TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÁC – LÊNIN, TT. HỒ CHÍ MINH
˜ & ™ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐỒNG
BÀO DÂN TỘC KHMER TỈNH SÓC TRĂNG
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Chuyên ngành: Sư phạm Giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
ThS. GVC Phan Văn Thạng Trần Thị Kim Nhẫn
MSSV: 6044622
Lớp: SP.GDCD K30 Cần Thơ, 5/2008
cả nước. Do đó, việc xây dựng đời sống văn hóa cho đồng bào dân tộc Khmer Sóc
Trăng hiện nay càng thực sự cần thiết và cấp bách, góp phần xây dựng nền văn hóa
Việt Nam thống nhất, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Chính vì lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Xây dựng đời sống văn
hóa đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay - Thực trạng và giải pháp”.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu thực trạng đời sống văn hóa đời sống văn hóa đồng bào
dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng.
Xây dựng đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng từ năm
2002 đến nay
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích đề tài hướng đến việc nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cho
đồng bào dân tộc Khmer ở Sóc Trăng, góp phần phát triển kinh tế và xây dựng một
nền văn hóa thống nhất trong đa dạng.
Từ mục đích trên nhiệm vụ của đề tài là: phân tích và đánh giá thực trạng
xây dựng đời sống văn hóa đồng bào dân tộc Khmer Sóc Trăng. Từ đó, đề xuất
những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đời sống văn hóa cho đồng bào
dân tộc Khmer ở Sóc Trăng.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh; những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước.
Để thực hiện nghiên cứu đề tài, tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp, thống
kê, đối chiếu, so sánh từ các nguồn tài liệu thu thập được; ngoài ra còn sử dụng
phương pháp lịch sử, logic…
5. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở bài, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương và 11 tiết.
năng và thói quen khác do con người thu nhận được với tư cách thành viên của xã
hội (B.T. Etuốt). Có người cho rằng: văn hóa là tổng thể những hành vi học hỏi
được các giá trị, niềm tin, ngôn ngữ, luật pháp và kỹ thuật của các thành viên sống
trong một xã hội nhất định nào đó (P.T Côn và Tlobiu). Có người lại định nghĩa văn
hóa là một hệ thống các khuôn mẫu và chuẩn mực được soạn thảo (tức là được ghi
lại hình thức này hay hình thức khác trong các tập thể) về hành vi, hoạt động, giao
tiếp và tương tác của con người, có chức năng điều tiết và khống chế trong tập thể
lớn (T.M.Đritdơ) [ 19, tr 94]
Qua các định nghĩa về văn hóa, ta thấy tuy có nhiều điểm riêng theo từng góc
độ của nhà nghiên cứu, nhưng khái quát lại giữa chúng có những điểm chung như:
+ Văn hóa là một trong những mặt cơ bản của đời sống xã hội
+ Là một hệ thống (các giá trị, các cơ cấu, kỹ thuật, thể chế các tư tưởng…)
được hình thành trong quá trình hoạt động sáng tạo của con người, được bảo tồn và
truyền lại cho các thế hệ sau.
+ Hệ thống văn hóa có chức năng như một khuôn mẫu chuẩn mực quy định
các hành vi xã hội. Mỗi cá nhân muốn trở thành con người xã hội, muốn hòa nhập
vào cộng đồng xã hội thì phải tiếp thu, tuân thủ theo các chuẩn mực đó. Về phương
diện này có thể coi văn hóa của xã hội là mục tiêu của quá trình xã hội hóa cá nhân
và nhóm.
Khái niệm văn hóa là khái niệm rất phức tạp. Không ít khái niệm người ta
đồng nhất văn hóa với khái niệm học vấn. Sự đồng nhất này có khi được biểu hiện
trên các văn bản có tính pháp quy. Ví dụ: trong mẫu các bản khai lý lịch có mục
trình độ văn hóa mà thực chất là trình độ học vấn, tuy nhiên cũng có người đạt trình
độ học vấn cao nhưng trong lối sống, cách ứng xử, trong quan hệ xã hội, vẫn cứ bị
coi là thiếu văn hóa.
Pufendorf - nhà khoa học Đức cho rằng: Văn hóa là toàn bộ những gì được
tạo ra do hoạt động xã hội, nghĩa là văn hóa đối lập với trạng thái tự nhiên. Tiếp tục
ý tưởng đó, nhà triết học Đức Herder cho rằng: Con người xuất hiện với tư cách
một thực thể tự nhiên, đến lần thứ hai con người hình thành và phát triển với tư cách
đà bản sắc dân tộc
Trong nhiều tác phẩm Mác - Ănghen, đã có những dự báo khoa học và nhận
định về những tính chất của nền văn hóa tất cả vì con người và khả năng xây dựng
con người hoàn thiện. Nền văn hóa mới sẽ trả lại cho con người những giá trị tinh
thần vốn có và tất cả những yếu tố tích cực ấy sẽ được phát huy trong xã hội mới.
Sau cách mạng tháng Mười Nga thành công, Lênin đã đưa ra luận điểm có tính chất
cương lĩnh về xây dựng nền văn hóa mới, trong đó có tiếp thu di sản văn hóa quá
khứ và những nguyên tắc xây dựng nền văn hóa vô sản, đã phát họa ra cưỡng lĩnh
của nền văn hóa mới và bắt tay vào hiện thực trong thực tế của nước Xô-Viết.
Mác –Ănghen chỉ ra rằng tư tưởng thống trị một thời đại, tư tưởng của giai
cấp thống trị. Trên cơ sở luận điểm đó, Lênin phát hiện mặt thứ hai của vấn đề dựa
trên cuộc đấu tranh của quần chúng lao động chống lại giai cấp thống trị bóc lột.
Cuộc đấu tranh đó tất yếu sản sinh ra một dòng “văn hóa thứ hai” biểu hiện trực tiếp
tư tưởng, tình cảm và lợi ích của quần chúng lao động. Đây là cơ sở để tạo nên mọi
giá trị tinh thần của truyền thống văn hóa dân tộc. Lênin nhận xét “Mỗi nền văn hóa
dân tộc đều có những thành phần thậm chí không phát triển của nền văn hóa dân
chủ và xã hội chủ nghĩa, vì trong mọi dân tộc đều có quần chúng lao động bị bóc lột
và điều kiện sinh sống của họ nhất định phải sản sinh ra một hệ tư tưởng dân chủ và
xã hội chủ nghĩa”.
Lênin nêu lên nhiệm vụ của văn hóa mới phải xây dựng những con người
của thời đại mới, có giác ngộ cách mạng và có trình độ văn hóa cao. Ngành văn hóa
cách mạng phải đi vào những mũi nhọn của cuộc đấu tranh, góp phần giải quyết
những vấn đề khó khăn đặt ra trong cuộc sống, phải chống lại âm mưu phá hoại của
kẻ thù và không thể có sự thỏa hiệp trên trận địa đấu tranh tư tưởng. Lênin cho rằng,
văn nghệ sĩ không được lạc hậu, phải đi trước cuộc sống một bước, phải bắt rễ sâu
trong quần chúng và phản ánh những mặt tiêu biểu của cách mạng. Lênin nói “Nghệ
thuật của nhân dân nó phải bắt rễ hết sức sâu xa trong quảng đại quần chúng lao
động. Nó phải được quần chúng hiểu và được ưa thích, nó phải liên hợp được tình
cảm và ý chí của những quần chúng ấy, nâng lên một trình độ cao hơn”
những nhiệm vụ trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội là xây dựng nền văn hóa có nội dung xã hội chủ nghĩa, có hình thức
dân tộc, có tính Đảng và nhân dân.
Đại hội VI của Đảng (1986) nhấn mạnh: Không có hình thái tư tưởng nào có
thể thay thế được văn học, nghệ thuật trong việc xây dựng tính cách lành mạnh, tác
động sâu sắc vào việc đổi mới nếp suy nghĩ, lẽ sống của con người.
Đại hội VII (1991) thông qua cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trong đó chỉ rõ: xã hội chúng ta xây dựng có một đặc
trưng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nghị quyết Trung ương 4
khóa VII lần đầu tiên khẳng định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, một
động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa
xã hội.
Trong Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa
VIII đã khẳng định văn hóa Việt Nam là thành quả nghìn năm lao động, sáng tạo,
đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nền văn minh thế giới để không ngừng
hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh
Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nghị quyết còn khẳng định:
Phải xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân
tộc. Đến Đại hội IX, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh: “Tăng trưởng kinh tế đi đôi
với phát triển văn hóa và giáo dục, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai
trò chủ đạo trong đời sống của nhân dân…”
Xây dựng và phát triển nền văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh
đạo, trong đó đội ngũ trí thức đóng vai trò quan trọng. Nhân dân là lực lượng làm
nên văn hóa trong cả ba khâu chủ yếu của tiến trình văn hóa: sáng tạo, truyền bá và
tiếp nhận. Đảng ta là lực lượng tiên phong về tư tưởng có sứ mệnh lãnh đạo, chỉ đạo
định hướng để nhân dân ta xây dựng văn hóa là vai trò rất quan trọng.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nền văn hóa Việt Nam đậm đà bản sắc
Mỗi cán bộ đảng viên cần nêu cao vai trò cán bộ gương mẫu của người cộng sản,
động viên nhân dân thực hiện thắng lợi theo Nghị quyết của Đảng và Bác Hồ:
“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”.
Toàn Đảng, toàn dân phấn đấu để tổ quốc ta mãi là quốc gia văn hiến, dân tộc ta
không ngừng phát triển, xứng đáng với tầm vóc dân tộc trong lịch sử và trong thế
giới hiện đại ngày nay.
1.2 Vai trò của văn hóa
Cũng như mọi sinh thể khác, con người là một yếu tố trong vũ trụ, chịu sự
quy định chặt chẽ những điều kiện môi trường sống xung quanh. Nhưng khác với
mọi sinh thể khác, con người lại sống trong một trật tự xã hội với những thiết chế
nhất định, với những khả năng hoạt động sáng tạo nhất định, hay nói cách khác là
có văn hóa. Nếu giới tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hóa là
cái nôi thứ hai, mà ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con người được hình thành,
được nuôi dưỡng và phát triển. Con người không thể tồn tại nếu tách rời môi trường
tự nhiên, cũng như con người không thể thực sự là con người nếu tách khỏi môi
trường xã hội hay môi trường văn hóa.
Vì văn hóa là sự phát huy các năng lực bản chất con người, là sự thể hiện đầy
đủ nhất chất người nên dù đó là các hoạt động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã
hội hay trong cách cư xử…Ngày nay, trong ngôn ngữ xã hội, người ta sử dụng khá
phổ biến các khái niệm có liên quan đến văn hóa như: văn hóa chính trị, văn hóa
ứng xử, văn hóa giao tiếp, văn hóa giáo dục, văn hóa lao động, văn hóa gia đình,
văn hóa thẩm mỹ, văn hóa nghệ thuật…Lẽ dĩ nhiên điều đó không loại trừ sự tồn tại
những lĩnh vực hoạt động riêng của văn hóa, nghĩa là những hoạt động không thuộc
lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội… Hoạt động văn hóa là hoạt động sản xuất ra các
giá trị tinh thần hoặc vật chất chứa đựng những giá trị tinh thần, nhằm giáo dục con
người khát vọng hướng tới cái chân, thiện, mỹ và khả năng sáng tạo ra cái chân,
thiện, mỹ trong đời sống. Do đó, có thể nói văn hóa là động lực cho sự phát triển
của mỗi dân tộc cũng như của toàn nhân loại. Đồng thời, văn hóa còn là nền tảng
tinh thần của mọi xã hội.
đang đi tới một lý thuyết về sự phát triển. Nhận thức mới về sự phát triển không
dừng lại ở các chỉ tiêu kinh tế. Phấn đấu cho các chỉ tiêu là cần thiết để đảm bảo sự
tồn tại của con người, đáp ứng nhu cầu về vật chất (ăn, ở, mặc, đi lại…), những sự
phấn đấu có thể là nguyên nhân tạo nên sự bất bình đẳng trong thu nhập và hưởng
thụ, có thể dẫn đến lối sống không lành mạnh, ích kỷ, thực dụng, coi thường nhân
cách và trí tuệ…Vì vậy, sau các chỉ tiêu kinh tế, người ta phải quan tâm đến hàng
loạt các chỉ tiêu khác như: tuổi thọ trung bình, trình độ học vấn chung của xã hội, tỷ
lệ người có công ăn việc làm, môi trường xã hội lành mạnh, môi trường tự nhiên
trong sạch…
Định hướng của thế giới hiện đại là khởi động sức sống của văn hóa để phát
triển và hội nhập, để cân bằng với tiến trình văn minh. Vì vậy, văn hóa ngày nay
càng chứng tỏ vai trò tiên quyết của mình, nó không còn được xem đơn thuần như
một thứ hoa lá trang trí cho cỗ máy đại công nghiệp, ngược lại nó được coi là cái
“chốt an toàn”, là “chìa khóa” và “động lực” của sự phát triển như lời kêu gọi của
UNESCO khi phát động “thập kỷ phát triển văn hóa thế giới” trước ngưỡng cửa thế
kỷ XXI [19, tr 101]. Như vậy, văn hóa vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát
triển, đang trở thành vấn đề lý luận và thực tiễn có tính thời đại. Đó là hành trang
chung của mọi quốc gia để bước vào kỷ nguyên mới. Chương 2
THỰC TRẠNG XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA ĐỒNG BÀO DÂN
TỘC KHMER TỈNH SÓC TRĂNG
bày trí theo lối hiện đại. Nhà nào cũng có bàn thờ Phật ở gian chính, đôi khi cũng
được đặt trên đầu tủ một cách đơn giản nhưng rất trang trọng. Ngày trước, người
Khmer không có phong tục thờ cúng tổ tiên trong nhà, nhưng do dung nạp tín
ngưỡng của người Kinh, Hoa nên một số gia đình người Khmer ngày nay cũng thờ
cúng tổ tiên, họ thờ riêng hoặc thờ chung trên bàn thờ Phật, thường thì ảnh người
quá cố đặt dưới ảnh Phật.
Trong những năm gần đây, nhà ở của người Khmer đã thay đổi khá lớn, nhà
lá vẫn còn nhưng thưa dần, thay vào đó là những căn nhà xây bằng gạch, ngói.
Nhưng dù nhà lá hay gạch, thì bộ phận nóc nhà không còn nhọn như lúc truớc, cửa
nẻo làm chắc chắn hơn, không bỏ ngõ như xưa, có nhiều gia đình xây nhà theo kiểu
hiện đại.
Y phục, trang sức của người Khmer
Ngày nay, y phục của người Khmer rất giống và gần gũi với người Kinh,
nhất là đối với nam, nữ thanh niên. Nhưng đến những ngày lễ hội, không những
người cao tuổi mà cả thanh niên nam, nữ đều mặc những bộ y phục truyền thống
của mình. Khi lao động ngoài đồng ruộng, họ mặc quần bà ba đen, đầu bịt khăn.
Trang phục truyền thống hiện nay chỉ xuất hiện trong các lễ cưới, lễ hội, sân
khấu…đó là những chiếc săm pốt thật xinh xắn, sặc sỡ nhiều hoa văn và chiếc áo bó
sát người màu sắc lộng lẫy. Săm pốt nguyên là tấm vải rộng được quấn từ hông trở
xuống. Phải nói rằng, phụ nữ Khmer rất khéo tay trong việc thiết kế trang phục, họ
Buồng con gái Buồng con trai
Tủ Bàn ghế Tủ
Chõng tre Chõng tre
Bàn tiếp khách
dệt những chiếc xà rông thật tinh xảo với những họa tiết duyên dáng. Mỗi chiếc xà
rông đều có đường viền và hình ống không có một đường vải nối nào. Y phục cổ
truyền của người Khmer còn thấy ở những phụ nữ lớn tuổi. Đó là cái áo dài màu
đen may bít không xẻ tà và không cài nút ở thân, ở cổ áo khoét một lỗ tròn đủ để
choàng qua đầu khi mặc (áo quện). Ngoài trang phục, phụ nữ Khmer rất thích đeo
nước cốt sau khi nêm và nấu chính gọi là nước lèo dùng ăn với bún có thêm giá, hẹ
và rau thơm. Món bún này rất được ưa chuộng kể cả người Kinh, Hoa ở Sóc Trăng
nói riêng và khu vực Tây Nam Bộ nói chung.
Các món ăn của người Khmer không cầu kỳ như những món ăn của người
Hoa nhưng hương vị rất đặc biệt và gần gũi với mọi người, nhiều món ăn của đồng
bào dân tộc Khmer đã được Việt hóa hoặc được cải tiến để phù hợp với khẩu vị của
từng địa phương.
2.1.2 Những phong tục và lễ hội tiêu biểu
Người Khmer xem chùa là linh hồn của mỗi phum, sóc, nhà là nơi tạm trú,
chùa là nơi dạy học, nơi linh hồn tổ tiên trú ngụ. Trước đây người Khmer có gần hai
mươi lễ hội trong năm nhưng hiện nay chỉ còn một vài lễ hội chính như:
Lễ tết (Chôl Thnăm Thmây)
Đạo Phật tiểu thừa là tôn giáo chính của người Khmer Nam Bộ cũng như của
cộng đồng dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng, nó đã thâm nhập khá sâu trong sinh hoạt
đời sống của quần chúng, nên những lễ hội của họ dù bắt nguồn từ đâu, vẫn mang
màu sắc tôn giáo và không thoát khỏi cổng chùa. Trong quá trình phát triển lịch sử
các lễ hội còn chịu pha tạp của những yếu tố tôn giáo khác như đạo Bà la môn, song
ở đây cũng tồn tại khá rõ nguồn gốc lễ nghi nông nghiệp của cư dân trồng lúa nước.
Điều đó cũng dễ nhận biết qua các lễ hội tiêu biểu dù đó là lễ Chôl Chnăm Thmây,
lễ Đônta (lễ cúng ông bà), hay lễ Oóc Om Bok (lễ cúng trăng).
Các ngày lễ của người Khmer theo tập quán lâu đời, được tổ chức theo Phật
lịch, dù hiện nay hằng ngày trong đời sống họ vẫn sử dụng dương lịch. Lễ Chôl
Chnăm Thmây có nghĩa là “vào năm mới” (Phật lịch), tức là lễ tết lớn nhất hằng
năm của người Khmer, còn gọi là lễ chịu tuổi, thường diễn ra vào tháng tư dương
lịch (tức đầu tháng Chét của người Khmer). Đây là thời điểm giao mùa giữa mùa
nắng và mùa mưa, trong khi đó, lễ Oóc Om Bok (lễ cúng trăng) lại diễn ra vào thời
điểm giữa mùa mưa và mùa nắng (tống tiễn mùa ẩm ướt để đón ánh nắng mặt trời).
Lễ thường kéo dài trong ba ngày, ngoài ý nghĩa đón mừng năm mới, lễ Chôl Chnăm
Thmây còn có ý nghĩa chất dứt thời kỳ nắng hạn, bước sang thời kỳ có nắng trời dồi
ngăn ma quỷ và những điều không tốt lành, nhắc nhở mọi người luôn tích công, tích
phúc lớn dần như núi cát và sẽ lan khắp tám phương.
Ngày thứ ba (Lơnsắk), sau khi đã dâng cơm cho các vị sư sãi ở chùa, người
ta làm lễ tắm tượng Phật bằng nước có ướp hương thơm, rồi sau đó tắm cho các vị
sư cao niên ở chùa, nhằm rửa hết cái cũ, những bụi bậm của trần thế trong năm cũ,
để bước sang năm mới với một thân thể sạch sẽ, hoàn toàn mới.
Tiếp đó, là lễ cầu siêu (Băngskôl). Các vị sư được mời đến tháp lưu giữ hài
cốt của những người quá cố để cầu kinh cho linh hồn họ được siêu thoát. Đến trưa
mọi người về nhà làm lễ tắm tượng Phật thờ trong từng gia đình, rồi chúc mừng cha
me, ông bà, dâng bánh trái để tạ ơn. Cũng có khi tổ chức lễ tắm ông bà, cha mẹ gọi
là để báo hiếu. [10, tr 1041-1043].
Trong lễ Chôl Thnăm Thmây, hoạt động văn nghệ cũng được coi trọng, chùa
nào cũng tổ chức văn nghệ, mời đoàn văn nghệ đến phục vụ hoặc tổ chức văn nghệ
nghiệp dư tại chùa. Trong đêm cuối cùng, mọi người vui chơi đờn hát, nhảy múa, kể
chuyện…cho đến khi trời sáng mới thôi.
Đối với người Khmer chùa là chỗ dựa tinh thần, nơi tín ngưỡng tôn nghiêm
nhất, trung tâm văn hóa của địa phương, nơi sinh hoạt cộng đồng, cho nên khi tết
đến đồng bào dân tộc Khmer không chỉ đến viếng chùa mà tất cả đều tập trung ở
chùa ăn tết, xem đây là mái nhà chung của dân tộc mình. Tết Chôl Thnăm Thmây
có ý nghĩa rất trọng đại, vừa là ngày mở đầu của năm mới, ngày mở đầu cho mùa
vụ, ngày vui tươi hạnh phúc nhất trong năm, đối với thanh niên nam, nữ coi đây là
dịp để trao đổi, tâm sự, hẹn hò…
Lễ cúng ông bà (pithi Sen Đônta)
Đồng bào người Khmer xưa không có thói quen tổ chức giỗ hàng năm vào
ngày mất của người quá cố trong thân tộc như người Kinh. Việc đền ơn đáp nghĩa,
báo hiếu tổ tiên, người dưỡng dục sinh thành đều tập trung tế lễ trong ba ngày từ 29
tháng 8 đến ngày mùng 1 tháng 9 âm lịch gọi là lễ Sen Đônta (lễ cúng ông bà)
Ngày thứ nhất, là ngày quan trọng trong lễ Sen Đônta, các thành viên trong
gia đình đều phải có mặt đông đủ để đón tiếp vong linh của người đã mất. Việc đầu
lễ cúng trăng. Thức ăn chính trong lễ này là cốm dẹp, trước để dâng cúng sau cho
trẻ con ăn, tượng trưng cho sự no đủ về lương thực do mình làm ra. Vì vậy, còn gọi
là lễ đút cốm dẹp (Oóc Om Bok) đây là lễ hội truyền thống của đồng bào dân tộc
Khmer, hàng năm được tổ chức rất quy mô ở thị xã Sóc Trăng (nay là thành phố
Sóc Trăng) với nhiều nghi lễ và sinh hoạt văn hóa, thể thao độc đáo như: thả đèn
gió, đèn nước, hát dù kê, cùng với những điệu múa lâm thôn rộn ràng phum, sóc.
Trong lễ hội này còn có hội đua nghe ngo (tiếng Khmer gọi là tuk ngô) thể hiện tinh
thần thượng võ và sức mạnh của dân tộc Khmer .
Cứ đến ngày rằm tháng 10 âm lịch hàng năm, Sóc Trăng lại diễn ra lễ hội
đua ghe ngo rất đặc sắc và tưng bừng. Đua ghe ngo được tổ chức trong ngày kết
thúc lễ hội Oóc Om Bok. 12 giờ 30 phút cuộc đua ghe ngo mới chính thức khai
mạc, nhưng tờ mờ sáng từng đoàn người từ các phum, sóc đổ về các ngã đường
thành phố Sóc Trăng đông nghịt. Đây là lễ hội thu hút đông đảo đồng bào Khmer
vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long tham dự, ngoài ý nghĩa kết thúc một năm lao
động vất vả chuẩn bị bước vào vụ mùa mới, cuộc đua ghe ngo thực sự là ngày hội
của mọi người dân Sóc Trăng.
Trong trang phục đủ màu sắc, từng đoàn người nối tiếp nhau tụ tập dọc hai
bên bờ song đường Lý Thường Kiệt (thành phố Sóc Trăng) từ sớm tinh mơ. Năm
nào cũng vậy, chưa đến giờ đua ghe ngo nhưng hai bên bờ sông đã chật nít người,
có tốp người chen nhau xuống đầy ấp các boong tàu đậu cập mé sông, có tốp lại
trèo lên nóc nhà dọc hai bên bờ, tốp thì ngâm mình dưới nước để tận mắt thấy cuộc
đua ghe ngo diễn ra.
Những chiếc ghe ngo có chiều dài khoảng 25-30m, bề ngang 1-1,4m có thể
chứa từ 50-60 người chèo, riêng người điều khiển nhịp chèo ngồi ở trước mũi,
người điều khiển phải có một nghệ thuật điêu luyện, giàu kinh nghiệm, có uy tín,
thông thạo đường nước…Ngoài ra, còn có người đứng ở giữa thổi còi phụ họa theo
nhịp người điều khiển. Mái chèo làm bằng gỗ nhẹ, dẻo, không thấm nước, bản rộng,
mỏng dần về cán. Mỗi chiếc ghe ngo có những biểu tượng khác nhau, thường là kha
la (con cọp), rồng, sư tử…Ghe ngo là một loại thuyền độc mộc lớn, được khoét từ
trái) đến nhà gái để xin cưới. Trong lễ này nhà trai mang theo cả trang sức như bông
tai, vòng, nhẫn để tặng cô dâu.
Tang ma (Bon sop)
Theo phong tục của người Khmer, sau khi chết thường hỏa táng, có một số
trường hợp chết vì dịch bệnh thì đem chôn.
Việc đầu tiên là bỏ đồng bạc (hoặc đồng chì) vào miệng người chết, dùng
chăn hoặc mền đậy kín lại. Trong thời gian đợi liệm, phải để trên ngực người chết
một nải chuối, hai lá trầu có cắm ba cây nhang.
Trong thời gian chuẩn bị chôn hoặc thiêu xác, nhà sư luôn tụng kinh cầu
siêu, năm vị Achar vừa tụng kinh vừa đi quanh quan tài ba vòng. Sau đó quan tài
được mở ra, cắt dây buộc xác người quá cố để con cháu nhìn mặt lần cuối trước khi
chôn hoặc thiêu. Nếu chôn thì buổi lễ kết thúc khi quan tài được đặt vào lòng đất,
còn nếu thiêu buổi vẫn tiếp tục, các vị Achar vẫn tụng kinh cầu cho linh hồn sớm
được siêu sinh. Sau đó, họ tiến hành thiêu xác. Khi ngọn lửa thiêu tàn, vị Achar
đánh ba tiếng cồng, con cháu dùng nước tưới vào đống tro cho nguội để làm lễ cúng
thần đất, rồi nhặt tro xương để vào chiếc mâm có trãi sẵn khăn trắng, đội mâm
mang về. Khi đến cổng nhà con cháu phải làm lễ cúng tám phương xong mới đem
tro xương vào nhà mời sư cầu siêu lần cuối trước khi rửa xương với nước dừa khô
cho sạch, phơi thật khô cho vào thố hoặc tháp nhỏ (Kôd) để thờ trong nhà hoặc gửi
vào chùa.
Hỏa táng là một phong tục truyền thống tốt đẹp của đồng bào dân tộc Khmer,
tuy nhiên việc thiêu trực tiếp hoặc thiêu trong lò không đảm bảo kỹ thuật, dẫn tới
mất vệ sinh và gây ô nhiễm môi trường. Nhằm hạn chế tình trạng đó, Sở khoa học
và công nghệ Sóc Trăng nghiên cứu xây dựng thành công lò hỏa thiêu cải tiến với
nhiều ưu điểm. Chi phí vận hành thấp, công suất lớn, tuổi thọ sử dụng cao, thời gian
mỗi lần hỏa táng ngắn, phù hợp với tập quán của đồng bào dân tộc Khmer. Nó
không chỉ góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của đồng
bào dân tộc Khmer mà còn bảo vệ môi trường và thực hiện chính sách dân tộc của
Đảng và Nhà nước ta.
sửa chùa hoặc làm công việc phúc lợi xã hội của Phật giáo. Vì vậy trong khi hoàn
cảnh gia đình khó khăn, người Khmer vẫn bỏ tiền ra để xây chùa nguy nga lộng lẫy.
Sóc Trăng hiện có 584.000 tín đồ (chiếm 49,78% dân số toàn tỉnh), 2.951 vị
chức sắc, nhà tu hành, 8.266 vị chức việc; 263 cơ sở thờ tự, 206 đình miếu, một
trường trung cấp Phật học, một trường bổ túc văn hóa Paly Nam Bộ.
2.1.4 Các loại hình nghệ thuật
Ngoài tín ngưỡng tôn giáo, người Khmer còn có một kho tàng văn hóa nghệ
thuật. Nghệ thuật của người Khmer rất đa dạng phong phú gồm các loại âm nhạc,
múa, kiến trúc, hội họa….ví dụ trong âm nhạc có cổ nhạc, nhạc dân gian, các loại
nhạc cụ…đó là những bộ phận trên sân khấu rôbăm, dù kê, hội họa
Múa là một loại hình nghệ thuật được phổ biến rộng rãi nhất trong cộng đồng
người Khmer. Đa số họ đều biết múa và thường múa trong những kỳ lễ hội, đám
tiệc liên hoan…múa là một bộ phận quan trọng trên sân khấu, riêng sân khấu rôbăm
múa được xem như một thứ ngôn ngữ để biểu đạt nghệ thuật. Ba điệu múa tiêu biểu
nhất của người Khmer: Răm vong (còn gọi là Lâm thôn); Lâm lêv và Saran vốn có
nguồn gốc từ Thái Lan, Lào, Inđônêsia, nhưng từ lâu đã hòa nhập vào cuộc sống
của đồng bào Khmer Nam Bộ cũng như đồng bào Khmer Sóc Trăng như máu thịt
không thể tách rời.
Một loại hình nghệ thuật đáng chú ý khác của người Khmer là kiến trúc chùa
bao gồm cả kỹ thuật xây dựng, điêu khắc, hội họa và trang trí hoa văn. Để thực hiện
công trình kiến trúc chùa, phải có một đội ngũ xây dựng bao gồm nhiều bộ phận kỹ
thuật, mỹ thuật và phải có thời gian dài để xây dựng, chưa kể đến kinh phí khá lớn
nên đa số các chùa Khmer phải trải qua nhiều giai đoạn mới hoàn thành. Thợ xây
dựng và nghệ nhân kiến trúc điều xuất thân ở chùa. Vì vậy khi xây chùa nhất thiết
phải tuân thủ ý kiến của sư trụ trì, mọi chi tiết về kỹ thuật và mỹ thuật đều phải theo
một khuôn khổ nhất định. Bởi những lý do đó, các chùa Khmer ở Nam bộ cũng như
ở Sóc Trăng từ trước đến nay về hình dáng thường tương tự nhau. Người Khmer
xem chùa là nơi thiêng liêng và tôn nghiêm nhất, là linh hồn của từng phum sóc,
biểu tượng văn hóa của từng địa phương. Ngôi chùa thường được xây dựng ở những