CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở SÓC TRĂNG TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY - Pdf 28

- 1 -
Cần thơ, 5/2009
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC ĐỀ TÀI:
CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO TRONG
ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở SÓC TRĂNG
TỪ NĂM 1992 ĐẾN NAY Chuyên ngành: Sư phạm giáo dục công dân
Mã ngành: 52140204
Giáo viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:
Th.S. Hồ Thị Quốc Hồng Sơn Ngọc Như
Lê Thị Út Thanh MSSV: 6055383 - 2 -
MỞ ĐẦU

hộ nghèo của Tỉnh [15]. Xoá đói giảm nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc Trăng
đang là chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, thực hiện tốt công tác xoa
đói giảm nghèo trong đồng bào khmer ở Sóc Trăng sẽ góp phần sẽ góp phần nâng
cao dân trí cải thiện đời sống kinh tế xã hội góp phần tạo nên sự phát toàn diện về
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng
nói riêng và cả nước nói chung. Xuất phát từ vai trò và ý nghĩa quan trọng như vậy
cũng chính là lý do mà tôi chọn đề tài: “Công tác xóa đói giảm nghèo trong đồng
bào dân tộc Khmer ở Sóc Trăng từ năm 1992 đến nay” để làm luân văn này
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Vấn đề xóa đói giảm nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer ở Sóc Trăng đã
được nghiên cứu rất nhiều như: Nghiên cứu của Thạc sĩ Nguyễn Việt Thảo với đề
tài “ phân tích đánh giá thực trạng nghèo đói và các giải pháp xoá đói giảm nghèo
cho tỉnh Sóc Trăng”, nghiên cứu Ông Mai Phước Hưng Sở Kế Hoạch Đầu Tư về
“Xóa đói giảm nghèo đồng bào dân tộc Khmer ở Sóc Trăng”. Nguyễn Xuân Châu
với “Công tác xoá đói giảm nghèo vùng đồng bào Khmer Nam Bộ thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp”. Và nhiều bài báo cáo nghiên cứu khác của Ban dân tộc
tỉnh Sóc Trăng, Sở Kế hoạch và Đầu tư Sóc Trăng về tình hình đời sống thực trạng,
nguyên nhân và giải pháp xóa đói giảm nghèo trong đồng bào Khmer. Riêng đề tài
của tôi chỉ nghiên cứu thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo trong đồng bào dân
tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng trong khoảng thời gian thành lập tỉnh (1992) đến nay,
và tìm ra một số giải pháp xóa đói giảm nghèo trong đồng bào dân tộc Khmer ơ Sóc
Trăng hiện nay. Bên cạnh đó trong đề tài tôi củng có kế thừa và chọn lọc các thành
quả nghiên cứu của các tác giả này.
3. Phương pháp nghiên cứu: - 4 -
Trong quá trình nghiên cứu luận văn tôi đã dựa trên cơ sở các quan điểm
chính sách đường lối của Đảng và Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam và những chính sách nâng cao đời sống đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc
Trăng. Đồng thời có kế thừa những thành tựu nghiên cứu các nhà nghiên cứu ở
nước ta trong những năm gần đây. Để thực hiện luận văn nay tội sử dụng kết hợp
nhiều phương pháp trong đó phương pháp chính là phương pháp phân tích lịch sử,

Trăng
2.2. Kết quả công tác xóa đói giảm nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc
Trăng.
2.3. Đánh giá về công tác xóa đói giảm nghèo trong đồng bào Khmer ở Sóc
Trăng.
Phần kết luận: Kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục.

- 6 - NỘI DUNG
Chương 1:

vững, bản thân người nghèo mới có thể chủ động thoát đói nghèo. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đánh giá rất cao sức mạnh của dân Người yêu cầu: đem tài dân, sức dân mà
giải phóng cho dân.
Theo Người xóa đói giảm nghèo phải là: "Làm cho người nghèo thì đủ ăn,
người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm" [2 ; Tr 62]. Vậy là, mọi thành
viên trong xã hội không ngừng phấn đấu vươn lên vượt qua cửa ải đói nghèo, Người
quan niệm xã hội mà chúng ta xây dựng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh” nó xa lạ với đói nghèo bần cùng, lạc hậu, là xã hội giàu về kinh
tế, lành mạnh về văn hoá xã hội, quan niệm này hàm chứa ý nghĩa to lớn trong việc
giải phóng sức sản xuất, hướng đến phát triển toàn diện con người.
Theo Người một dân tộc dốt cũng là một dân tộc yếu, giặc dốt cũng là một
trong ba thứ giặc nguy hiểm nó sẽ kìm hãm sự phát triển, Người chỉ ra rằng: ăn no
mặc ấm phải đi liền với học hành tiến bộ xã hội phải ngày càng tiến, vật chất ngày
càng tăng phải đi liền với tinh thần ngày càng tốt. Qua đó chúng ta thấy rằng ý
nghĩa sâu xa trong tư tưởng xóa đói giảm nghèo của Người bên cạnh xóa đói giảm
nghèo về vật chất phải chú ý cả xóa đói giảm nghèo về tinh thần, không nên phiến
diện một chiều chỉ tập trung về kinh tế, mà bỏ quên văn hoá tinh thần lúc ấy sẽ xuất
hiện nguy cơ, lực cản nguy hiểm ảnh hưởng đến sự phát triển, tư tưởng này đến nay
vẫn thể hiện rõ tính thời sự của nó rằng: phát triển bền vững phải bao hàm cả vật
chất và tinh thần. Đó là giá trị thật sự trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
xóa đói giảm nghèo, mà chúng ta cần vận dụng sáng tạo trong điều kiện tình hình - 8 -
mới, phấn đấu đạt mục tiêu chung: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh.
1.1.2. Quan điểm của Đảng về vai trò và tầm quan trọng của công tác
xóa đói giảm nghèo:
Đảng Công sản Việt Nam xem xoá đói giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt
trong qua trình phát trển kinh tế xã hội của đất nước. Thực hiện xoá đói giảm nghèo
phải trên tinh thần phát huy nội lực, không trông chờ ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà
nước, quan tâm tập trung cho các vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng kháng
chiến củ và vùng sâu, vùng xa. Xoá đói giảm nghèo phải trên cơ sở đẩy mạnh sản

lên gấp 5 - 6 lần hiện tại [25].
Thực hiện tốt công tác xóa đói giảm nghèo là một trong những thành công
quan trọng của quá trình phát triển kinh tế xã hội. Ngày 25/9 tại New York, phát
biểu tại Cuộc thảo luận bàn tròn về Mục tiêu xóa đói giảm nghèo trong Phiên họp
cấp cao Đại hội đồng Liên Hợp quốc (LHQ) kiểm điểm giữa kỳ việc thực hiện Các
Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDG), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại
giao Phạm Gia Khiêm đã nêu bật nỗ lực của Việt Nam biến cam kết thành hành
động thực tế nhằm tiến tới thực hiện tám mục tiêu xóa đói giảm nghèo vào năm
2015.
Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm nói: "Việt Nam hết sức coi trọng phiên họp
cấp cao lần này của Đại hội đồng LHQ nhằm đánh giá những kết quả, bài học kinh
nghiệm của nửa chặng đường thực hiện Các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ
(MDG), từ đó đề ra các kế hoạch cùng biện pháp cụ thể để phấn đấu hoàn thành vào
thời hạn năm 2015. Các mục tiêu này là nội dung quan trọng của Chiến lược tổng
thể được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh Thiên niên kỷ năm 2000 của các quốc
gia thành viên LHQ, nhằm huy động trách nhiệm tập thể vì một thế giới mới công
bằng, bình yên hơn.
Quá trình thực hiện vừa qua cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa chiến lược của
MDG là đã trở thành khuôn khổ chung cho hợp tác phát triển trên bình diện quốc tế
và định hướng chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi quốc gia. Chúng
ta vui mừng về những đổi thay tích cực mà người dân đã được hưởng từ quá trình - 10 -
này, đó là có thêm 1,6 tỷ người được tiếp cận với nước sạch so với năm 1990, số
người mắc và tử vong vì một số căn bệnh như lao, HIV/AIDS đã bắt đầu giảm, có
tiến bộ đáng kể về bình đẳng giới, ở nhiều nơi số trẻ em đi học tiểu học đạt trên
90%. Đặc biệt là tỷ lệ nghèo tính chung cho cả thế giới đã giảm từ 41% vào năm
1990 xuống còn 26% vào năm 2005.
LHQ và các đối tác phát triển khác đã ghi nhận những kết quả ấn tượng về
thực hiện MDG ở Việt Nam thể hiện qua thực tế là Việt Nam đã đạt hoặc vượt ở
nhiều mục tiêu và nhiều khả năng sẽ hoàn thành các mục tiêu còn lại trước năm
2015. Theo chuẩn nghèo quốc gia thì tỷ lệ số hộ nghèo toàn quốc đã giảm từ 58%

mạnh mẽ hơn nữa để xử lý những vấn đề hiện đang đặt ra về biến đổi khí hậu, an
ninh năng lượng và an ninh lương thực".
Cuộc họp cấp cao này, do Tổng thư kí Ban Kimoon và Chủ tịch Đại hội đồng
LHQ khóa 63, ông Miguel D'Escoto, triệu tập với sự tham dự của gần 100 nhà lãnh
đạo cấp cao cùng đại diện 192 nước thành viên LHQ, diễn ra trong bối cảnh kinh tế
toàn cầu đang vật lộn với hàng loạt khó khăn do giá nhiên liệu tăng và cuộc khủng
hoảng tài chính lan rộng, gây trở ngại nghiêm trọng cho nỗ lực nhằm xóa bỏ tình
trạng đói nghèo cùng cực, phổ cập giáo dục tiểu học, giảm tỉ lệ tử vong của trẻ em,
và đặt ra những thách thức mới cho các nước nghèo trong việc thực hiện một vài
trong số tám mục tiêu này.[26; website]
Năm 1948 trong lời kêu gọi thi đua ái quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem đói
nghèo là một trong 3 thứ giặc “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm”. Lời kêu gọi đó
đã trở thành khẩu hiệu chiến lược trong suốt thời kháng chiến,và kiến quốc. Ngày
nay, xóa đói giảm nghèo, là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta nhằm
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” là
một chương trình quốc gia có ý nghĩa về kinh tế, chính trị và an ninh quốc phòng
với tính nhân văn sâu sắc, phát huy được bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ
nghĩa, góp phần phát triển đất nước một cách bền vững, được các cấp ủy Đảng,
chính quyền, đoàn thể xem là nhiệm vụ trọng tâm, được nhân dân đồng tình hưởng
ứng. - 12 -
1.2. TÌNH HÌNH ĐỜI SỐNG CỦA ĐỒNG BÀO KHMER NAM BỘ
1.2.1. Thực trạng đời sống kinh tế - xã hội đồng bào Khmer Nam Bộ:
Đồng bào Khmer Nam Bộ sống tập trung chủ yếu ở khu vực Đồng Bẳng
Sông Cửu Long (ĐBSCL) là vùng đất cực Nam của Tổ quốc, với diện tích tự nhiên
39.842 km2
, dân số khỏang 18 triệu người (năm 2008), gồm 4 dân tộc chính: Kinh,
Khmer, Hoa và chăm. Trong đó có khoảng 1,3 triệu người dân tộc Khmer sống tập
trung ở chủ yếu ở 8 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long và tập trung đông nhất ở các
tỉnh: An Giang khoảng 85.000 người (chiếm 80% dân số tỉnh), Trà Vinh khỏang
320.000 người (Chiếm 30% dân số tỉnh), Sóc Trăng khoảng 400.000 người (chiếm

đất ở. Có 13.593 hộ với 61.158 nhân khẩu không có nhà ở, đang phải ở chung, ở
nhờ.
Toàn khu vực có 50 - 60% dân số được dùng điện, nước. Học sinh tiểu học
đạt khoảng 75%, trung học phổ thông đạt khoảng 30%, sinh viên đại học, cao đẳng
còn rất hạn chế. Tỷ lệ học sinh bỏ học giữa chừng, mù chữ, tái mù chữ khá cao. Tỷ
lệ trẻ em suy dinh dưỡng bình quân toàn khu vực khoảng trên 30% [23].
1.1.2. Nguyên nhân nghèo trong đồng bào Khmer Nam Bộ:
Nguyên nhân nghèo trong đồng bào Khmer Nam Bộ có nhiều nguyên nhân
có thể kể đến các nguyên nhân chính sau:
Thú nhất: Phần lớn đồng bào Khmer sinh sống bằng nghề nông nghiệp,
thường cư trú tập trung ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ, xa trục lộ, một bộ phận
lại cư trú ở sát khu vực biên giới. Do điểm xuất phát của hạ tầng kinh tế - xã hội
cũng như mặt bằng dân trí thấp, khả năng tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào sản xuất gặp nhiều khó khăn, nên điều kiện vươn lên để hoà nhập vào sự
phát triển chung của toàn xã hội bị chậm hơn so với các vùng khác. Mặt khác, việc
chuyển đổi cơ cấu kinh tế của từng vùng, từng địa phương chưa nhiều, tập quán sản
xuất, sinh hoạt của đồng bào nhìn chung vẫn còn lạc hậu. Sản xuất của đồng bào ở
nhiều vùng vẫn chỉ dựa vào thiên nhiên là chính, vì thế thường xuyên bị ảnh hưởng,
thiệt hại do lũ lụt thiên tai gây ra. - 14 -
Thứ hai: Phần lớn số hộ Khmer có đông con nhưng lại ít lao động chính,
thường xuyên thiếu việc làm, thu nhập thấp và không ổn định, bình quân thu nhập
đầu người thấp, số thu nhập này chủ yếu phục vụ đời sống hàng ngày, các gia đình
không có khả năng tích luỹ.
Đa số hộ đồng bào Khmer, còn thiếu kinh nghiệm trong sản xuất nên hiệu
quả kinh tế không cao. Kiến thức quản lý kinh tế hộ cũng như kế hoạch chi tiêu gia
đình còn hạn chế. Phần lớn do hoàn cảnh khó khăn, dẫn đến bán đất, cầm cố đất,
bán gia súc, gia cầm để phục vụ cho việc cưới xin, ma chay và các phong tục, tập
quán, tín ngưỡng, tôn giáo, lễ hội đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của đồng bào,
làm cho kinh tế gia đình thâm hụt, khoảng cách giàu nghèo giữa các hộ, giữa các
dân tộc cũng như giữa các vùng với nhau ngày càng chênh lệch.

nghèo chưa đạt được kết quả như mong muốn.
1.3. CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ XÓA ĐÓI
GIẢM NGHÈO VÙNG ĐỒNG BÀO KHMER:
1.3.1 Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về xóa đói giảm
nghèo đồng bào Khmer ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL):
1.3.1.1. Chính sách kinh tế - xã hội::
* Thực hiện Chương trình 135: Chương trình 135 là chương trình xóa đói
giảm nghèo và xây dựng kết cấu hạ tầng, được triển khai thực hiện ở các khu vực
đặc biệt khó khăn, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới, vùng dân tôc khó khăn,... Ở
khu vực Đồng Bằng sông Cửu Long chương trình 135 bao gồm các dự án:
Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng được triển khai thực hiện ở 195 xã đặc biệt
khó khăn và xã biên giới. Tổng số vốn đầu tư từ năm 1999 đến năm 2003 là
301.111 triệu đồng [16;Tr13].
Dự án xây dựng trung tâm cụm xã triển khai thực hiện 37 trung tâm. Tổng
số vốn đầu tư từ năm 2001 đến nay 93.655 triệu đồng.
Dự án quy hoạch dân cư ở những nơi cần thiết: Nhiệm vụ này đã được thực
hiện bằng lòng ghép với các chương trình, dự án kết hợp với xây dựng cơ sở hạ tầng
của chương trình 135 để xấp xếp lại dân cư. Cùng với sự hỗ trợ kịp thời kinh phí
của Nhà nước, địa phương tích cực chủ động tạo quỹ đất ở, nhà ở cho những hộ - 16 -
nghèo, tổ chức quy hoạch, di dời, bố trí các tuyến, cụm dân cư đảm bảo nơi ăn ở, đi
lại, sinh hoạt ổn định và tạo môi trường thuận lợi để phát triển sản xuất nâng cao
dần mức sống cho đồng bào.
Dự án ổn định phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp gắn với chế biến
tiêu thu sản phẩm được thực hiện bằng nhiều biện pháp trong chương trình 135. Các
công trình đện, đường, trường, trạm , nước sạch, chợ xây dựng đến đâu là ổn định
đời sống kinh tế xã hội, tạo điều kiện sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp đến đó. Hỗ trợ
cho những hộ thiếu đất, không có đất do nhiều lý đã cầm cố nay có nhu cầu và đủ
khả năng, điều kiện để sản xuất đảm bảo cuộc sống, được chuộc lại đất sản xuất.
Đồng thời chính quyền địa phương phải có những biện pháp chế tài, quản lý tốt
không để việc tái sang, bán, cầm cố đất đai trong đồng bào Khmer nghèo. Những hộ

Đẩy mạnh kinh tế hợp tác xã, kinh tế trang trại, kinh tế tập thể, Công ty cổ
phần nông dân với nhiều loại hình đa dạng, khác nhau. Vận động các doanh nghiệp,
cơ quan, đoàn thể trong và ngoài tỉnh nhận kết nghĩa, đỡ đầu, hỗ trợ, bảo trợ, giúp
đỡ trước mắt và lâu dài đối với các xã đặc biệt khó khăn.
Dự án đào tạo cán bộ xã, làng, phum, sóc là một trong những nhiệm vụ chủ
yếu của Chương trình 135 và cũng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thực hiện hiệu
quả chương trình. Tổng vốn đầu tư 1.958 triệu đồng.
* Chính sách hỗ trợ hộ dân tộc đặc biệt khó khăn: Tổng số vốn đầu tư là
68.307 triệu đồng đã góp phần giải quyết phần khó khăn trong đồng bào.
* Chính sách trợ giá, trợ cước: Tổng số vôn đầu tư từ năm 1998 đến nay là
40.667 triệu đồng, trợ giúp giống cây con và trợ cước một số măt hàng thiết yếu.
Qua đó giúp đồng bào dân tộc nghèo có điều kiện sản xuất.
* Chính sách trợ vốn vay: Vốn ưu đãi để phát triển nông nghiệp được giảm
lãi suất 15% so với mức lãi xuất chung, vốn vay từ quỷ quốc gia giải quyết việc
làm, ngân hàng chính sách được triển khai. Từ nguồn vốn này đã giúp đồng bào
Khmer sản xuất có hiệu quả.
* Chính sách miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp:Thực hiện Quyết
định số 199/2001/QĐ-TTg ngày 28/12/2001, từ năm 2001 đến nay, người nghèo nói
chung, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số theo tiêu chuẩn nghèo tại Quyết định - 18 -
số 1143/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000 của Bộ Lao đông Thương Binh Và Xã Hội
và đồng bào tại các xã thuộc chương trình 135 được miễn thuế sử dung đât nông
nghiệp. Các đối tượng không thuộc tiêu chuẩn trên được giảm 50%.
Các địa phương xem cấp nhà tình nghĩa cho các đối tượng chính sách, trong
đồng bào dân tộc. Thực hiện tinh thần Quyết định 173/2001/QĐ-TTg, đến nay Trà
Vinh hổ trợ 7.101 căn, Sóc trăng 5.567 căn, Kiên Giang 3000 căn, An Giang 2.585
căn, Cần thơ 1.425 căn nhà tình thương cho đồng bào Khmer nghèo bức xúc về nhà
ở [16;Tr15].

1.3.1.2. Chính sách về văn hóa giáo dục - đào tạo:
Ưu tiên đầu tư kịp thời, thích đáng cho hệ thống nhà trẻ, trường mẫu giáo và

tế, bệnh viện.
Đến nay 100% huyện ở 8 tỉnh vùng dân tộc Khmer ĐBSCL điều thành lập
trung tâm y tế. Đồng bào ở các xã thuộc Chương trình 135 được cấp một số thuốc
trị bệnh miễn phí tại trạm y tế xã, cấp cho không muối iốt
1.3.1.4. Chính sách về văn hóa thông tin:
Đầu tư xây dựng Bảo tàn văn hóa dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng và Trà
Vinh. Các đoàn chuyên nghiệp của tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang; đội văn
nghệ tỉnh Bạc Liêu và một số đội văn nghệ không chuyên ở một số tỉnh được đầu tư
hoạt động.
Về truyền hình: có trương trình tiếng Khmer của Đài Truyền hình Cần Thơ,
thời lượng 120 phút/ngày; chương trình truyền hình tiếng Khmer tỉnh Sóc Trăng,
Trà Vinh, Bạc Liêu, Kiên Giang, An Giang, thời lượng 30 đến 45 phút/ngày
[16;Tr5].
Về phát thanh: có chương trình tiếng Khmer của Đài Tiếng nói Việt Nam ,
thời lượng 45 phút/chương trình, phát 3 lần/ngày; trương trình phát thanh tiếng
Khmer tỉnh Sóc Trăng, trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, thời lượng 30 đến 45
phút/chương trình,phát sóng từ 2 đến 3 lần/ngày. - 20 -
Về báo chí: Có tờ báo tiếng Khmer tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh. Báo Sóc
Trăng có 4 trang, phat hành tuần/kỳ, số lượng 1300 bản/kỳ. Báo Trà Vinh có 8 trang
phát hành 10 ngày/kỳ, số lượng 100 bản/kỳ. Ngoài ra còn có 17 tờ báo và tạp chí
chuyên đề Dân tộc và Miền núi của một số Bộ nghành trung ương cấp phát miễn
phí đến các tỉnh thuộc Chương trình 135.
Chính sách cấp không thu tiền máy thu thanh được triển khai thực hiện tại
các vùng dân tộc nói chung, trong đó có đồng bào dân tộc Khmer từ nhiều năm
qua.
Lễ hội truyền thông được chính quyền địa phương quan tâm tổ chức năm 2002
- 2003 Bộ Văn hóa thông tin còn tổ chức ngày hội văn hóa khmer ở Sóc Trăng,
Kiên Giang và thủ đô Hà Nội để Phục vụ đông đảo quần chúng.
Nhìn chung văn hóa thông tin đã góp phần đáng kể trong xóa đói giảm nghèo
nâng cao đời sống vật chất tin thần, tuyên truyền và vận động đồng bào nghiêm

các nguồn vốn, không để tình trạng đầu tư phân tán, chồng chéo, thất thoát, kém
hiệu quả. Quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng có liên quan trực tiếp đến sản xuất, lưu
thông kinh tế vùng đồng bào dân tộc để tạo ra hiệu quả kinh tế nhanh.
Từ những định hướng trên Đảng và nhà nước Việt nam đã đưa ra các biện
pháp cơ bản giúp giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc Khmer.
1.3.3. Các giải pháp về xóa đói giảm nghèo đồng bào Khmer ở Đồng
Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL):
Từ thực trạng và định hướng nêu trên, muốn thực hiện tốt hơn nữa công tác
xóa đói giảm nghèo trong cộng đồng dân tộc Khmer ở Đồng Bằng Sông Cửu Long,
các địa phương trong khu vực cần tập trung thực hiện một số giải pháp cụ thể sau:
1. Một là chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng đa canh.
Trước hết, phải chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nội bộ ngành nông nghiệp theo một
tỷ lệ cân đối hợp lý. Cần có một qui hoạch chi tiết cho từng vùng, để xác định một
cách cụ thể về cơ cấu cây trồng, trên cơ sở lợi thế đặc thù của mỗi vùng và sự phát
triển chung của cả khu vực. Nơi nào chuyên canh trồng lúa, nơi nào trồng màu, làm - 22 -
vườn… như vậy mới có thể hướng dẫn và định hướng bước đi cho các hộ nghèo,
vùng nghèo đồng bào Khmer. Trong quá trình chuyển đổi cơ cấu cây trồng nên
hướng cho các hộ nghèo đất ít, nếu có điều kiện thì có thể lập vườn, làm rẫy, trồng
màu.
Hai là, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý giữa trồng trọt với chăn
nuôi. Người nông dân Khmer ĐBSCL, ngoài tập quán sản xuất truyền thống ngoài
cây lúa nước, thì những ngành nghề còn lại là không đáng kể. Do đó, đối với những
cư dân ở ven sông Tiền, sông Hậu và các vùng ven biển như Trà Vinh, Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau… các địa phương nên hướng dẫn các hộ nghèo tận dụng và khai
thác triệt để mặt nước ao hồ, sông rạch các vùng nước lợ, nước ngọt, nước mặn để
đánh bắt hay nuôi trồng thủy hải sản.
Ba là, phát triển tiểu thủ công nghiệp, khôi phục và phát huy các ngành nghề
truyền thống như: đồ gốm, dệt chiếu, thổ cẩm, đường thốt nốt, làm đèn sáp trắng,
đan thúng rổ… chưa được phát huy đầy đủ. Vì thế, cần có định hướng đúng đắn về
làng nghề, ngành nghề ở nông thôn để có những giải pháp thích hợp cho mỗi địa

Hầu hết những hộ nghèo Khmer sống ở nông thôn, nguồn thu nhập chủ yếu
của họ là nghề nông, làm thuê, họ không có nghề nhất định. Do đó, dạy nghề cho
những hộ này là phải kiên trì và có những giải pháp thật linh hoạt cho từng độ tuổi,
từng giới tính, từng đặc điểm của mỗi vùng.
Đối với những hộ đã sang bán, cầm cố ruộng đất, trước hết các cấp ủy, chính
quyền và các đòan thể phối hợp chặt chẽ trong việc giáo dục tinh thần tương trợ đối
với những người đã mua, đã nhận cầm cố đất của các hộ Khmer nghèo, để có sự
thỏa thuận giảm bớt gánh nặng cho người đi vay. Tiếp đó, là sự hỗ trợ vốn để họ
chuộc lại ruộng đất. Mặt khác, chính quyền cơ sở, mà trực tiếp là Hội nông dân,
Ban Chỉ đạo xóa đói giảm nghèo xã, ấp phải thường xuyên động viên giáo dục
những hộ này không được bán hoặc cầm cố đất sản xuất. Trong nội bộ, nghiêm cấm
cán bộ, công nhân viên chức không được mua và nhận cầm cố ruộng đất của những
hộ nghèo dân tộc Khmer ở địa phương. Đối với bên ngoài chủ yếu là động viên, - 24 -
giáo dục thuyết phục để họ không mua ruộng đất của người Khmer nghèo, xem đây
cũng như nghĩa cử giúp các hộ nghèo trong lúc khó khăn.
3. Đào tạo lao động có tay nghề và tạo việc làm cho người Khmer nghèo:
Trước hết là, đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo, nhằm: Nâng cao nhận
thức của cán bộ và đồng bào Khmer ĐBSCL về vai trò của tri thức, của giáo dục và
đào tạo, vệ sự cần thiết phải học tập suốt đời; Củng cố vững chắc những kết quả của
công tác xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, tạo đà chuẩn bị tiến tới phổ cập
trung học cơ sở, hạn chế đến mức thấp nhất số học sinh dân tộc Khmer lưu ban, bỏ
học; sắp xếp lại mạng lưới trường lớp, đa dạng hóa các hình thức học để tạo điều
kiện thuận lợi cho con em đồng bào dân tộc; đẩy mạnh phong trào dạy và học chữ
Khmer… Tiếp tục duy trì và nâng cấp các lớp cử tuyển đại học, dự bị đại học cho
con em dân tộc Khmer; Trung ương phải hỗ trợ mạnh hơn nữa về kinh phí, về cơ
chế, chính sách, đặc biệt là chế độ tuyển chọn con em người Khmer vào các trường
cao đẳng và đại học. Trong những năm trước mắt, cần tăng thêm các chỉ tiêu cử
tuyển đào tạo một số ngành trọng tâm như: sư phạm, trồng trọt, chăn nuôi, thủy hải
sản, nông thôn, công nghệ thông tin.
Quan tâm phát triển đào tạo dạy nghề ở ĐBSCL. Đồng bào dân tộc Khmer,

ĐBSCL là thường xuyên tập trung ở vùng sâu, vùng xa, cơ sở hạ tầng thấp kém,
nên các địa phương cần rà soát lại qui hoạch khu dân cư cho vùng đồng bào Khmer,
theo phương châm: nâng cao chất lượng cuộc sống về nhà ở, đi lại, tiếp cận các dịch
vụ cơ bản xã hộ nhưng đảm bảo các yếu tố văn hóa truyền thống, cụ thể:
Một là, phải đưa các dịch vụ văn hóa, xã hội đến tận các phum sóc, trên cơ
sở việc qui hoạch các trung tâm xã với các khu vực liên hòan về kinh tế - văn hóa
của vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Tạo những điều kiện thuận lợi nhất nhằm
“lôi kéo” người Khmer ra khỏi phum sóc để họ có dịp học hỏi những kinh nghiệm
làm ăn, dần dần hình thành một thói quen tự thích ứng, tự xoay xở làm ăn, dưới tác
động của kinh tế thị trường được thể hiện cụ thể ở chợ nông thôn.
Hai là, nên có sự kết hợp giữa công tác thủy lợi nội đồng, thủy lợi tạo nguồn,
giao thông nông thôn với hình thành khu dân cư mới. Đây là mô hình ít tốn kém,
hiệu quả đã được nhiều địa phương thực hiện và bà con dân tộc Khmer đồng tình - 26 -
Ba là, cùng với việc gia tăng tốc độ đô thị hóa ở các địa phương có đông
đồng bào Khmer sinh sống vùng ĐBSCL sẽ dẫn đến khả năng đẩy người Khmer


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status