VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ THỊ GIANG
VIỆC LÀM CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HÀ THỊ GIANG
VIỆC LÀM CỦA ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ
TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
TẠI TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Phát triển bền vững
Mã số: Thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. LÊ ANH VŨ
thiểu số ở tỉnh Sơn La tiếp cận từ góc độ phát triển bền vững ................. 35
Chương 3. GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CỦA ĐỒNG BÀO
DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG Ở TỈNH
SƠN LA ĐẾN NĂM 2020 ............................................................................. 56
3.1. Bối cảnh quốc tế và trong nước ........................................................ 56
3.2. Quan điểm, phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc
làm cho đồng bào DTTS của tỉnh Sơn La ................................................ 57
3.3. Những giải pháp cơ bản nhằm giải quyết việc làm bền vững cho đồng
bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Sơn La ........................................................... 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DTTS
: Dân tộc thiểu số
UBND
: Ủy ban nhân dân
HĐND
: Hội đồng nhân dân
CNH, HĐH
: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nước, đặc biệt là tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Trong những
năm qua, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của Việt Nam đạt trên
7%/năm, thu nhập bình quân đầu người tăng cao; chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng tích cực, tỷ lệ nghèo giảm mạnh, đời sống dân cư được cải thiện
đáng kể…Bên cạnh những thành tựu nổi bật vẫn còn nhiều bất cập, yếu kém
như: xóa đói giảm nghèo chưa vững chắc, nguy cơ tái nghèo cao, chênh lệch
về thu nhập và mức sống đang có xu hướng tăng lên; chưa đáp ứng được nhu
cầu về việc làm… Thực tế cho thấy, hiện nay nước ta đang thiếu lượng lớn
lao động có tay nghề nhưng lại thừa lao động giản đơn, đặc biệt là lao động ở
khu vực nông nghiệp, nông thôn. Bất cập này cũng là một trong nhiều nguyên
nhân làm nảy sinh bất ổn về chính trị- xã hội, vì vậy, giải quyết việc làm đang
là một vấn đề cấp bách đối với nước ta.
Sơn La là tỉnh miền núi ở phía Tây Bắc của Tổ quốc với tổng diện tích
tự nhiên đứng thứ 3 cả nước, có nhiều tiềm năng và thế mạnh về các ngành
nông- lâm nghiệp, có trữ lượng khoáng sản lớn và đặc biệt là thế mạnh khai
thác thủy điện; có đường biên giới với nước bạn Lào nên thuận lợi cho việc
giao thương buôn bán….Tuy nhiên, đây vẫn là một tỉnh đặc biệt khó khăn về
nhiều mặt: kinh tế phát triển chậm, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội thấp
1
kém,chưa phát triển về công nghiệp và dịch vụ, hầu hết lao động chưa qua
đào tạo vì vậy tỉ lệ thất nghiệp còn cao, mức thu nhập bình quân đầu người và
mức sống của người dân còn thấp. Sơn La hiện có 14 dân tộc cùng sinh sống
như: Thái, Kinh, H’mông, Mường, Dao, Lào…… Đa số các dân tộc cư trú ở
vùng núi cao, biên giới, vùng sâu, vùng xa - là những vùng kinh tế - xã hội
đặc biệt khó khăn,vì vậy mức thu nhập và mức sống còn rất thấp, tỷ lệ đói
nghèo hàng năm vẫn cao, điều đó đã tạo sự chênh lệch lớn giữa các vùng
trong tỉnh và cả nước.
“sức khỏe”, trình độ phát triển của mọi nền kinh tế. Không những thế, việc
làm vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của chính sách kinh tế, xã hội. Nét
riêng của các tác giả qua công trình nghiên cứu đã thể hiện tương đối rõ nét:
John Maynard Keynes (1884-1946) với tác phẩm nổi tiếng “Lý luận
chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ”, Nhà xuất bản giáo dục, Hà Nội, 1994.
Nghiên cứu đã xem việc làm trong mối quan hệ chặt chẽ với sản lượng - thu
nhập - tiêu dùng - đầu tư - tiết kiệm. Ví trí trung tâm trong lý thuyết của ông
là việc làm. J.M.Keynes cho rằng, tình trạng việc làm được xác định trong
mối quan hệ giữa tác động các yếu tố thị trường lao động, sự vận động của
thất nghiệp, tình trạng sản xuất, khối lượng sản phẩm, quy mô thu nhập. Lý
thuyết về việc làm của J.M Keynes được xây dựng dựa trên các giả định đúng
với điều kiện của các nước phát triển, nhưng không hoàn toàn phù hợp với các
nước đang phát triển. Bởi vì hầu hết các nước nghèo, nguyên nhân khó khăn cơ
bản để gia tăng sản lượng, tạo việc làm không phải do tổng cầu không đủ cao. Ở
các nước đang phát triển, khi tổng cầu tăng sẽ kéo theo tăng giá cả, dẫn đến lạm
phát. Vì thế, biện pháp tăng tổng cầu để tăng quy mô sản xuất, tạo việc làm
không đúng với mọi quốc gia, trong mọi thời kỳ. Mặt khác, nếu tạo việc làm cho
khu vực thành thị và một số trung tâm công nghiệp bằng cách tăng tổng cầu sẽ
tạo ra làn sóng di dân từ nông thôn ra thành thị và tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị gia
tăng. Điều này có thể làm suy giảm việc làm và sản lượng quốc dân của cả nước.
3
Trong cuốn “Tăng trưởng kinh tế ở châu Á gió mùa’’, Harry Toshima nhà kinh tế học Nhật Bản đã nghiên cứu mối quan hệ giữa hai khu vực nông
nghiệp và công nghiệp dựa trên những đặc điểm khác biệt của các nước đang
phát triển Châu Á. Đó là nền nông nghiệp lúa nước có tính thời vụ cao. Nền
nông nghiệp lúa nước vẫn thiếu lao động lúc đỉnh cao của thời vụ và chỉ dư
thừa lao động trong thời kỳ nông nhàn. Vì vậy, ông cho rằng cần giữ lại lao
động nông nghiệp và chỉ tạo thêm việc làm trong những tháng nông nhàn
quan điểm, phương hướng phát triển, phân bổ và sử dụng nguồn lực con
người ở nước ta. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những chính sách và giải pháp
nhằm phát triển, phân bổ hợp lý và sử dụng có hiệu quả nguồn lực con người
trong phát triển kinh tế ở nước ta tới năm 2010.
Trần Văn Chử (2006) trong công trình “Các giải pháp tăng cường quản
lý của Nhà nước đối với thị trường lao động ở nước ta” đã đưa ra các giải
pháp sau: Nhóm các giải pháp tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối
với tạo cung về lao động; Nhóm giải pháp nhằm tăng cường vai trò quản lý
của Nhà nước về mở rộng cầu về lao động. Nhóm giải pháp tăng cường quản
lý Nhà nước về tổ chức và quản lý thị trường sức lao động. Nhóm giải pháp
về tăng cường vai trò của Nhà nước nhằm bảo vệ lợi ích người lao động [6,
tr.37-39].
Tô Ánh Dương (2012) “Thị trường lao động Việt Nam: Thực trạng và
giải pháp phát triển” đã đưa ra các giải pháp: Phát triển thị trường lao động
Việt Nam (hoàn thiện thể chế thị trường lao động; phát triển cung lao động;
phát triển cầu lao động; Hỗ trợ phát triển thị trường lao động; cải cách chính
sách tiền lương, tiền công và phát triển hệ thống an sinh xã hội);
Ngoài ra, trên nhiều tạp chí có đăng nhiều bài viết đề cập đến vấn đề
việc làm nhưng nhìn chung chủ yếu đề cập đến giải quyết việc làm cho người
lao động trên cả nước với nhiều cách tiếp cận khác nhau.
5
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, luận
văn làm rõ thực trạng việc làm của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Sơn La, chỉ
ra những vấn đề hạn chế, tồn tại; nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại. Từ
đó, khuyến nghị được những giải pháp giải quyết việc làm cho đồng bào dân
tộc thiểu số trong quá trình phát triển bền vững tỉnh Sơn La.
Phương pháp sử dụng số liệu thứ cấp: gồm tư liệu, tài liệu, số liệu
thống kê đã có, các công trình nghiên cứu đã công bố, sách, tài liệu, số liệu
thống kê của tỉnh Sơn La theo nội dung, yêu cầu cần tìm hiểu, sắp xếp theo
từng đề mục, so sánh, đối chiếu các tài liệu và chọn lọc, xử lý.
Phương pháp xử lý số liệu: sử dụng phần mềm Excel để xử lý số liệu.
Phương pháp thống kê: thực hiện tổng hợp, thống kê phân tích hệ thống
và kế thừa các tài liệu, dữ liệu, số liệu đã có từ các nguồn dữ liệu có liên quan.
Phương pháp thống kê so sánh: được sử dụng chủ yếu để mô tả, phân tích
và so sánh kết quả.
Phương pháp thừa kế có chọn lọc: tham khảo các tài liệu, thông tin cần
thiết có liên quan từ những công trình nghiên cứu trước đây.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận:
Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về việc làm của một
nhóm dân cư đặc thù ở nước ta là đồng bào dân tộc thiểu số trong chiến lược
phát triển bền vững. Giải quyết việc làm cho đồng bào dân tộc thiểu số không
chỉ đơn thuần là giải quyết về vấn đề kinh tế, mà sâu xa hơn, giải quyết việc
làm cũng chính là giải quyết được các vấn đề xã hội, thực hiện bình đẳng xã
hội, tăng thu nhập cho người dân, làm giảm sự chênh lệch giữa các tầng lớp
trong xã hội, giải quyết mối quan hệ của người nghèo trong mối quan hệ kinh
tế- xã hội - con người trong phát triển bền vững.
7
Ý nghĩa thực tiễn:
Thực tiễn tại Sơn La có thể là kinh nghiệm về giải quyết việc làm cho
các địa phương trong quá trình phát triển bền vững. Luận văn có thể la tài liệu
tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách ở địa phương và học sinh, sinh
viên... Các giải pháp đề xuất của luận văn có ý nghĩa gợi mở cho việc giải
bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận,
quan trọng là người làm việc trong thành phân kinh tế xã hội chủ nghĩa (quốc
doanh, tập thể). Theo cơ chế đó, xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành
phần kinh tế khác và cũng không thừa nhận thiếu việc làm, thất nghiệp.Ngày
nay các quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học
hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm. Điều 13, chương II Bộ Luật lao động Nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu
nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
Nhận thức mới hiện nay đã tạo ra những khả năng to lớn giải phóng sức
9
lao động, giải quyết việc làm cho nhiều thành phần trong xã hội. Như vậy,
theo quan niệm trên, việc làm là làm các công việc để nhận tiền công, tiền
lương hoặc hiện vật cho công việc đó; Làm những công việc tự làm mang lại
lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng, kể cả
những công việc không được trả công bằng hiện vật. Theo đó, một hoạt động
được coi là việc làm cần thoả mãn hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có
ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình.
Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp
luật cấm. Điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm. Hai điều kiện trên có
quan hệ chặt chẽ với nhau, là điều kiện cần và đủ của một hoạt động được
thừa nhận là việc làm, quan niệm đó đã góp phần mở rộng quan niệm về việc
làm, tạo điều kiện cho người lao động được tự do hành nghề, tự do kinh
doanh, liên kết để tạo việc làm và tự do thuê mướn lao động theo pháp luật
của Nhà nước, tự tạo ra việc làm cho mình và thu hút lao động xã hội theo
quan hệ cung - cầu về lao động trên thị trường, mặt khác người lao động khi
thực hiện hành vi việc làm cũng phải giới hạn hoạt động theo những chế định
tham khảo hoặc là nhũng người làm việc dưới giờ chuẩn quy định cho người
đủ việc làm, nhưng không có nhu cầu làm thêm. Mức chuẩn: Làm việc 40 giờ
trở lên trong tuần lễ tham khảo.
Thất nghiệp: Đối lập với việc làm, thất nghiệp là một tình trạng có tính
quy luật của các nền kinh tế thị trường. Có nhiều khái niệm khác nhau về thất
nghiệp. Theo quan niệm của ILO: "Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số
người trong lực lượng lao động muốn làm việc, nhưng không thể tìm được
việc làm ở mức tiền công đang thịnh hành".
Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động. Dân số biến động có
tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến quy mô, cơ cấu cũng như sự phân bố
theo không gian của dân số trong độ tuổi lao động. Dân số trong độ tuổi lao
động là những người ở trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật
11
nước đó. Hiện nay ở nước ta, Bộ Luật Lao động quy định độ tuổi lao động là
những người đủ 15 tuổi đến 60 tuổi (đối với nam) và đủ 15 tuổi đến 55 tuổi
(đối với nữ).
Nguồn lao động và lực lượng lao động là khái niệm có ý nghĩa quan
trọng làm cơ sở cho việc tính toán cân đối lao động, việc làm trong xã hội.
Nguồn lao động: Theo giáo trình Kinh tế phát triển của trường Đại học
Kinh tế quốc dân (2005), “Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao
động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động, có nguyện vọng tham
gia lao động và những người ngoài độ tuối lao động (trên độ tuổi lao động)
đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân”. Việc quy định độ tuổi lao
động tuỳ mỗi nước có quy định khác nhau, thậm chí khác nhau ở các giai
đoạn của mỗi nước. Điều đó tuỳ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế. ở nước
ta, theo quy định của Bộ Luật lao động (2002) độ tuổi lao động đối với nam
từ 15-60 tuổi và nữ là từ 15-55 tuổi. Nguồn lao động luôn được xem xét trên
để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình, góp phần vào dựng xây quê
hương đất nước.
Người được giải quyết việc làm: là những người trong độ tuổi lao động
mà trong 12 tháng qua kể từ thời điểm điều tra đã ký được hợp đồng lao động
theo Bộ luật Lao động và những người tự tạo việc làm. Giải quyết việc làm là
môt trong những vấn đề quan trọng cần phải giải quyết của mỗi quốc gia.
Chính sách việc làm: là một hệ thống các chính sách chung có quan hệ
và tác động đến việc mở rộng và phát triển việc làm cho lực lượng lao động
của toàn xã hội, như các chính sách: Khuyến khích phát triển các lĩnh vực,
những ngành nghề có khả năng thu hút nhiều lao động; chính sách tạo việc
làm cho những đối tượng đặc biệt người tàn tật, đối tượng tệ nạn xã hội,
người hồi hương; chính sách hợp tác và xuất khẩu lao động đi nước ngoài...
Chính sách việc làm tác động đến một vấn đề nhạy cảm, vừa có ý nghĩa về
mặt kinh tế, vừa có ý nghĩa về mặt chính trị và xã hội. Việc hoạch định và
13
thực hiện không tốt chính sách việc làm sẽ dẫn đến những hậu quả, những
thiệt hại trực tiếp cả về kinh tế và cả về chính trị, xã hội cho đất nước.
1.1.2. Khái niệm Phát triển bền vững
Trên nhiều diễn đàn và văn kiện của cộng đồng quốc tế cũng như trong
các chính sách, chương trình hành động của các quốc gia, vấn đề phát triển
bền vững đang nổi lên như một trong những mối quan tâm hàng đầu của toàn
nhân loại. Ở Việt Nam, phát triển bền vững là một trong những nội dung cơ
bản để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, đồng thời cũng là mục
tiêu quan trọng hàng đầu mà nền kinh tế hướng tới.Trên bình diện toàn thế
giới hay tại mỗi khu vực và ở mỗi quốc gia xuất hiện biết bao vấn đề bức xúc
lại mang tính phổ biến. Kinh tế càng tăng trưởng thì tình trạng khan hiếm các
loại nguyên liệu, năng lượng do sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên không tái
xã hội, bao gồm: thu nhập bình quân đầu người; trình độ dân trí, giáo dục, sức
khỏe, tuổi thọ, mức hưởng thụ về văn hóa, văn minh; Thứ ba, bền vững về
sinh thái môi trường là khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên,
bảo vệ môi trường và cải thiện chất lượng môi trường sống.
Cho tới nay, quan niệm về phát triển bền vững trên bình diện quốc tế có
được sự thống nhất chung và mục tiêu để thực hiện phát triển bền vững trở
thành mục tiêu thiên niên kỷ. Ở Việt Nam, chủ đề phát triển bền vững cũng đã
được chú ý nhiều trong giới nghiên cứu cũng như những nhà hoạch định
đường lối, chính sách. Quan niệm về phát triển bền vững thường được tiếp
cận theo hai khía cạnh: Một là, phát triển bền vững là phát triển trong mối
quan hệ duy trì những giá trị môi trường sống, coi giá trị môi trường sinh thái
là một trong những yếu tố cấu thành những giá trị cao nhất cần đạt tới của sự
phát triển. Hai là, phát triển bền vững là sự phát triển dài hạn, cho hôm nay và
cho mai sau; phát triển hôm nay không làm ảnh hưởng tới mai sau.Đây là
định nghĩa có tính tổng quát, nêu bật những yêu cầu và mục tiêu trọng yếu
nhất của phát triển bền vững, phù hợp với điều kiện và tình hình ở Việt Nam.
15
Quan niệm về việc làm bền vững:
Việc làm có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với mỗi con người. Khủng
hoảng tài chính toàn cầu kéo theo các hệ lụy là lạm phát tăng cao, thất nghiệp
tràn lan ảnh hướng tới mọi mặt trong xã hội. Việt Nam là một nước nông
nghiệp với tỷ lệ lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức lớn, không ổn
định. Hơn lúc nào hết, việc làm bền vững đang là vấn đề cấp bách và thiết
thực. Đặc điểm cơ bản của việc làm là luôn luôn thay đổi và đổi mới về hình
thức bên ngoài và đặc điểm bên trong nhưng ý nghĩa của việc làm trong đời
sống con người không thay đổi. Dù ở nền văn hóa nào và ở trình độ đến đâu
chăng nữa thì con người luôn có nhu cầu về việc làm. Người lao động luôn
nghĩa quan trọng trong việc hướng tới đạt được sự công bằng trong lao động.
Chiến lược hành động của ILO là thông qua các chương trình cụ thể để phát
triển việc làm bền vững với tiêu chí là định hướng cho các chính sách kinh tế
- xã hội của các nước dựa trên sự hợp tác giữa các cơ quan quản lý và sự tham
gia của nhiều phía trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu. Như vậy, trong
phát triển bền vững, việc làm bền vững là việc làm có hiệu quả với các biểu
hiện cụ thể như sau:
- Làm việc với đầy đủ quyền con người với đúng trình độ cá nhân.
- Làm việc với các điều kiện chấp nhận được, bình đẳng, có cơ hội phát
triển và hoàn thiện các kỹ năng cá nhân.
- Làm việc có bảo trợ xã hội, an toàn tại nơi làm việc hướng tới chăm
sóc sức khỏe và phòng ngừa các rủi ro
- Làm việc có đối thoại xã hội thông qua tự do hiệp hội, tự do phát
ngôn, được tham gia đối thoại cởi mở giữa chính phủ, người sử dụng lao
động và công nhân. Được tham gia xây dựng các chính sách, chiến lược.
Theo tài liệu hội thảo năm 2008 về “Chương trình mục tiêu Quốc gia
về việc làm và Chiến lược phát triển việc làm ở Việt Nam trong bối cảnh hội
nhập” đã chỉ ra các khía cạnh để nhận biết việc làm bền vững là: Cơ hội việc
17
làm, làm việc trong điều kiện tự do, việc làm năng suất, bình đẳng trong công
việc, an toàn tại nơi làm việc, bảo đảm nhân phẩm tại nơi làm việc. Tuyên bố
của ILO ở Philadelphia đưa ra thì nghĩa vụ của ILO bao gồm việc mở rộng
chương trình “Decent works” để đạt mục đích “Việc làm của người lao động
như là nghề nghiệp mà nó có thể mang lại”. Tuyên bố này khẳng định “quyền
của mỗi con người trong điều kiện tự do, nhân phẩm, an toàn kinh tế và công
bằng các cơ hội”. Đây chính là nền móng của việc làm bền vững.
1.1.3. Khái niệm Dân tộc thiểu số
sản Việt Nam, đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta ngày càng phát huy vai
trò to lớn của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Trong lịch sử, các DTTS luôn là lực lượng che chắn, là "phên giậu",
thường xuyên phải chống lại những âm mưu, thủ đoạn xâm phạm bờ cõi của
kẻ thù. Ngày nay, sự vững mạnh về an ninh, quốc phòng ở vùng đồng bào dân
tộc thiểu số có ý nghĩa quan trọng đến thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan và
khách quan, đời sống của đồng bào DTTS ở nước ta nhìn chung vẫn còn
nhiều khó khăn, mặt bằng dân trí thấp, còn có khoảng cách đáng kể so với dân
tộc đa số, giữa miền xuôi và miền ngược. Việc thể chế quyền của DTTS bằng
pháp luật cũng như cơ chế thực hiện quyền của DTTS còn không ít bất cập.
Hiện nay, vùng DTTS vẫn là những vùng nghèo, lạc hậu nhất nước, tình hình
an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội diễn biến phức tạp. Chính vì vậy, vấn
đề cần phải giải quyết trước mắt đó là việc làm. Đây cũng là vấn đề vừa mang
tính cấp bách, vừa có tính lâu dài trong quá trình phát triển.
1.2. Vai trò, ý nghĩa của việc làm và giải quyết việc làm cho đồng
bào dân tộc thiểu số
1.2.1. Vai trò của việc làm và giải quyết việc làm cho đồng bào DTTS
Giải quyết việc làm cho người lao động có ý nghĩa quan trọng trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Bởi vì, con người vừa là mục tiêu, vừa là
19