Giải pháp thực thi chính sách tiền tệ ở Việt Nam hiện nay - Pdf 28

Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Lời mở đầu
Chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, đa đất nớc tiến lên theo con đờng
XHCN, vì mục tiêu dân giàu nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Để thực hiện
mục tiêu đó đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của tất cả các cấp, các ngành, của mọi thành
viên trong xã hội. Bên cạnh đó Nhà nớc cũng cần phải có một hệ thống chính sách
kinh tế đúng đắn, phù hợp và thống nhất.
Chính sách tiền tệ (CSTT) là một chính sách kinh tế trong hệ thống chính sách
kinh tế vĩ mô của Nhà nớc. Nó phối hợp với các chính sách quan trọng khác: chính
sách tài khoá, chính sách lơng, chính sách kinh tế đối ngoại, cũng góp phần thúc
đẩy tăng trởng, ổn định kinh tế và phát triển kinh tế. Đáp ứng mục tiêu nhiệm vụ đề
ra trong từng thời kỳ.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang đi đến kết thúc chiến lợc ổn
định và phát triển kinh tế (1991 - 2000) tạo tiền đề vật chất cơ bản cho ổn định và
phát triển lâu dài, tiếp tục thực hiện chiến lợc 2001 - 2005 với mục tiêu đề ra là:
Huy động nội lực, ngăn chặn đà giảm sút tốc độ tăng trởng kinh tế, phát huy các
nhân tố ổn định để phát triển kinh tế cao hơn.
Đứng trớc tình hình đó. Là một sinh viên thuộc ngành Ngân hàng thì việc
nghiên cứu, tìm hiểu mục tiêu của chính sách tiền tệ ở nớc ta trong giai đoạn hiện
nay là hết sức cần thiết.
Do hạn chế về khả năng, kinh nghiệm và điều kiện thu nhập thông tin nên
bài viết này còn có nhiều thiếu sót. Em rất mong đợc sự góp ý, bổ sung của
thầy, cô giáo và bạn bè để những bài viết sau đợc tốt hơn.
Sinh viên
Nguyễn Trờng Giang

1
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Phần I- Lý luận chung về chính sách tiền tệ

lạm phát không kiểm soát đợc và siêu lạm phát.
Theo quan điểm của trờng phái Keynes và trờng phái tiền tệ cùng với đại đa số
các nhà kinh tế thì lạm phát cao chỉ xẩy ra với một tỷ lệ tăng trởng tiền tệ cao. Họ đều
đồng ý với quan điểm của nhà kinh tế lỗi lạc Milton Fried man là "lạm phát bao giờ và
ở đâu cũng là một hiện tợng tiền tệ".
Khi có lạm phát cao sẽ đem lại những hậu quả không nhỏ đến sự phát triển của
nền kinh tế. Nó sẽ làm tăng chi phí giao dịch: "Chi phí dày da" do phải nhiều lần
đến gửi, rút tiền tại ngân hàng; chi phí điều chỉnh giá cả: "chi phí thực đơn" vì thay
2
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

đổi bảng giá; sự phân bổ nguồn lực không hiệu quả do sự thay đổi mức giá tơng đối;
làm mất tính cân đối trong dự toán ngân sách; sai lệch so với dự tính của các luật
thuế; ảnh hởng đến các quyết định tài chính, đối với doanh nghiệp nó sẽ làm hạn
chế đầu t, đối với cá nhân sẽ làm ảnh hởng đến các kế hoạch trong cuộc sống; gây
ra sự phân phối thu nhập bất hợp lý; làm giảm thu nhập thực tế của những ngời có
mức thu nhập cố định theo hợp đồng. Mọi ngời sẽ quan tâm đến lợi ích trớc mắt; họ
đổ xô vào mua sắm tài sản, gây ra sự tăng cầu giả tạo làm cho nền kinh tế tiến sâu
vào vòng xoáy lạm phát.
Từ sự phân tích trên, đặt ra mục tiêu ngăn chặn và kiểm soát lạm phát của
CSTT. Bằng việc sử dụng các công cụ của CSTT. NHNN có thể thực hiện chính
sách tiền tệ thắt chặt, làm giảm tổng phơng tiện thanh toán trong nền kinh tế, từ đó
kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền.
2.2. Giải quyết việc làm, tăng trởng kinh tế.
Thất nghiệp là tình trạng của những ngời có khả năng làm việc, mong muốn và
nổ lực tìm kiếm việc làm nhng cha có việc làm.
Thất nghiệp là vấn đề kinh tế vĩ mô ảnhh hởng tới con ngời trực tiếp nhất và
nghiêm trọng nhất. Đối với cá nhân, thất nghiệp đồng nghĩa với giảm mức sống và
sức ép tâm lý. Đối với toàn bộ nền kinh tế , khi có tỷ lệ thất nghiệp cao, thu nhập
của toàn bộ dân c trong toàn xã hội, dẫn đến nhu cầu tiêu dùng thấp, hàng hoá

phát đạt trung bình là 5% và tốc độ tăng trởng GDP trung bình là 9,7%. ở
Indonexia, giai đoạn 1965 - 1980 tốc độ tăng trởng GDP đạt trung bình là 7%. Với
mức lạm phát là 35,5%. Chỉ khi nhân mạnh đến ổn định kinh tế giai đoạn 1980 -
1989 thì tỷ lệ lạm phát trung bình mới giảm xuống còn 8,3% và tốc độ tăng trởng
GDP còn trung bình 5,3%.
Qui luật này cũng không đúng cho tất cả các nớc có những nớc với mức độ lạm
phát vừa phải mà vẫn giữ đợc tốc độ tăng trởng GDP cao nh Singapore, Malaixia,
Hồng Kông, Thái Lan. ở Thái Lan giai đoạn 1965 - 1980 mức độ lạm phát trung
bình là 6,2%, giai đoạn 1980 - 1989 là 3,2% với tốc độ tăng trởng GDP trung bình
chung hơn 7%.
III- Công cụ của chính sách tiền tệ.
Tuỳ vào điều kiện cụ thể của nền kinh tế mà Ngân hàng Nhà nớc có thể lựa
chọn các công cụ sau để thực thi chính sách tiền tệ nhằm đạt đợc mục tiêu đề ra
trong từng thời kỳ.
1. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Là tỷ lệ nhất định giữa số tiền mà Ngân hàng Nhà nớc buộc các Ngân hàng th-
ơng mại phải giữ lại so với số tiền gửi của khách hàng taị Ngân hàng Nhà nớc mà
không đợc sử dụng cho bất kỳ mục đích gì. Ngân hàng Nhà nớc có thể tăng (hoặc
giảm) tỷ lệ dự trữ bắt buộc nhằm giảm (hoặc tăng) khả năng tạo tiền của hệ thống
Ngân hàng thơng mại qua đó sẽ thực thi chính sách thị trờng thắt chặt (hoặc nới
lỏng).
2. Lãi suất chiết khấu, tài chiết khấu.
Lãi suất chiết khấu là lãi suất mà Ngân hàng Nhà nớc áp dụng khi các Ngân
hàng thơng mại đem các thơng phiếu cha đến hạn thanh toán đến xin "vay vốn" ) lãi
suất tài chiết khấu là lãi suất áp dụng cho các thơng phiếu đã chiết khấu nhng cha
đến hạn thanh toán).
Bằng việc tăng (hoặc giảm) lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu Ngân hàng Nhà
nớc sẽ hạn chế (hoặc khuyến khích) hệ thống Ngân hàng thơng mại đem các thơng
4
Sự gia tăng

Phần II- Mục tiêu chính sách tiền tệ ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay.
I- Đánh giá chung.
Đối mặt với khó khăn, bất ổn định kinh tế trong những năm 1988 - 1991. Đảng
và Nhà nớc ta đã đề ra hàng loạt các chính sách đổi mới, chuyển nền kinh tế nớc ta
thành nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của Nhà nớc. Sau hơn 10 năm thực hiện
chúng ta đã thu đợc kết quả khá tốt đẹp: đạt tốc độ tăng trởng kinh tế khá cao trong
nhiều năm, cùng với tốc độ lạm phát đợc kìm hãm và đi vào ổn định, thu hút lòng
tin đối với đầu t nớc ngoài, tạo đợc lòng tin của quần chúng nhân dân vào đồng nội
tệ, khuyến khích tiết kiệm, tích luỹ, đầu t, từng bớc nâng cao đời sống ngời dân, đặc
biệt là trong các năm 1997 - 1998 đã hạn chế đến mức thấp nhất có thể những ảnh
hởng xấu của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực. Chuẩn bị cơ sở hạ tầng
vật chất cho phát triển lâu dài.
Trong lĩnh vực tài chính - tiền tệ, sự ra đời của hai pháp lệnh ngân hàng bao
gồm: pháp lệnh Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính do Hội đồng Nhà nớc Việt Nam ban hành ngày 23
tháng 5 năm 1990 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 10 năm 1990. Đã tạo cơ sở
pháp lý cho hệ thống ngân hàng một cấp chuyển thành hệ thống ngân hàng hai cấp.
Phân định chức năng của Ngân hàng Nhà nớc là ngân hàng phát hành, ngân hàng
của các tổ chức tín dụng, ngân hàng của Chính phủ, quản lý dự trữ ngoại tệ và vùng
của Nhà nớc, còn Ngân hàng thơng mại là tổ chức trung gian hoạt động kinh doanh
tiền tệ, thực hiện các dịch vụ ngân hàng theo cơ chế thị trờng trong khuôn khổ pháp
luật.
Trên cơ sở đó đã tăng tính độc lập của Ngân hàng Nhà nớc và nhấn mạnh chức
năng quản lý vĩ mô về tiền tệ của Ngân hàng Nhà nớc. Tạo điều kiện thuận lợi cho
việc đổi mới cơ chế hoạt động, quản lý của hệ thống Ngân hàng thơng mại, thúc đẩy
sự hoàn thiện và phát triển của hệ thống Ngân hàng thơng mại, hình thành môi tr-
ờng thuận lợi cho việc thực thi chính sách tiền tệ và đảm bảo mục tiêu đề ra của
chính sách tiền tệ, chuẩn bị nền móng "tiền tệ" vững chắc cho phát triển kinh tế, góp
phần tích cực vào kết quả chung của công cuộc đổi mới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status