Nghiên cứu khoa học " Về quyền sử dụng đất làm nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi " - Pdf 14

Về quyền sử dụng đất làm nương rẫy của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi
Vũ Long
Nguyên cán bộ Viện KHLN Việt Nam

1. Thực trạng sử dụng đất làm nương rẫy
Sau 10 năm đổi mới, nền nông nghiệp nước ta đã đạt được thành tựu to lớn về sản
xuất lương thực: sản lượng lương thực toàn quốc đạt trên 35 triệu tấn, xuất khẩu
gạo trên 4 triệu tấn/ năm. ở nhiều vùng an ninh lương thực đã được đảm bảo. Tuy
nhiên, ở miền núi, vùng cao mối quan tâm hàng đầu của người dân vẫn là sản xuất
đủ lương thực (khoảng 300kg/ người/ năm), chỉ trừ một số ít vùng đã chuyển đổi
sang chuyên canh sản xuất cây công nghiệp tập trung như cao su, cà phê, chè và có
điều kiện trao đổi hàng hoá. Nguyên nhân chính là điều kiện sản xuất lương thực
của miền núi, vùng cao rất khó khăn: địa hình đồi núi, đất dốc là chính, ruộng và
đất màu rất ít. Các vùng miền núi và trung du Bắc bộ, Bắc Trung bộ, Duyên hải
miền Trung và Tây Nguyên có diện tích chiếm 80% diện tích tự nhiên toàn quốc,
nhưng đất nông nghiệp chỉ chiếm gần 45% đất nông nghiệp toàn quốc (4,2 triệu
ha), trong đó đất lúa và màu chỉ chiếm 44,58% (1,9 triệu ha). Khả năng khai hoang
mở rộng đất sản xuất lương thực rất hạn chế: ở miền núi diện tích đất bằng chưa
sử dụng ít, chỉ có 589.000 ha, chiếm 6,35% tổng diện tính đất chưa sử dụng; diện
tích nương cố định cũng không nhiều (635.127 ha). Do đó, đồng bào miền núi
vùng cao phải sử dụng nhiều đất dốc vào canh tác nông nghiệp, với hình thức
thích hợp nhất là canh tác nương rẫy luân canh hoặc du canh, để bảo đảm thêm
phần lương thực. ởvùng cao (nhất là Tây Bắc), người dân làm nương rẫy là phổ
biến để tạo nguồn lương thực chính cho họ. Tổng diện tích đất canh tác lương thực
của 1.878 xã thuộc chương trình 135 là 1,3 triệu ha, thì chỉ có 0,6 triệu ha ruộng và
nương cố định, còn 0,7 triệu ha (53,8%) là nương rẫy. Một số vùng ở miền núi
phía Bắc hầu như không có ruộng, hoàn toàn phải làm nương rẫy luân canh, du
canh. Đến nay (2001) đối tượng vận động định canh định cư còn khá lớn và rộng:
1.553.411 nhân khẩu (257.696 hộ,1.477 xã, 222 huyện), tập trung ở miền núi phía
bắc là chính (53,35% nhân khẩu).(*2)
Cho đến nay chưa có số liệu thống kê Nhà nước về diện tích đất đồi núi được sử

nghiệp chưa có rừng (?) .
2. Đã là nông dân thì ai cũng muốn có ruộng đất để canh tác
Canh tác nương rẫy luân canh đã xuất hiện từ lâu đời ở miền núi, vùng cao của
nhiều nước trên thế giới và vẫn còn tồn tại đến ngày nay, nó đã từng được coi là
một phương thức sử dụng đất bền vững, khôn ngoan của người dân vùng cao trong
quản lý, sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Nhưng thực tiễn chứng tỏ rằng canh tác
nương rẫy chỉ bền vững trong điều kiện dân số thưa, lực lượng sản xuất kém phát
triển. Còn khi mật độ dân số tăng cao (tự nhiên và cơ học), sự cân bằng giữa tài
nguyên thiên nhiên với dân số và sức sản xuất bị phá vỡ thì canh tác nương rẫy
không còn bền vững được nữa, và trở thành một nguyên nhân dẫn đến tài nguyên
rừng bị huỷ hoại, đất đai thoái hoá, môi trường sinh thái xuống cấp, đời sống của
chính người làm nương rẫy cũng lâm vào khó khăn, thiếu đói. Tỷ lệ đói nghèo của
đồng bào đân tộc thiểu số vùng cao là rất cao: 51,03% (cả nước 10,64%, miền núi
23%) (*2). Để giải quyết nạn đói nghèo và phá rừng làm nương rẫy, Nhà nước ta
đã thực hiện chương trình định canh định cư từ 40 năm nay và đã thu được một số
kết quả tốt. Làm nương rẫy của đồng bào miền núi, vùng cao đã giảm bớt, đặc biệt
ở miền núi, vùng thấp nhờ kết quả tăng sản lượng lúa và chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, tăng thu nhập, mở rộng trao đổi lương thực, song vẫn còn nan giải .
Đã là nông dân thì ai cũng muốn có ruộng đất để canh tác. Nông dân miền xuôi
mong muốn có ruộng, nông dân miền núi, vùng cao nơi có ít ruộng, thì muốn có
đất đồi núi để sản xuất lương thực bảo đảm cuộc sống.
Như vậy, làm nương rẫy luân canh vẫn là một nhu cầu của đồng bào dân tộc miền
núi, chưa thể xoá được trong một vài năm. Thế nhưng, luật pháp của ta lại chưa
xác định rõ ràng quyền sử dụng đất của hộ gia đình và cá nhân về loại đất này:
- Theo Nghị định số 85/1999/NĐ-CP ngày 28/8/1999 của Thủ tướng Chính phủ
sửa đổi bổ sung một số điều của bản quy định về giao đất nông nghiệp cho hộ gia
đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích nông nghiệp, đất nông nghiệp
chỉ bao gồm: đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, đất nông nghiệp trồng cây lâu
năm, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất nương rẫy định canh, và đất trống đồi núi trọc,
đất hoang hoá được xác định để sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản (điều

họ tộc, cộng đồng làng bản, quyền làm chủ này được xác lập theo luật tục, được
các thành viên trong làng bản, cộng đồng lân cận thừa nhận, tôn trọng. Chính vì
tình trạng này mà ở không ít địa phương, theo số liệu thống kê đất chưa sử dụng
còn rất nhiều, nhưng khi lập quy hoạch đất trồng rừng, cây công nghiệp, giao đất
cho liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài ở thực địa lại không có, hoặc không đủ
diện tích, vấp phải tranh chấp với dân địa phương. Ngay cả dân di cư tự do vào
Tây Nguyên, Đông Nambộ cũng không phải được tự do khai phá đất hoang, nhiều
người phải “ mua” lại đất của dân địa phương.
Xin nêu một dẫn chứng điển hình. Theo báo cáo nghiên cứu ở xóm Dõi xã Thượng
Lộ, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên - Huế về giao đất lâm nghiệp (Chính sách
giao đất lâm nghiệp và tác dụng của nó đến đời sống của dân - Nguyễn Thị Hoàng
Mai - ĐHNL Huế, 2000) cho biết: “Cuộc sống của người dân ở đây (đồng bào Kà
Tu) phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động canh tác nương rẫy và thu hái sản phẩm từ
rừng. Năm 1997, khi dự án quy hoạch sử dụng đất bắt đầu được triển khai ở xã
Thượng Lộ nhóm công tác của dự án đã thống kê có khoảng 36/ 65 hộ - chiếm
55,8% hộ nông dân trong thôn có làm nương rẫy ở khu vực khe Chamon, với tổng
diện tích 33,5 ha. Sau 3 năm thực hiện dự án giao đất lâm nghiệp số hộ canh tác
nương rẫy có xu hướng gia tăng, theo số liệu điều tra ban đầu ở thôn Dõi có 80 hộ-
do tách hộ và nơi khác đến thì có đến 50 hộ (62,2% tổng số hộ) trong thôn có làm
nương rẫy ở khe Chamon, với diện tích gần 50ha tính cả diện tích luân canh
khoảng 200ha, trong đó 27 hộ vừa canh tác nương rẫy vừa thu hái lâm sản phụ.
Ngoài ra, có thêm 17 hộ gần như phụ thuộc hoàn toàn vào thu hái lâm sản ngoài
gỗ và khai thác gỗ. Như vậy, số hộ phụ thuộc vào làm nương rẫy và khai thác rừng
chiếm 87% số hộ trong thôn. Thế nhưng theo tài liệu giao đất lâm nghiệp của Hạt
Kiểm lâm NamĐông, việc giao đất lâm nghiệp như sau :
+ Số hộ được giao đất lâm nghiệp: 63/65 hộ,
+ Tổng diện tích đất lâm nghiệp đã giao: 105,1 ha,
Trong đó: trồng rừng là 59,7ha , NLKH là 45,4ha.
Sau khi nhận sổ đỏ không một hộ nào tác động lên đất được giao, trừ lấy củi và thả
trâu bò. Như vậy, ở đây đất làm nương rẫy không được giao thì dân vẫn sử dụng,

gắng sản xuất đủ ăn. Không phải bằng cấm đoán, hạn chế nương rẫy mà phải tạo
điều kiện cho dân chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ tự túc lương thực sang sản xuất
hàng hoá phù hợp với nhu cầu thị trường mới là giải pháp cơ bản để tiến tới xoá
bỏ nương rẫy.
Giao đất làm nương rẫy cho hộ gia đình cũng tao điều kiện để kiểm soát, ngăn
chặn tình trạng phá rừng bừa bãi, cộng đồng làng bản có thể giám sát lẫn nhau.
Làm nương rẫy là tập quán lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi, đến
nay vẫn tồn tại trong những điều kiện nhất định cần phải thừa nhận. Nhà nước cần
bổ sung chính sách giao đất cho hộ gia đình và cá nhân.
Tài liệu tham khảo
1. Hiện trạng và vấn đề quản lý đất lâm nghiệp có rừng và đất chưa sử dụng với
việc trồng mới 5 triệu ha rừng. Tổng cục Địa chính 11-2000.
2. Tài liệu thống kê, Cục ĐCĐC và KTM- Bộ NN-PTNT, 2001.
3. Điều tra đánh giá tình hình sử dụng đất lâm nghiệp hộ gia đình Vũ Long ,Liên
hiệp các Hội KHKT Việt Nam, 2000.
4. Nghiên cứu xây dựng mô hình LNXH Tây nguyên, Vũ Long , Viện KHLN,
1995.
5. Chính sách giao đất lâm nghiệp và tác động của nó đến đời sống của dân xã
Thượng Lộ-Nam Đông- TT-Huế,Nguyễn Thị Hoàng Mai,ĐHNL Huế, 2000.

On right to land use for Slash-and-burn cultivation of the ethnic minority
people in mountainous regions.
Summary:Total land area under slash-and-burn cultivation in our country is about
3 – 4 millions hectares. Using sloping land for shifting slash-and-burn cultivation
is needed for self sufficiency in food by the ethnic minority people in mountainous
regions can not be done away with in a couple of year. This cultivation system is
suitable to conditions of low population density and less developed production
force but this is a main cause leading to loss of forest and environment
degradation. However as far as land management is concerned this need is not yet
legal while it is loosly managed in practice.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status