Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU............................................................................................................................1
CHƯƠNG 1................................................................................................................................3
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÓI NGHÈO........................................................................3
1.1.Các cách tiếp cận về nghèo đói trên thế giới và Việt Nam................3
1.4. Các phương pháp đánh giá đói nghèo............................................9
2. Nguyên nhân của đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam..................13
2.2.1. Nguyên nhân thuộc về điều kiện tự nhiên: ............................15
2.2.2. Nguyên nhân xuất phát từ điểm yếu của người nghèo:.........16
2.2.3. Nguyên nhân về phía cơ chế chính sách của Việt Nam:...........17
3. Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo..................................................17
3.1. Những tác hại mà đói nghèo gây ra:................................................17
3.3. Ý nghĩa của XĐGN đối với sự phát triển chung của toàn xã hội:..19
THỰC TRẠNG ĐÓI NGHÈO, XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CHO DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VIỆT NAM...............................................................................................................................21
3.1.Chương trình 135...............................................................................28
4. Đánh giá chung về thực trạng nghèo đói của các DTTS ở Việt Nam
..................................................................................................................36
KẾT LUẬN...............................................................................................................................66
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Bộ LĐTBXH: Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội
BTB: Bắc Trung Bộ
CĐ: Cao đẳng
DHNTB: Duyên hải Nam Trung Bộ
ĐB: Đông Bắc
ĐBSCL: Đồng bằng sông Cửu Long
ĐBSH: Đồng bằng sông Hồng
KẾT LUẬN...............................................................................................................................66
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
Chuyên đề tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Đối với tất cả các nước trên thế giới, đói nghèo luôn là vấn đề được xã
hội quan tâm. Ở các nước phát triển, dù có mức sống cao song vẫn luôn tồn
tại tình trạng phân hóa giàu nghèo. Còn ở những nước đang phát triển với thu
nhập trung bình và thấp, trong đó bao gồm Việt Nam, thì một bộ phận không
nhỏ dân cư vẫn sống ở mức nghèo khổ, đặc biệt còn có những người sống
trong hoàn cảnh rất khó khăn vẫn phải chịu tình trạng thiếu đói, không đủ ăn
trong khi đây là nhu cầu thiết yếu của con người.
Mức độ đói nghèo cũng có sự chênh lệch khác nhau giữa các vùng miền
trong cả nước do những đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã
hội. Trong đó, đói nghèo ở các khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa trầm
trọng hơn các khu vực miền xuôi. Tình trạng đó đã gây ảnh hưởng rất xấu tới
chất lượng cuộc sống nhân dân vùng núi. Trong những năm gần đây, Nhà
nước ta đã dành nhiều sự quan tâm, nhiều chủ trương chính sách tích cực giúp
xóa đói giảm nghèo cho vùng núi và đã đạt những kết quả nhất định. Song
trên thực tế, tình hình đói nghèo nơi đây vẫn còn khá nghiêm trọng bởi những
chính sách này chưa thật sự hoàn thiện và phù hợp với tình hình địa phương,
và do đó sự tác động của chúng tới việc khắc phục đói nghèo miền núi chưa
thật sự hiệu quả. Xuất phát từ thực tế đó, ở đây, bài viết với đề tài: “Tình
trạng nghèo đói của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta trong những
năm gần đây và một số kiến nghị đối với công tác xóa đói giảm nghèo ở
vùng núi của Nhà nước” đi vào nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở miền núi
phía bắc Việt Nam trong những năm gần đây như một ví dụ điển hình cho đói
nghèo ở vùng núi nói chung, từ đó đánh giá những ưu điểm và nhược điểm
của các chính sách xóa đói giảm nghèo cho vùng núi của Nhà nước để đưa
ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tác dụng của các chính
Đại biểu cho cách tiếp cận này là Martin Ravallion, coi tình trạng đói
nghèo của một xã hội là tình trạng một hay nhiều cá nhân trong xã hội đó
không có được một mức phúc lợi kinh tế cần thiết để đảm bảo cuộc sống tối
thiểu hợp lý theo tiêu chuẩn của xã hội đó. “Cái gì đó”, theo ông, chính là
“mức phúc lợi kinh tế”, thường được đo lường bằng mức sống mà chỉ tiêu quan
trọng nhất là thu nhập, đặc biệt là thu nhập từ tiền mặt. Ngoài ra còn có thể đo
lường qua giá trị của lượng hàng hóa và dịch vụ được tiêu dùng bời một hộ gia
đình có xem xét tới quy mô và thành phần nhân khẩu của hộ gia đình đó.
Tổ chức Y tế Thế giới WHO cũng định nghĩa nghèo theo tiêu chí thu
nhập. Theo đó, một người được coi là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
3
Chuyên đề tốt nghiệp
một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm của quốc gia (chỉ
số Per Capita Income, PCI).
Cách tiếp cận này có ưu điểm là dễ đo lường vì số lượng tiền tệ dễ xác
định, vì vậy nó được sử dụng khá phổ biến mặc dù chỉ xem xét đói nghèo
theo nghĩa hẹp. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm ở chỗ nó dựa vào giả thiết
người nghèo sử dụng thu nhập của mình theo cách hiệu quả nhất để mua
những hàng hóa như thực phẩm, nhà ở, quần áo, giáo dục, y tế ở mức cơ bản
chứ không bao gồm những hàng hóa mà không thật sự thiết yếu cho cuộc
sống. Ngoài ra, thu nhập thực tế của người nghèo có thể dao động lên trên
hoặc xuống dưới ngưỡng nghèo ở những thời điểm khác nhau do nhiều yếu tố
tác động nên có khi họ được coi là người nghèo, có lúc không.
Như vậy, với quan niệm của trường phái này thì để loại bỏ đói nghèo,
các biện pháp xóa đói giảm nghèo (XĐGN) cần định hướng vào mục đích
tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho người nghèo như tạo công ăn việc làm,
cải tiến nâng cao năng suất lao động.
Sở dĩ cách tiếp cận tiền tệ được cho là chỉ tìm hiểu đói nghèo theo nghĩa
hẹp bởi trên thực tế, những nhu cầu của con người không chỉ bao gồm yếu tố
Như vậy, có thể dễ dàng thấy rằng vấn đề thu nhập được đề cập đến
trong cách tiếp cận tiền tệ chỉ là một phần trong số các yếu tố năng lực, và vì
vậy, cách tiếp cận đói nghèo trên phương diện năng lực của con người có ưu
điểm là phản ánh đầy đủ, sâu sát và chính xác hơn tình trạng nghèo đói của
con người. Bởi thế, đây là cách tiếp cận về đói nghèo được sử dụng rộng rãi
nhất về mặt lý thuyết. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không phải là không có
nhược điểm, mà nhược điểm đó được thể hiện rõ nhất ở mặt áp dụng trong
thực tế để nghiên cứu về đói nghèo. Điểm yếu của cách tiếp cận này là khó
xác định được đầy đủ số lượng cũng như mức độ của các khả năng để đánh
giá tình trạng nghèo khổ trong thực tiễn. Thực tế, việc đo lường đói nghèo
theo cách hiểu này thường chỉ sử dụng một số khả năng cơ bản dễ được định
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
5
Chuyên đề tốt nghiệp
lượng như cách tính chỉ số HPI của Liên Hợp Quốc được đề cập đến ở trên.
Tương tự với quan điểm của Amatya Sen về các khía cạnh của đói
nghèo, Bob Baulch đã đưa ra sơ đồ kim tự tháp các khái niệm về nghèo đói
như sau:
Hình 1.2: Sơ đồ kim tự tháp các khái niệm về đói nghèo của Bob Baulch
1. Tiêu dùng
2. Tiêu dùng + Tài sản
3. Tiêu dùng + Tài sản + Con người
4. Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa XH
5. Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa XH + Chính trị
6. Tiêu dùng + Tài sản + Con người + Văn hóa XH + Chính trị + Bảo vệ
(Trong đó:
Tiêu dùng là thu nhập/tiêu dùng
Tài sản là tài sản tự nhiên : đất đai, của cải vật chất, khả năng tài chính
Con người là giáo dục, kỹ năng, sức khỏe ...
Văn hóa xã hội là hệ thống các mối quan hệ xã hội
nghèo bị cô lập khỏi xã hội, tình trạng đó càng làm cho họ mất đi những cơ
hội để thỏa mãn tình trạng thiếu thốn của mình và để thoát nghèo, do đó càng
trở nên bất lợi, càng bị loại trừ, và bởi thế càng trở nên nghèo đói hơn nữa.
Nói chung, cách tiếp cận này tuy mở rộng một cách xem xét mới về đói nghèo
song được sử dụng ít phổ biến do tính tương đối (chỉ xảy ra ở một số cộng
đồng xã hội nhất định) và rất khó đo lường.
1.3. Cách tiếp cận mang tính tham gia:
Trong khi cách tiếp cận tiền tệ và cách tiếp cận theo năng lực - khả năng
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
7
Chuyên đề tốt nghiệp
bị chỉ trích là chỉ mang ý kiến của người “ngoài cuộc”, không chứa đựng cách
nhìn nhận về đói nghèo của chính những người nghèo thì cách tiếp cận mang
tính tham gia do Chambers khởi xướng
1
đã khắc phục được những hạn chế
này. Cách tiếp cận này khuyến khích người nghèo tham gia vào việc ra quyết
định và đánh giá thế nào là đói nghèo, mức độ ảnh hưởng quan trọng đến
cuộc sống của chính họ và họ cần phản ứng lại như thế nào đối với đói nghèo.
Mục đích của nó là giúp cho người nghèo có thể chia sẻ, phân tích và tăng
thêm hiểu biết về cuộc sống và điều kiện sống để họ lập được kế hoạch hành
động cho mình. Cách tiếp cận này nhìn vào đói nghèo từ nhiều phương diện:
xã hội, kinh tế, văn hóa, chính trị và phòng vệ, và do đó, nó cung cấp một cái
nhìn đa dạng, nhiều mặt về đói nghèo. Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế, nó
thường chỉ được sử dụng bổ trợ cho những nghiên cứu sâu hơn về đói nghèo
như các “Báo cáo về Đói nghèo” và ấn phẩm “Tiếng nói của người nghèo”
của Ngân hàng Thế giới. Hạn chế đầu tiên là do tính chất tham gia của người
nghèo vào việc đánh giá đói nghèo, cách tiếp cận này không chỉ ra được cách
giải quyết khi có sự khác nhau trong cách nhìn nhận của những đối tượng
khác nhau: phụ nữ và nam giới, những người theo trường phái truyền thống
gồm 2 loại : ngưỡng nghèo LTTP (được xác định bằng số tiền cần có để mua
được một rổ LTTP thiết yếu hàng ngày) và ngưỡng nghèo chung (có tính đến
số tiền chi tiêu cho cả các sản phẩm phi lương thực khác). Ngưỡng nghèo
LTTP thường chỉ được dùng phổ biến ở các nước đang phát triển và nhìn
chung là thường thấp hơn ngưỡng nghèo chung.
Ngân hàng thế giới World Bank (WB) đã đưa ra ngưỡng nghèo tuyệt đối
(được hiểu như là ngưỡng nghèo chung) quốc tế là 1$/ ngày cho các nước có
thu nhập thấp (GNP/người từ 755$/năm trở xuống, theo giá gốc năm 1999) và
cho các nước có thu nhập trung bình thấp (GNP/người từ 756 đến 2.995$/
năm, giá gốc năm 1999) là 2$/ngày. Tính theo ngang giá sức mua, ở Việt
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Nam, hai ngưỡng này tương đương 20 và 40 cent/ ngày.
Ở Việt Nam, Tổng cục thống kê (TCTK) đưa ra hai ngưỡng. Ngưỡng thứ
nhất, nghèo đói LTTP là tình trạng mức thu nhập không bảo đảm được nhu cầu
dinh dưỡng tối thiểu 2100 Kcal/người/ngày đêm. Ngưỡng thứ hai là nghèo đói
chung, coi LTTP ứng với 70% nhu cầu cơ bản tối thiểu, 30% là các nhu cầu khác.
Bảng 1.1: Ngưỡng nghèo của TCTK qua các năm
(đơn vị : VNĐ/người/năm)
Năm 1998 2002 2004
Nghèo đói LTTP 1.286.808 1.381.000 1.488.000
Nghèo đói chung 1.789.872 1.915.000 2.076.000
Nguồn: Tổng cục thống kê
Bên cạnh đó, ở Việt Nam còn có ngưỡng nghèo do Bộ LĐTBXH quy
định theo từng giai đoạn căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và mức giá cả ở từng khu
vực. Cụ thể:
- Giai đoạn 1996 – 2000:
+ Nông thôn miền núi, hải đảo: 55.000 đồng/người/tháng
+ Nông thôn đồng bằng: 70.000 đồng/ người/tháng
chế là không quan tâm đến mức độ đói nghèo (mức độ nằm dưới, cách xa
ngưỡng nghèo) do đó không biểu hiện được kết cấu đầy đủ của sự đói nghèo.
Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ đói nghèo thì sẽ khó có thể đưa ra được một
chính sách XĐGN sâu sát tới từng loại đối tượng thuộc diện này.
1.4.3. Khoảng nghèo:
Khoảng nghèo được tính bằng tổng mức thiếu hụt của tất cả những người
nghèo so với ngưỡng nghèo, hay được hiểu là chi phí để đưa tất cả những người
nằm dưới ngưỡng nghèo lên mức sống ngang bằng với ngưỡng nghèo. Nói
chung, thước đo này được sử dụng ít phổ biến hơn so với hai thước đo kể trên.
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
11
Chuyên đề tốt nghiệp
1.4.4. Chỉ số nghèo khổ con người:
Chỉ số nghèo khổ con người Human Poverty Index (HPI) là chỉ số đo
lường mức độ nghèo khổ của con người trên ba phương diện cơ bản: tuổi thọ,
hiểu biết và mức sống. Chỉ số này ở một quốc gia càng cao thì chứng tỏ tình
trạng đói nghèo của quốc gia đó càng nghiêm trọng. Liên Hợp Quốc sử dụng
HPI-1 cho các nước đang phát triển, HPI-2 cho các nước OECD.
Ở các nước đang phát triển, UNDP đưa ra công thức đo lường chỉ số này
như sau:
HPI
1
= [1/3(P
1
3
+ P
2
3
+ P
3
37 15.3 Philippines 105 54.9 Ethiopia
44 17.8 Sri Lanka 107 56.4 Mali
Nguồn:Tổng cục thống kê
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
12
Chuyên đề tốt nghiệp
2. Nguyên nhân của đói nghèo trên thế giới và ở Việt Nam
2.1. Giới thiệu một số nghiên cứu về nguyên nhân của đói nghèo trên
thế giới:
Một nhà nghiên cứu có tên là Phil Bartle cho rằng những nguyên nhân
lịch sử sâu xa của đói nghèo là chiến tranh, chủ nghĩa thực dân, chế độ nô lệ
và sự xâm lược. Còn ngày nay, có những yếu tố khác tạo ra sự tiếp tục tiếp
diễn của đói nghèo. Ông đã đưa ra mô hình “Năm yếu tố lớn” (The Big Five)
xác định năm nguyên nhân tạo nên đói nghèo như một vấn đề xã hội là: sự
thiếu hiểu biết, bệnh tật, sự lãnh đạm, tính không trung thực và tính lệ thuộc.
Hình 1.3: Mô hình “Năm yếu tố lớn” của Phil Bartle
Nguồn: WorldBank
Theo ông, sự thiếu hiểu biết ở đây không giống với sự ngu dốt mà bản
chất là vấn đề thiếu những thông tin cần thiết hữu ích cho người nghèo. Giáo
dục có thể là một giải pháp tốt nhưng cần chọn lọc kiến thức phù hợp để
giảng dạy, ví dụ như người nông dân cần biết loại cây trồng nào thích nghi
được với chất đất của địa phương. Bệnh tật làm giảm năng suất lao động và
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
Bệnh tật Sự lãnh đạm
Sự không trung thực Sự phụ thuộc
Đói nghèo
Sự thiếu hiểu biết
13
Chuyên đề tốt nghiệp
tổng sản lượng, và tạo ra ít sự thịnh vượng của quốc gia hơn. Ông cho rằng
đưa ra những nguyên nhân gây nên đói nghèo theo hướng liệt kê mà không
phân nhóm:
- Lịch sử bị cai trị và xâm lược
- Chiến tranh và xung đột vũ trang
- Chu trình sản xuất nông nghiệp
- Thảm họa tự nhiên và thiên tai
- Sự tập quyền
- Nạn tham nhũng
- Suy thoái môi trường
- Bất bình đẳng xã hội
Như vậy, có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới đói nghèo. Thực tế, những
nguyên nhân được nhắc tới trong các nghiên cứu nói trên còn có thể tiếp tục
được chia nhỏ chi tiết hơn nữa. Đối với đói nghèo ở Việt Nam có thể hợp
nhóm các nguyên nhân này vào ba nhóm nguyên nhân lớn. Ở đây, ta không
quan tâm tới những nguyên nhân mang tính lịch sử như chiến tranh, sự xâm
lược của nước ngoài mà chỉ quan tâm tới những gì có tác động đến đói nghèo
như một vấn đề xã hội hiện đại ngày nay.
2.2. Nguyên nhân đói nghèo ở Việt Nam
2.2.1. Nguyên nhân thuộc về điều kiện tự nhiên:
Đất nước ta được chia làm nhiều vùng miền có vị trí địa lý và địa hình
rất khác nhau. Ở những vùng có tính đặc thù như miền núi, vùng sâu vùng xa,
hải đảo, vị trí địa lý khá cách biệt các vùng khác, cộng thêm địa hình gập
ghềnh hiểm trở đã tạo khó khăn trong việc giao thông liên lạc với các khu vực
khác, tạo ra sự cô lập tương đối về mọi mặt đời sống. Nhiều nơi ở nước ta như
vùng núi phía bắc, các tỉnh miền trung: Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa…
thường xuyên phải gánh chịu hậu quả to lớn của các trận lũ lụt gây ra thiệt hại
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
15
Chuyên đề tốt nghiệp
to lớn về người và của, rơi vào tình trạng đói nghèo triền miên. Những vùng
giới. Trọng nam khinh nữ là quan niệm còn ăn sâu trong tiềm thức nhiều
người dân Việt Nam. Sinh nhiều con cũng do mong có được đứa con trai. Con
gái thường bị bắt nghỉ học sớm ở nhà giúp đỡ cha mẹ, vô hình trung gây lãng
phí nguồn chất xám lớn do cách nhìn thiển cận. Ở nhiều vùng núi có tục “thờ
chồng”, phụ nữ dù sức yếu vẫn phải làm lụng vất vả nuôi cả gia đình.
Cuối cùng, mặc dù thời gian gần đây Nhà nước đã có nhiều chính sách
XĐGN song ở nhiều nơi, nghèo vẫn hoàn nghèo. Đó là do tâm lý trì trệ,
trông chờ vào trợ cấp Nhà nước của bà con. Trong khi đó, trợ cấp thì có hạn.
Chừng nào chưa xóa bỏ được tâm lý ỷ lại này để tự lực vươn lên XĐGN thì
người nghèo chưa thể có được mức sống khá hơn một cách bền vững.
2.2.3. Nguyên nhân về phía cơ chế chính sách của Việt Nam:
Đây là những nguyên nhân ở tầm vĩ mô gây tác hại duy trì tình trạng đói
nghèo, có sự tương đồng với “Generic theory” của Maxwell School, Syracuse
University. Trong những năm qua, Nhà nước ta đã tích cực thực hiện nhiều
chương trình dự án nhằm XĐGN, song hiệu quả đạt được chưa như mong
muốn và số hộ nghèo vẫn không giảm, vẫn còn tình trạng tái nghèo. Nguyên
nhân là do các biện pháp chính sách XĐGN được thực hiện còn thiếu tính đồng
bộ, nội dung chưa sát với thực tiễn địa phương, vì vậy khiến cho việc thực hiện
còn nặng về hình thức, chỉ giải quyết phần “ngọn” của vấn đề gây lãng phí
nguồn lực đầu tư vô ích. Tình trạng này sẽ được xem xét kỹ hơn ở mục II.3.2.
3. Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
3.1. Những tác hại mà đói nghèo gây ra:
Đối với bản thân người nghèo, hậu quả của đói nghèo có thể được nhìn
thấy hết sức rõ ràng. Vì “đói” mà thiếu ăn thường xuyên, vì “nghèo” mà các
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
17
Chuyên đề tốt nghiệp
nhu cầu sống bị hạn chế ở mức thấp. Cuộc sống thiếu thốn, nhà cửa tạm bợ,
đồ dùng chỉ đủ ở mức thiết yếu nhất. Tình trạng ốm đau bệnh tật, trẻ em suy
dinh dưỡng xảy ra ở nhiều nơi. Không đủ ăn, mặc, ở, việc học hành bị coi nhẹ
Hồ Chí Minh từng nói: “Mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng”, nhưng
sự khác nhau về điều kiện kinh tế, xã hội, môi trường bên ngoài ảnh hưởng
đến cuộc sống đã không cho con người có sự bình đẳng về mức sống. Trên
thực tế, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập bắt nguồn từ hai nhóm
nguyên nhân chính là từ việc sở hữu các nguồn lực (các nguồn lực này có
được là do được thừa kế tài sản, do hành vi tiêu dùng và tiết kiệm hoặc do sản
xuất kinh doanh) và từ lao động (do khác nhau về khả năng và kĩ năng lao
động, do khác nhau về cường độ làm việc, về nghề nghiệp và tính chất công
việc, do bị phân biệt đối xử…). Người nghèo không có điều kiện, và nhiều
khi không thể tự tác động lên các nguyên nhân đó để tự thay đổi cuộc sống
cho mình. Mức sống thấp lại mang đến các hệ quả cho người nghèo là thiếu
thốn về hưởng thụ các dịch vụ xã hội, dễ bị tổn thương và yếu thế (như định
nghĩa về đói nghèo của Ngân hàng Thế giới đã đề cập) làm cho sự chênh lệch
về chất lượng cuộc sống của người giàu và người nghèo càng thêm đậm nét.
Nhà nước ta là Nhà nước do dân, của dân và vì dân có chức năng quan
trọng là phân phối lại thu nhập để khắc phục tình trạng bất bình đẳng này, thu
hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo công bằng xã hội.
3.3. Ý nghĩa của XĐGN đối với sự phát triển chung của toàn xã hội:
Các Mác đã nói: “ Gia đình là tế bào của xã hội”, mỗi con người lại là
một tế bào của gia đình. Một nền kinh tế dù phát triển đến mấy song vẫn để
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
19
Chuyên đề tốt nghiệp
cho một bộ phận dân cư phải chịu cảnh sống thiếu thốn thì không thể là một
sự tăng trưởng bền vững. Những khu vực nghèo đói ít nhiều kìm hãm sự phát
triển chung vì nó gây ra lãng phí nguồn lực cho phát triển kinh tế như nguồn
nhân lực, đất đai và các tài nguyên thiên nhiên khác. Vì vậy, thực hiện XĐGN
đồng nghĩa với quá trình giải phóng sức sản xuất, nâng cao hiệu quả và tiềm
năng kinh tế của đất nước. Một khi người nghèo được hưởng cuộc sống sung
túc, đã có sự tương đồng về trình độ phát triển giữa các khu vực thì sẽ tạo ra
nghiệp lâu năm (cây hồi, cây quế...), thay thế cho rừng tự nhiên. Họ sống trên
những nếp nhà sàn, mặc quần, váy, áo màu chàm với nhiều mô típ hoa văn
mô phỏng hoa rừng, thú rừng. Đồng bào có tục uống rượu cần thể hiện tình
SV: Nguyễn Ngọc Cường Lớp: KTPT K47A_QN
21