ giá là một biến
số rất quan trọng. Việc hội nhập kinh tế toàn cầu đã và đang đa lại cho chúng ta
nhiều cơ và thách thức lớn đối với việc tăng trởng và phát triển kinh tế. tỷ giá có
tác động đến kim ngạch xuất nhập khẩu, khả năng cạnh tranh của hàng hoá trong
nớc đối với hàng hoá nớc ngoài. Do vậy việc điều chỉnh chính sách tiền tệ với mục
tiêu ổn định trên thị trờng ngoại hối, ổn định tỷ giá ở mức độ sao cho có lợi nhất
cho sự phát triển kinh tế đất nớc để xu hớng hội nhập giao lu với quốc tế thực sự
có hiệu quả luôn là mục tiêu cần thiết và quan trọng trong việc điều hành chính
sách tiền tệ quốc gia nói riêng và các chính sách vĩ mô nói chung.
e. ổn định các thị trờng tài chính:
Thị trờng tài chính là một thị trờng hết sức quan trọng trong nền kinh tế

ở đây ta cần quan tâm và phân biệt hai mục tiêu là tăng trởng và phát triển.
Mục tiêu tăng trởng chỉ nói lên đợc phần lợng của phát triển, tăng trởng phải đồng
thời với ổn định nền kinh tế, nâng cao mức sống ngời dân, tỷ lệ thất nghiệp thấp,
lạm phát đợc kiềm chế ở mức vừa phải đó sẽ là mục tiêu phát triển. Chính sách
tiền tệ quốc gia cần cân nhắc và hớng vào mục tiêu cốt lõi nhất là phát triển kinh
tế.
Các mục tiêu trên của chính sách tiền tệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
chúng liên hệ bổ xung thúc đẩy nhau và cũng có khi tác động trái ngợc nhau.
Chẳng hạn lãi suất ổn định góp phần ổn định thị trờng tài chính, việc làm cao thì
tăng trởng mạnh, tuy nhiên tăng trởng mạnh có thể làm cho giá cả không ổn định
tức lạm phát có thể cao.
Chính vì vậy mà việc điều hành chính sách tiền tệ phải nhằm vào các mục
tiêu cụ thể nào và luôn phải xem xét trên tất cả các mục tiêu khác để nhằm vào
mục tiêu này mà không ảnh hởng lớn và hạn chế đến mục tiêu khác và luôn phải
hớng vào mục tiêu lâu dài cốt lõi. Luôn đặt chính sách tiền tệ đi liền và quan hệ
chặt chẽ với chính sách vĩ mô khác để nhằm vào mục tiêu chung là phát triển nền
kinh tế xã hội ở mức cao.
II. Các công cụ của chính sách tiền tệ quốc gia:
Mục đích của chính sách tiền tệ là nhằm điều tiết lợng tiền lu thông, sự điều
tiết này thể hiện qua hai hớng: mở rộng tiền tệ và thắt chặt tiền tệ. Việc điều tiết l-
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
7
ợng cung tiền nh thế nào để cho nền kinh tế phát triển một cách nhịp nhàng luôn
là vấn đề nan giải của các quốc gia, thiếu hay thừa tiền luôn có tác động tiêu cực
của nó. Tuy nhiên trong thực tế điều hành chính sách tiền tệ tuỳ vào từng thời kỳ
phát triển kinh tế, tuỳ voà hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế xã hội mà sử dụng
chính sách thắt chặt hay mở rộng tiền tệ. Đây là vấn đề mang tính nhạy cảm của
các nhà điều hành chính sách tiền tệ.
Để làm đợc điều này Ngân hàng trung ơng phải sử dụng hàng loạt các công
cụ nh: Dự trữ bắt buộc, lãi suất, tỷ giá hối đoái, tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trờng

* Cung và cầu tiền tệ cân bằng sẽ xác định mức lãi suất cân bằng và tổng l-
ợng tiền cân bằng.
Khi NHTW điều chỉnh các mức cung ứng tiền ở các mức độ khác nhau thì
lãi suất danh nghĩa của nền kinh tế sẽ thay đổi. Khi lãi suất thay đổi sẽ tác động
đếu tiêu dùng và đầu t làm cho chúng thay đổi tiêu dùng và đầu t là yếu tố của
tổng cầu do đó tổng cầu thay đỏi làm GNP thay đổi.
Ví dụ: Khi NHNN điều chỉnh tăng cung tiền đờng MS dịch phải làm lãi
suất cân bằng giảm giá trái phiếu tăng giá trị hiện tại của thu nhập tơng lại
có giá hơn tiêu dùng tăng lên ở mỗi mức thu nhập.
Mặt khác: Lãi suất giảm Chi phí cơ hội của việc giữ tiền giảm
Chi phí vay tiền giảm có
nhiều dự án lớn đợc đầu t
Khi tiêu dùng tăng, đầu t giảm tổng cầu tăng GDP giảm giá tăng
(lạm phát)
Ngợc lại: MS giảm đờng MS dịch phải lãi suất tăng tiêu dùng
giảm, đầu t tăng tổng cầu giảm giá giảm.
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
9
MS
i
i
0
MD
M
Điểm cân bằng thị trường tiền tệ
b. Mô hình IS-LM
* Đờng IS là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù hợp
với sự cân bằng của thị trờng hàng hoá.
* Đờng LM biểu thị những tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập phù
hợp với sự cân bằng của thị trờng tiền tệ.

E
0
i
i
0
ML
YY
i
i
0
i
1
E
0
LM
0
LM
1
E
1
IS
Y
0
Y
1
Y
Khi NHNN điều chỉnh giảm lợng tiền lu thông (nền kinh tế rơi vào tình
trạng quá nóng) làm MS giảm, đờng LM dịch trái làm điểm cân bằng mới của nền
kinh tế ở điểm E
1

11
i
i
0
i
1
E
0
LM
0
LM
1
E
1
IS
Y
0
Y
1
Y
b. Lãi suất chiết khấu tái chiết khấu:
Là lãi suất NHTW quy định khi họ cho các Ngân hàng thơng mại vay tiền
để đảm bảo có đầy đủ hoặc tăng thêm dự trữ của các Ngân hàng thơng mại. Khi lãi
suất chiết khấu thấp hơn lãi suất thị trờng và điều kiện cho vay thuận bởi sẽ là tín
hiệu khuyến khích các Ngân hàng thơng mại vay tiền để tăng dự trữ và mở rộng
cho vay dẫn đến mức cung tiền sẽ tăng lên.
Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất quy định của NHTW khi họ thực hiện cho
các Ngân hàng thơng mại vay tiền qua hình thức chiết khấu lại các thơng phiếu
của Ngân hàng thơng mại đã chiết khấu cho khách hàng của họ.
Vậy khi lãi suất chiết khấu và tái chiết khấu thay đổi sẽ tác động đến dự trữ

hiện điều tiết nền kinh tế thông qua mức cung tiền.
e. Lãi suất:
Là công cụ mang tính chất trực tiếp của NHTW khi họ điều tiết nền kinh tế.
Nó đợc thể hiện qua việc NHTW quy định trực tiếp đối với lãi suất của nền kinh tế
thông qua sàn lãi suất, trần lãi suất, lãi suất cơ bản và biên độ cho phép. Từ lãi
suất này mà các Ngân hàng thơng mại quy định lãi suất tín dụng cụ thể của mình.
Ta đã biết, lãi suất có tác động đến tiêu dùng và đầu t do đó nó tác động đến
cầu. Tổng cầu thay đổi sẽ làm cho thu nhập quốc dân thay đổi và việc làm, lạm
phát biến động. Khi NHTW quy định mức lãi suất chung (có thể là lãi suất cơ bản
+ biên độ dao động, sàn và trần lãi suất ) ở các mức độ khác nhau thông qua các
biến động trung gian sẽ làm thay đổi các biến số của nền kinh tế quốc dân tuỳ theo
mục tiêu của sự điều chỉnh chính sách.
Lãi suất là kết quả quả phả ánh cân bằng cung cầu trê thị trờng tiền tệ. Tức
là, khi trên thị trờng tiền tệ mà cung hay cầu tiền tệ thay đổi sẽ làm Cửa Ông thị tr-
ờng tiền tệ cân bằng ở các mức độ khác nhau, và lãi suất cân bằng phản ánh các
mức cân bằng đó.
Việc NHTW sử dụng công cụ lãi suất, tức là quy định lãi suất một cách
trực tiếp đôi khi không phản ánh đợc điểm cân bằng cung cầu trên thị trờng, điều
đó có tác dụng tiêu cực hình thành thị trờng ngầm, hạn chế việc cho vay của các
Ngân hàng thơng mại làm ứ đọng vốn, kìm hãm lu thông tiền tệ .
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Văn Kiệt
13


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status