BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
TRẦN THỊ TÂM TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Đà Nẵng – Năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Tác giả luận văn
Trần Thị Tâm
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 4
5. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 4
6. Bố cục của đề tài 6
CHƯƠNG 1. TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ
CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY 7
1.1. NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN
ĐỀ DÂN TỘC 7
1.1.1. Nguồn gốc – những yếu tố nền tảng quy định và ảnh hưởng đến
tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 7
1.1.2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc 19
1.2. CHÍNH SÁCH DÂN TỘC VÀ KẾT QUẢ CỦA VIỆC THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH ĐÓ TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM 34
1.2.1. Chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng và Nhà nước
34
1.2.2. Kết quả thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới ở Việt
Nam 40
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN
TỘC Ở TỈNH BÌNH ĐỊNH TRONG THỜI GIAN QUA 47
Chữ viết tắt
Nội dung đầy đủ
BHYT
Bảo hiểm y tế
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CSHT
Cơ sở hạ tầng
DTTS
Dân tộc thiểu số
ĐBKK
Đặc biệt khó khăn
HTCT
Hệ thống chính trị
Nxb
Nhà xuất bản
NGO
Tổ chức phi chính phủ
PTTH
Phổ thông trung học
THCS
Trung học cơ sở
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
XĐGN
Xóa đói giảm nghèo
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
66
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta, chính sách dân tộc được hiểu là một hệ thống chính sách của
Đảng và Nhà nước nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống của các
dân tộc thiểu số, bảo đảm sự đoàn kết, bình đẳng và tương trợ giữa các dân
tộc anh em trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước. Nội dung cơ bản
của chính sách dân tộc là hướng tới thúc đẩy sự phát triển toàn diện về chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng - tạo lập những điều
kiện cho việc phục vụ ngày càng tốt hơn các nhu cầu vừa cơ bản, vừa lâu dài
của các dân tộc hợp thành đại gia đình dân tộc Việt Nam.
Xuyên suốt trong mọi giai đoạn cách mạng, vấn đề dân tộc và thực hiện
chính sách dân tộc luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Điều
này vừa xuất phát từ truyền thống yêu nước, thương nòi của người dân Việt
Nam, vừa thể hiện rõ mục tiêu dân chủ, công bằng trong sự nghiệp xây dựng
xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng và Nhà nước ta. Đó cũng là sự
biểu hiện sinh động của tinh thần đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc anh em,
cùng chung tay xây dựng một xã hội ngày càng phồn thịnh, vì cuộc sống ấm
no, hạnh phúc của mọi người dân đất Việt. Trên bình diện cả nước, trong giai
đoạn xây dựng và phát triển đất nước hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam xác
định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau
giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó
mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và
phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.
Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải
Bình Định hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học. Thông qua đề tài
này, tác giả hy vọng có thể góp phần nhỏ bé của mình vào tìm kiếm cách thức
để giải quyết một vấn đề vừa cần thiết, vừa cấp bách hiện nay.
3
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
rõ vấn đề và việc vận
dụng tư tưởng đó trong thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh Bình
Định thời gian qua, từ đó đề xuất giải pháp để tiếp tục vận dụng sáng tạo tư
tưởng của Người trong tổ chức thực hiện chính sách dân tộc hiện
nay.
2.2 Nhiệm vụ
- Tr
.
- Đánh giá thực trạng (thành tựu, hạn chế, nguyên nhân
chính sách dân tộc .
- Đề xuất các (nhóm) giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh để giải quyết vấn đề đặt ra góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện
chính sách dân tộc ở tỉnh Bình Định trong thời gian đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
việc thực hiện chính sách
dân tộc ở tỉnh Bình Định.
Lưu ý rằng: Khi bàn đến chính sách dân tộc (của Đảng ta hiện nay) thì
khái niệm dân tộc được hiểu như là (tộc người hay các thành phần dân tộc -
chỉ các dân tộc cụ thể: dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc H’mông, dân tộc
Bana ) để phân biệt với quốc gia dân tộc (dân tộc Việt Nam).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Việc thực hiện chính sách dân tộc vùng dân tộc thiểu số ở miền núi tỉnh
số 9.2010…Những công trình này đề cập đến vị trí của tư tưởng Hồ Chí
5
Minh nói chung và tư tưởng về dân tộc nói riêng đối với cách mạng Việt Nam
– Cách mạng giải phóng dân tộc, cách mạng XHCN. Bên cạnh đó còn thể
hiện ý nghĩa và ảnh hưởng của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân tộc và giai cấp
đối với thời đại, với lịch sử phát triển của nhân loại.
Dân tộc và chính sách dân tộc là một trong những chủ trương lớn, có
tính xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta; vì thế từ trước đến nay có khá
nhiều công trình của các nhà khoa học nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể
đến công trình: Nguyễn Văn Tiêm:“Giàu nghèo ở nông thôn hiện nay”, Nxb
Nông nghiệp, Hà Nội 1993; Đặng Nghiêm Vạn:“Quan hệ tộc người trong
một quốc gia dân tộc”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1993; Bế Viết Đẳng:
“50 năm các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945-1995”, Nxb Khoa học Xã hội,
Hà Nội 1995; Phan Hữu Dật:“Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên
quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội
2001; Ủy ban Dân tộc và Miền núi: “Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở
nước ta”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001…
Các công trình vừa nêu, đề cập đến những lý luận chung về vấn đề dân
tộc, tộc người và vấn đề chênh lệch về trình độ phát triển và thực trạng mối
quan hệ giữa các tộc người, cùng những yêu cầu về nhiệm vụ đối với cán bộ
làm công tác dân tộc hiện nay.
Năm 2002, Viện Nghiên cứu Chính sách dân tộc và Miền núi cũng có
một công trình nghiên cứu là “Vấn đề dân tộc và định hướng xây dựng chính
sách trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội 2002. Công trình này phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn của chính sách
dân tộc của Đảng, Nhà nước ta và định hướng việc quy hoạch dân cư, nhịp độ
phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm từng vùng; đồng thời, kiến nghị
những giải pháp sớm cải thiện đời sống đồng bào dân tộc thiểu số của cả
nước.
7
CHƯƠNG 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC
VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA
HIỆN NAY
1.1. NGUỒN GỐC VÀ NỘI DUNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ
VẤN ĐỀ DÂN TỘC
1.1.1. Nguồn gốc – những yếu tố nền tảng quy định và ảnh hưởng
đến tư tưởng của Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
a. Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến và tư
sản cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX ở Việt Nam
Cuối thế kỷ XIX, mặc dù triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký các
Hiệp ước ácmăng (Harmand) năm 1883 và Patơnốt (Patenôtre) năm 1884, đầu
hàng thực dân Pháp, song phong trào chống thực dân Pháp xâm lược vẫn diễn
ra liên tục trên mọi miền đất nước.
Phong trào Cần Vương (1885-1896), một phong trào đấu tranh vũ trang
do Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết phát động, đã mở cuộc tiến công trại lính
Pháp ở cạnh kinh thành Huế (1885). Việc không thành, Tôn Thất Thuyết đưa
Hàm Nghi chạy ra Tân Sở (Quảng Trị), hạ chiếu Cần Vương. Mặc dù sau đó
Hàm Nghi bị bắt, nhưng phong trào Cần Vương vẫn phát triển, nhất là ở Bắc
Kỳ và Bắc Trung Kỳ, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa: Ba Đình của Phạm
Bành và Đinh Công Tráng (1881-1887), Bãi Sậy của Nguyễn Thiện Thuật
(1883-1892) và Hương Khê của Phan Đình Phùng (1885-1895).
Phong trào vũ trang chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương đã tàn lụi
hoàn toàn với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Một số thổ hào địa
phương nỗi dậy ngay từ khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta tuy lúc
này vẫn còn, nhưng đã phải duy trì cuộc chiến đấu trong điều kiện hết sức khó
8
với hoài bão cách tân, đứng trước bế tắc của lịch sử dân tộc đã cố gắng đi tìm
tới giải pháp: tự cường để cứu nước. Xuất phát điểm của Phan Bội Châu
chính là lòng yêu nước, thương dân - nền tảng tinh thần đưa ông suốt cuộc đời
phấn đấu cho sự nghiệp cứu nước, cứu dân.
Cũng vào thời gian này phong trào Duy Tân do một số sĩ phu tiến bộ
khởi xướng. Tiêu biểu cho xu hướng cải cách lúc bấy giờ là Phan Châu Trinh.
Phong trào Duy Tân nhằm cải cách đất nước về văn hóa, xã hội gắn liền với
việc động viên lòng yêu nước, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị
thực dân. Phan Châu Trinh chủ trương dùng những cải cách văn hóa, mở
mang dân trí, nâng cao dân khí, phát triển kinh tế theo hướng tư bản chủ nghĩa
trong khuôn khổ hợp pháp, làm cho dân giàu, nước mạnh, buộc thực dân Pháp
phải trao trả độc lập cho nước Việt Nam. Ở Bắc Kỳ, có việc mở trường học,
giảng dạy và học tập theo những nội dung và phương pháp mới, tiêu biểu là
trường Đông Kinh nghĩa thục Hà Nội. Ở Trung Kỳ, có cuộc vận động Duy
Tân, hô hào thay đổi phong tục, nếp sống, kết hợp với phong trào đấu tranh
chống thuế (1908).
Phong trào Duy Tân cuối cùng đã thất bại, đó cũng là một sự thất bại
chung của xu hướng cải cách đầu thế kỷ XX. Do những hạn chế về lịch sử, về
giai cấp, nên Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, cũng như các sĩ phu cấp tiến
lãnh đạo phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX không thể tìm được một phương
hướng khả dĩ giải quyết được yêu cầu của cuộc đấu tranh giải phóng của dân
tộc, nên chỉ sau một thời kỳ phát triển đã bị kẻ thù dập tắt.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, mặc dù còn nhiều hạn chế về số
lượng, về thế lực kinh tế và chính trị, nhưng với tinh thần dân tộc, dân chủ,
giai cấp tư sản Việt Nam đã bắt đầu vươn lên vũ đài đấu tranh với thực dân
Pháp bằng một số cuộc đấu tranh cụ thể với những hình thức khác nhau:
10
Năm 1919-1923, Phong trào quốc gia cải lương của bộ phận tư sản và
địa chủ lớp trên đã diễn ra bằng việc vận động chấn hưng nội hoá bài trừ
đánh đuổi đế quốc, xóa bỏ chế độ vua quan, thành lập dân quyền, nhưng chưa
bao giờ có một đường lối chính trị cụ thể, rõ ràng. Về tổ chức, Việt Nam quốc
dân Đảng chủ trương xây dựng các cấp từ Trung ương đến cơ sở, nhưng cũng
chưa bao giờ có một hệ thống tổ chức thống nhất.
Ngày 9-2-1929, các lãnh tụ của Quốc dân Đảng quyết định khởi nghĩa
ở Yên Bái. Khởi nghĩa Yên Bái nổ ra khi chưa có thời cơ, vì thế nó nhanh
chóng bị thực dân Pháp dìm trong biển máu. Vai trò của Việt Nam Quốc dân
Đảng trong phong trào dân tộc ở Việt Nam chấm dứt cùng với sự thất bại của
khởi nghĩa Yên Bái.
Các phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt
Nam đã diễn ra liên tục, sôi nổi, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với
những hình thức đấu tranh phong phú, thể hiện ý thức dân tộc, tinh thần
chống đế quốc của giai cấp tư sản Việt Nam, nhưng cuối cùng đều thất bại vì
giai cấp tư sản Việt Nam rất nhỏ yếu cả về kinh tế và chính trị nên không đủ
sức giương cao ngọn cờ lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc.
b. H
Trước yêu cầu cấp bách phải tìm một con đường cứu nước mới, bằng
thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén, tháng 6-1911 Nguyễn Ái Quốc
đã lên đường sang các nước phương Tây, nơi có khoa học - kỹ thuật phát triển
và những tư tưởng dân chủ tự do, xem họ làm như thế nào, để rồi trở về nước
giúp đồng bào cởi ách xiềng xích nô lệ. Với tên gọi Văn Ba, Người đã qua
nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước tư bản phát triển như Mỹ, Pháp,
Anh. Người nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tiễn cách mạng đã có trên thế
giới như cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp, đồng thời tham gia lao động và đấu
tranh trong hàng ngũ giai cấp công nhân và nhân dân lao động thuộc đủ các
12
màu da. Người nhận thấy các cuộc cách mạng tư sản Mỹ và Pháp “chưa đến
nơi” vì quần chúng nhân dân vẫn bị áp bức, bóc lột.
Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 bùng nổ làm chấn động toàn
Hội đồng chuẩn bị nội dung cho các cuộc họp và là chuyên gia về những công
việc liên quan đến các thuộc địa.
Người viết nhiều bài báo về tình cảnh nông dân Bắc Phi, nông dân
Trung Quốc, nông dân Việt Nam. Trong bài phát biểu tại Hội nghị Quốc tế
Nông dân, Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo những thủ đoạn thực dân để biến nông
dân thành nô lệ với hai bàn tay trắng. Vì vậy người nông dân không còn
đường sống mà phải đấu tranh, họ là lực lượng cách mạng vô cùng to lớn. Kết
thúc bài phát biểu Nguyễn Ái Quốc kêu gọi: “Thưa các đồng chí, tôi phải
nhắc lại với các đồng chí rằng Quốc tế của các đồng chí chỉ trở thành một
Quốc tế thật sự khi mà không những nông dân phương Tây, mà cả nông dân ở
phương Đông, nhất là nông dân ở các thuộc địa là những người bị bóc lột và
bị áp bức nhiều hơn các đồng chí, đều tham gia Quốc tế của các đồng chí”
[15, tr.212].
Trong các bài phát biểu tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản (nǎm 1924)
Nguyễn Ái Quốc đã đề cập vấn đề về mối quan hệ giữa cách mạng thuộc địa
và cách mạng chính quốc, kêu gọi sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới
với cách mạng thuộc địa. Tại phiên họp XXV ngày 3 tháng 7 nǎm 1924
Nguyễn Ái Quốc chỉ rõ: “Trong tất cả các thuộc địa Pháp, nạn nghèo đói đều
tǎng, sự phẫn uất ngày càng lên cao. Sự nổi dậy của nông dân bản xứ đã chín
muồi. Trong nhiều nước thuộc địa họ đã vài lần nổi dậy, nhưng lần nào cũng
bị dìm trong máu. Nếu hiện nay nông dân vẫn còn ở trong tình trạng tiêu cực
thì nguyên nhân là vì họ còn thiếu tổ chức, thiếu người lãnh đạo. Quốc tế
cộng sản phải giúp đỡ họ tổ chức lại, cần phải cung cấp cán bộ lãnh đạo cho
họ và chỉ cho họ con đường đi tới cách mạng và giải phóng”[16, tr.289].
14
Cuối nǎm 1924 Nguyễn Ái Quốc yêu cầu được trở về Châu Á để thực
hiện hoài bão giải phóng nhân dân các dân tộc thuộc địa, trong đó có nhân
dân Việt Nam. Bằng thiên tài trí tuệ và hoạt động cách mạng của mình,
Nguyễn Ái Quốc đã kịp thời đáp ứng nhu cầu bức thiết của lịch sử. Vượt qua
Dân tộc là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài của lịch sử. Trước
dân tộc là những hình thức cộng đồng tiền dân tộc như thị tộc, bộ tộc, bộ lạc.
V.I. Lênin đấu tranh kiên quyết chống lại các biến tướng của chủ nghĩa duy
tâm, xem dân tộc dường như phát sinh từ mảnh đất trống rỗng, không phải là
kết quả của quá trình phát triển liên tục của lực lượng sản xuất, của sự phát
triển các hình thức tộc người. V.I. Lênin cũng đã nêu ra cương lĩnh về quyền
bình đẳng, quyền tự quyết dân tộc và đấu tranh không mệt mỏi cho quyền
bình đẳng và quyền tự quyết đó trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn.
Sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản dẫn đến sự ra đời của các
nhà nước dân tộc Tư bản chủ nghĩa. Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn
tự do cạnh tranh sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, các nước đế quốc thi hành
chính sách vũ trang xâm lược cướp bóc, nô dịch các dân tộc nhược tiểu, vấn
đề dân tộc trở nên gay gắt, từ đó xuất hiện vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Sau cách mạng Tháng Mười Nga, sự hình thành hệ thống xã hội chủ
nghĩa thế giới, phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh, dẫn đến sự tan
rã hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, nhiều nước thuộc địa cũ trở
thành các quốc gia dân tộc độc lập.
Khi bàn về sự phát triển của vấn đề dân tộc, V.I. Lênin đã đề cập hai
hướng phát triển của vấn đề dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản.
Xu hướng thứ nhất, ở những quốc gia, khu vực tư bản chủ nghĩa gồm
nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người làm ăn, sinh sống. Đến một
thời kỳ nào đó, sự trưởng thành của ý thức dân tộc, sự thức tỉnh đầy đủ về
quyền sống của mình mà các cộng đồng dân cư đó muốn tách khỏi nhau để
16
thành lập các dân tộc độc lập. Bởi vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng dân
tộc độc lập họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà cao nhất là
quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc
mình.
Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân
thức của dân tộc, nhân loại thành tri thức của bản thân mình. Xuất thân trong
một gia đình khoa bảng, với tư chất thông minh tuyệt vời, Hồ Chí Minh đã
nhanh nhạy trong việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Trước hết là văn hóa phương Đông mà tiêu biểu là học thuyết Nho
giáo. Bác Hồ đã tiếp nhận cái lõi của Nho giáo là đạo đức, tư tưởng xây dựng
thế giới đại đồng; về việc đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học
với châm ngôn: Học không biết chán, dạy không biết mỏi. Hồ Chí Minh đã
lựa chọn những yếu tố tích cực, phù hợp trong Nho giáo để phục vụ cho
nhiệm vụ cách mạng.
Hồ Chí Minh cũng tiếp thu những tư tưởng vị tha ở Phật giáo, đó là tư
tưởng vị tha, từ bi, bác ái, cứu khổ cứu nạn; đó là nếp sống có đạo đức, trong
sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện; đó là tinh thần bình đẳng, tinh thần dân
chủ chất phác, chống lại mọi phân biệt đẳng cấp.
Hồ Chí Minh còn là người kế thừa lòng nhân ái, đức hy sinh, những giá
trị tốt đẹp của Thiên Chúa giáo. Cả cuộc đời của Người là hiện thân của lòng
nhân ái và đức hy sinh cao cả và Người cũng thường xuyên động viên cán bộ,
đảng viên về lòng thương dân, dám hy sinh thân mình vì nghĩa lớn.
Ngoài ra Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng rất sâu rộng của nền văn hóa
dân chủ và cách mạng của phương Tây. Đó là tư tưỏng về tự do, bình đẳng,
bác ái, về quyền sống, quyền độc lập, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc
của các dân tộc. Hồ Chí Minh cũng tiếp xúc với các tác phẩm của các nhà
khai sáng lý tưởng tự do, bình đẳng, bác ái như Vonte, Rútxô…Tư tưởng dân
18
chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng đến tư tưởng của Người. Hồ Chí
Minh còn hấp thụ tư tưởng dân chủ và hình thành được phong cách dân chủ
của mình trong cuộc sống thực tiễn như tham gia các cuộc họp, các đảng phái.
Phẩm chất cá nhân của Hồ Chí Minh còn được thể hiện ở sự khổ công
học tập để chiếm lĩnh vốn tri thức vốn có của thời đại, vốn kinh nghiệm đấu
tranh của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân quốc tế để có