Đất làm nương rãy luân canh của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi
Vũ Long
Nguyên phó Viện trưởng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
1. Phần lớn miền núi nước ta có địa hình đồi núi cao và dốc, trừ một số ít vùng ở
Tây Nguyên và Đông Nambộ. Diện tích đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đặc
biệt là ruộng lúa, màu chiếm tỉ lệ thấp: ở miền núi và trung du Bắc bộ là 13,8% so
với diện tích tự nhiên, trong đó đất lúa, màu chỉ có 5,8%( tỷ lệ của toàn quốc là:
28.38% và 12,96%)*.Vì vậy, vấn đề sản xuất và đảm đảo an ninh lương thực cho
miền núi vẫn đang đặt ra bức thiết. Mối quan tâm hàng đầu của nông dân miền núi
là sản xuất đủ lương thực cho gia đình. Trừ một vài vùng đã chuyển sang trồng,
kinh doanh cây công nghiệp như chè, cà phê, phần lớn kinh tế nôn thôn miền núi
vẫn là tự cấp, tự túc.
Do diện tích đất trồng lúa màu ít nên dân phải sử dụng đất đồi núi dốc để sản xuất
lương thực. Phần diện tích nương rãy cố định và cây hàng năm khác là 555.963 ha,
xấp xỉ với diện tích lúa, màu*. Ngoài ra, dân vẫn phải tiếp tục sản xuất lương thực
trên nương rãy luân canh, du canh, nhất là ở vùng sâu, vùng xa. Đến nay, diện vận
động định canh định cư còn hơn 1 triệu người, tập trung nhiều ở miền núi phía
Bắc. Làm nương rãy (luâncanh, du canh) là một kiểu canh tác lâu đời của đồng
bào dân tộc miền núi. Trước đây, trong một thời kỳ dài kiểu sử dụng đất này là có
hiệu quả và bền vững, nhưng với điều kiện mật độ dân số rất thưa. Khi dân số tăng
nhanh, cân bằng giữa qũy đất rừng và con người bị phá vỡ thì nền sản xuất không
còn bền vững, làm nương rãy trở thành nguyên nhân chính gây ra nạn mất rừng.
Công tác định canh định cư đã được tiến hành gần 40 năm. Nhiều lần Chính phủ
chủ trương chấm dứt nạn phá rừng làm nương rẫy. ở một số nơi đã có kết quả rất
tốt . Nhờ kết quả nổi bật về sản xuất lương thực trong 10 năm đổi mới của cả
nước, sức ép lương thực ở miền núi bớt căng thẳng, nên nạn phá rừng làm nương
rãy đã giảm nhiều, nhưng vẫn tồn tại vì chính cuộc sống của đồng bào. Theo kết
quả cuộc điều tra của chúng tôi về tình hình sử dụng đất lâm nghiệp của gần 600
hộ gia đình ở 24 xã (3 xã vùng I, 15 xã vùng II, và 6 xã vùng III), thuộc 9 huyện
của các tỉnh Hoà Bình, Lạng Sơn, Yên Bái, cho thấy: - Nương rãy sản xuất lương
đất nương rãy đó đều nằm trên đất trống đồi trọc, phần lớn đã xác định vào quy
hoạch đất lâm nghiệp (16,4-19 triệu ha). Theo Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày
16/11/1999 của Chính phủ về giao đất lâm nghiệp thì đất được giao cho hộ gia
đình, cá nhân là: (i) Đất lâm nghiệp quy hoạch để xây dựng và phát triển rừng
phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu, phân tán không đủ điều kiện thành lập Ban quản
lý rừng phòng hộ, (ii) Đất lâm nghiệp quy hoach để xây dựng và phát triển rừng
sản xuất (điều8 và 9); (iii) Đất lâm nghiệp giao cho hộ gia đình với mục đích chủ
yếu là để xây dựng và phát triển rừng phòng hộ và sản xuất kinh doanh cây rừng,
các loại lâm sản khác (điều 3, khoản 2 &3). Đối với đất chưa có rừng được sử
dụng sản xuất nông lâm kết hợp, nhưng chỉ giới hạn để trồng cây nông nghiệp lâu
năm có tác dụng phòng hộ môi trường bền vững (điều 15). Như vậy, đất nương rãy
luân canh cũng nằm ngoài mục đích sử dụng đất lâm nghiệp. Khi tiến hành giao
đất lâm nghiệp, kiểm lâm không giao đất nương rãy cho hộ gia đình, nhưng với
mục đích bảo vệ rừng, đã quy vùng làm nương rãy cho các thôn bản, có thể hiểu
đất đó là vô chủ, tự do làm nương rãy.
- Theo ngành địa chính, ngoài đất nông nghiệp, đất nông nghiệp có rừng, đất ở và
đất chuyên dụng, còn lại là đất chưa sử dụng. Theo số liệu thống kê, đất chưa sử
dụng còn 10 triệu ha, chiếm 30,4% diện tích tự nhiên toàn quốc, trong đó đất đồi
núi chưa sử dụng là 7,6 triệu ha chiếm 23,37%. Đất chưa sử dụng cũng là đất chưa
giao, cho thuê (chưa có chủ). Nhưng trong thực tế lại không phải như vậy. Đất làm
nương rãy luân canh, du canh của đồng bào miền núi đều nằm ở loại đất này. Đất
nương rãy (đất đang canh tác và bỏ hoá) đều đã có chủ, đó là: Hộ gia đình, họ tộc,
cộng đồng làng bản. Quyền làm chủ này được xác lập theo luật tục, được các
thành viên trong làng bản, cộng đồng lân cận thừa nhận, tôn trọng. Chính vì tình
trạng này mà ở không ít địa phương, theo số liệu thống kê đất chưa sử dụng còn
rất nhiều, nhưng khi lập quy hoạch đất trồng rừng, cây công nghiệp, giao đất cho
liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, ở thực địa lại không có, hoặc không đủ diện
tích, vấp phải tranh chấp với dân địa phương. Ngay cả dân di cư tự do vào Tây
Nguyên, Đông Nambộ cũng không phải được tự do khai phá đất hoang, nhiều
người phải “ mua” lại đất của dân địa phương.
bỏ nương rãy.
Giao đất làm nương rãy cho hộ gia đình cũng tạo điều kiện để kiểm soát, ngăn
chặn tình trạng phá rừng bừa bãi, cộng đồng làng bản có thể giám sát lẫn nhau.
Làm nương rãy là tập quán lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, đến
nay vẫn tồn tại trong những điều kiện nhất định cần phải thừa nhận. Nhà nước cần
bổ sung chính sách giao đất cho hộ gia đình và cá nhân.
Tài liệu tham khảo
Tổng cục địa chính, 11- 2000. Hiện trạng và vấn đề quản lý đất lâm nghiệp có
rừng & chưa sử dụng với việc trồng mới 5 triệu ha rừng.
Vũ Long, Hội KHKT Lâm nghiệp - 2000. Điều tra đánh giá thực trạng sử dụng đất
lâm nghiệp của hộ gia đình ở miền núi Bắc bộ.
Bộ Nông nghiệp và PTNT (Dự thảo). Dự án ổn định và phát triển nông lâm nghiệp
thuộc chương trình 135 thời kỳ 2001-2005.
otational slash-and-burn cultivation land of the ethnic minority people.
Summary: In moutainous regions as permanent agricultural land for food crops is
insufficient, the ethnic minority people still have to use hilly areas for food
production aimed at self-sufficiency by slash-and-burn, rotational cultivation.
These areas amount to millions of hectares. The policy on agricultural and forest
land allocation to households does not include slash-and-burn cultivation land
(The forest protection agency has just only finished the planning of this type of
land). To ensure the right of the ethnic minority people in the moutainous regions
to have land for production, the policy on land allocation to households must
besupplemented. Land for slash-and-burn, rotational cultivation must be classified
as forest land.