Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất và sự vận dụng trong xây dựng kinh tế ở Việt Nam hiện nay - Pdf 12

Tiểu luận Triết học
MỤC LỤC
MỤC LỤC
TT Trang
Mục lục 1
A Mở đầu 2
B Nội dung 4
I
Sự nhận thức về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và qui luật quan
hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất
4
1 Đôi nét về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 4
1.1 Lực lượng sản xuất 4
1.2 Quan hệ sản xuất 6
1.3 Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản. 7
2
Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của lực lượng sản xuất
8
2.1 Tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất 8
2.2 Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất 9
2.3 Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối với lực lượng sản xuất 9
2.4 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất 11
II Việc vận dụng quy luật trên vào phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. 13
1
Điều kiện khách quan tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta.
Tác động của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đến toàn bộ nền kinh tế
13
2
Đường lối phát triển quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất theo định

đó đã hình thành nên quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với trình độ
phát triển của Lực lượng sản xuất. Quy luật này đã vạch rõ tính chất phụ thuộc
khách quan cuả Quan hệ sản xuất vào trình độ phát triển của lực lượng sản
xuât ,cũng như sự tác động trở lại của Quan hệ sản xuất đối với Lực lượng sản
xuất trong qứa trình sản xuất và phát triển xã hội .Thực tiễn sản xuất của xã hội
loài người hơn 1000 năm qua đã chứng minh được rằng quan điểm đó của nhà
sáng lập chủ nghĩa Mác là hoàn toàn đúng đắn. Từ những lý luận trên đưa Mác -
Ănghen vươn lên đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Không chỉ trên phương diện triết
học mà cả kinh tế chính trị học và chủ nghĩa cộng sản khoa học. Dưới những hình
thức và mức độ khác nhau, dù con người có ý thức và mức độ khác nhau, dù con
người có ý thức được hay không thì nhận thức của hai ông về qui luật vẫn xuyên
suốt lịch sử phát triển.
Việc nghiên cứu và áp dụng quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với trình
độ phát triển của Lực lượng sản xuất, là một trong những nội dung quan trọng
Đặng Quang Thành 2
Tiểu luận Triết học
của công cuộc đổi mới CNXH mà chúng ta đang tiến hành hôm nay. Trải qua
các hình thái kinh tế – xã hội từ trước đến nay điều đó đã được khẳng định rõ
ràng .Chủ nghĩa duy vật lịch sử đã khẳng định rằng : Lực lượng sản xuất có vai
trò quyết định đối với Quan hệ sản xuất và ngược lại , Quan hệ sản xuất cũng có
sự tác động trở lại có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của lưc lượng sản
xuất và : “Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp Quan hệ
sản xuất lạc hậu mà cả khi Quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ, có
những yếu tố đi quá xa so với thực trạng trình độ phát triển của Lực lượng sản
xuất”
Một xã hội phát triển được đánh giá từ trình độ của Lực lượng sản xuất và
sự kết hợp hài hoà giữa Quan hệ sản xuất và Lực lượng sản xuất, thời đại ngày
nay trình độ khoa học kỹ thuật đã phát triển mạnh mẽ, song Quan hệ sản xuất phù
hợp với tính chất của Lực lượng sản xuất vẫn là cơ sở cho sự phát triển của nó.
Nghiên cứu về sự thống nhất biện chứng Quan hệ sản xuất với Lực lượng

động và đối tượng lao động như công cụ lao động, nhà xưởng, phương tiện
lao động, cơ sở vật chất kho tàng... thì vai trò quan trọng hơn cả thuộc về
công cụ lao động. Công cụ lao động là yếu tố quan trọng nhất linh hoạt nhất
của tư liệu sản xuất. Mọi thời đại muốn đánh giá trình độ sản xuất thì phải
dựa vào tư liệu lao động. Tuy nhiên yếu tố quan trọng nhất trong Lực lượng
sản xuất chính là con người cho dù những tư liệu lao động được tạo ra từ
trước có sức mạnh đến điều và đối tượng lao động có phong phú như thế nào
thì con người vẫn là bậc nhất.
Lịch sử loài người được đánh dấu bởi các mốc quan trọng trong sự
phát triển của Lực lượng sản xuất trước hết là công cụ lao động. Sau bước
ngoặt sinh học, sự xuất hiện công cụ lao động đánh dấu một bước ngoặt khác
trong sự chuyển từ vượn thành người. Từ kiếm sống bằng săn bắt hái lượm
sang hoạt động lao động thích nghi với tự nhiên và dần dần cải tạo tự nhiên.
Từ sản xuất nông nghiệp công nghệ lạc hậu chuyển lên cơ khí hoá sản xuất.
Đặng Quang Thành 4
Tiểu luận Triết học
Sự phát triển Lực lượng sản xuất trong giai đoạn này không chỉ giới hạn ở
việc tăng một cách đáng kể số lượng thuần tuý với các công cụ đã có mà chủ
yếu là ở việc tạo ra những công cụ hoàn toàn mới sử dụng cơ bắp con người.
Do đó con người đã chuyển một phần công việc năng nhọc cho máy móc có
điều kiện để phát huy các năng lực khác của mình.
Ở nước ta từ trước tới nay nền kinh tế lấy nông nghiệp làm chủ yếu,
nên trình độ khoa học kỹ thuật kém phát triển. Hiện thời chúng ta đang ở
trong tình trạng kế thừa những Lực lượng sản xuất vừa nhỏ bé, vừa lạc hậu
so với trình độ chung của thế giới, hơn nữa trong một thời gian khá dài,
những lực lượng ấy bị kìm hãm, phát huy tác dụng kém. Bởi vậy Đại hội lần
thứ VI của Đảng đặt ra nhiệm vụ là phải "Giải phóng mọi năng lực sản xuất
hiện có. Khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước, sử dụng có hiệu
quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ Lực lượng sản xuất. Mặt khác
chúng ta đang ở trong giai đoạn mới trong sự phát triển của cách mạng khoa

- Chế độ phân phối sản xuất, sản phẩm tức là quan hệ chặt chẽ với
nhau và cùng một mục tiêu chung là sử dụng hợp lý và có hiệu quả tư liệu
sản xuất để làm cho chúng không ngừng được tăng trưởng, thúc đẩy tái sản
xuất mở rộng, nâng cao phúc lợi người lao động. Đóng góp ngày càng nhiều
cho nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Trong cải tạo và củng cố Quan hệ sản xuất vấn đề quan trọng mà đại
hội VI nhấn mạnh là phải tiến hành cả ba mặt đồng bộ: chế độ sở hữu, chế độ
quản lý và chế độ phân phối không nên coi trọng một mặt nào cả về mặt lý
luận, không nghi ngờ gì rằng: chế độ sở hữu là nền tảng Quan hệ sản xuất .
Nó là đặc trưng để phân biệt chẳng những các Quan hệ sản xuất khác nhau
mà còn các thời đại kinh tế khác nhau trong lịch sử như mức đã nói.
- Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào
đều mang một mục đích kinh tế là nhằm bảo đảm cho Lực lượng sản xuất có
điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người
cũng được cải thiện. Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến
giữa các hình thái kinh tế - xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự
nhiên của thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế - xã hội Tư bản chủ nghĩa sang
hình thái kinh tế - xã hội Cộng sản chủ nghĩa.
Đặng Quang Thành 6
Tiểu luận Triết học
- Và xét riêng trong phạm vi một Quan hệ sản xuất nhất định thì tính
chất của sở hữu cũng quyết định tính chất của quản lý và phân phối. Mặt
khác trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội nhất định Quan hệ sản xuất thống trị
bao giờ cũng giữ vai trò chi phối các Quan hệ sản xuất khác ít nhiều cải biến
chúng để chẳng những chúng không đối lập mà còn phục vụ đắc lực cho sự
tồn tại và phát triển của chế độ kinh tế - xã hội mới.
Nếu suốt trong quá khứ, đã không có một cuộc chuyển biến nào từ
hình thái kinh tế - xã hội sang hình thái kinh tế - xã hội khác, hoàn toàn là
một quá trình tiến hoá êm ả, thì thời kỳ quá độ từ hình thái kinh tế - xã hội tư
bản chủ nghĩa hoặc trước tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế cộng sản

2. Quy luật Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển
của Lực lượng sản xuất.
Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản
xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau mà tác động biện chứng lẫn nhau, hình
thành quy luật xã hội phổ biến của toàn bộ lịch sử loài người: quy luật về sự
phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất
vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của Quan hệ sản xuất vào sự phát triển
của Lực lượng sản xuất. Đến lượt mình Quan hệ sản xuất tác động trở lại đối
với Lực lượng sản xuất.
2.1.Tính chất và trình độ của Lực lượng sản xuất.
Tính chất của Lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu sản xuất và
của lao động. Nó thể hiện tính chất của tư liệu sản xuất là sử dụng công cụ thủ
công và tính chất của lao động là lao động riêng lẻ. Những công cụ sản xuất
như búa, rìu, cày, bừa… do một người sử dụng để sản xuất ra vật dùng không
cần tới lao động tập thể-Lực lượng sản xuất có tính chất cá nhân. khi máy móc
ra đời đòi hỏi phải có nhiều người mới sử dụng được, để làm ra một sản phẩm
cần có sự hợp tác của nhiều người, mỗi người làm một bộ phận công việc mới
thành được sản phẩm ấy thì Lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội hoá.
Trình độ của Lực lượng sản xuất là trình độ phát triển của công cụ lao
động, của kỹ thuật, trình độ kinh nghiệm, kỹ năng lao động của người lao động,
quy mô sản xuất, trình độ phân công lao động-xã hội. Trình độ Lực lượng sản
xuất càng cao thì sự phân công lao động càng tỉ mỉ. Trình độ phát triển của
phân công lao động thể hiện rõ ràng trình độ của các Lực lượng sản xuất.
Đặng Quang Thành 8
Tiểu luận Triết học
2.2. Lực lượng sản xuất quyết định Quan hệ sản xuất.
Xu hướng của sản xuất vật chất là không ngừng phát triển, sự biến đổi
bao giờ cũng bắt đầu bằng sự biến đổi của Lực lượng sản xuất.
Trong quá trình sản xuất, để lao động bớt nặng nhọc và đạt hiệu quả cao
hơn, con người luôn luôn tìm cách cải tiến công cụ lao động và chế tạo ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status