Tài liệu Tư tưởng Hồ Chí Minh: Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng phát triển sáng tạo của Đảng ta vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay - Pdf 21

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và sự vận dụng phát triển sáng
tạo của Đảng ta vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện nay
1.Từ giữa thế kỷ XIX, đất nước ta bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, nhân dân Việt Nam
lâm vào cảnh nô lệ lầm than, “một cổ hai tròng”, bị bọn đế quốc và phong kiến áp bức, bóc lột.
Nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp trong phong trào Cần Vương do các sĩ phu yêu nuớc lãnh đạo
đã nổ ra (khởi nghĩa Hương Sơn của Phan Đình Phùng, khởi nghĩa Yên Thế của Hoàng Hoa
Thám v.v ), nhưng tất cả đều bị đàn áp đẫm máu. Tiếp đến là các phong trào yêu nước, như
phong trào Đông Du do Phan Bội Châu khởi xướng, phong trào Duy Tân của Phan Châu Trinh,
Huỳnh Thúc Kháng, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh
đạo v.v , đều bị thất bại. Cách mạng Việt Nam rơi vào bế tắc về đường lối.

Đại hội III
Trong bối cảnh đó, với khát vọng và “ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc
lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”,
người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã quyết tâm
ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Trên hành trình qua khắp năm châu, bốn biển,
Người đã có điều kiện nghiên cứu kỹ lưỡng về các cuộc cách mạng tư sản Âu - Mỹ và các thể
chế chính trị xã hội đương thời. Người rút ra kết luận, các cuộc cách mạng tư sản là các cuộc
''cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công
nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”, “nó chỉ mang lại quyền lợi cho một số ít người”. Theo quan
điểm của Người: chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao
cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một bọn ít người. Thế
mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc”.
Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga thắng lợi, mở ra một thời đại mới trong lịch sử loài
người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Bằng trí tuệ thiên tài, phẩm
chất, nhân cách và năng lực hoạt động thực tiễn của mình, từ chủ nghĩa yêu nước, Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã đi đến với chủ nghĩa Mác-Lênin. Khi đọc bản Sơ thảo luận cương về các vấn đề dân
tộc và thuộc địa của Lênin, Người đã vui mừng đến phát khóc lên, ngồi trong phòng mà Người
nói to như truớc đồng bào đang đau khổ: Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải
phóng chúng ta. Từ sự phân tích, nhìn nhận một cách khách quan, khoa học, Người khẳng định:
“Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất,

sử nước ta - kỷ nguyên độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta được khẳng định bởi tính ưu việt của một chế độ xã
hội tốt đẹp, với mục tiêu cao cả đó là giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi mọi áp bức,
bất công, tạo điều kiện để phát triển toàn diện con người. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh lịch sử Việt
Nam, chủ nghĩa xã hội là vấn đề rất mới, nhất là trong điều kiện nước ta kinh tế còn nghèo nàn,
lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, kẻ thù lại thường xuyên chống phá, xuyên tạc, cho nên
nhiều người còn nhận thức mơ hồ về chủ nghĩa xã hội, hoài nghi về tính hiện thực của chủ nghĩa
xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, chủ nghĩa xã hội không phải là những gì cao siêu, huyền bí.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội hết sức cụ thể, giản dị, dễ hiểu: ''Chủ
nghĩa xã hội là làm sao cho dân giầu, nước mạnh”, “mục đích của chủ nghĩa xã hội là không
ngừng nâng cao mức sống của nhân dân”, “chủ nghĩa xã hội là mọi người cùng ra sức lao động
sản xuất để được ăn no, mặc ấm và có nhà ở sạch sẽ”. Nguời khẳng định xã hội xã hội chủ nghĩa
là “một thế giới không có người bóc lột người, mọi người sung sướng,vẻ vang, tự do, bình đẳng,
xứng đáng là thế giới của loài người”. Đối với điều kiện, đặc điểm của Việt Nam, một nước nông
nghiệp lạc hậu, có xuất phát điểm thấp, chưa kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, thì
mục tiêu ban đầu của chủ nghĩa xã hội phải đặt ra một cách thiết thực: “Làm cho người nghèo thì
đủ ăn. Người đủ ăn thì khá giàu. Người giàu thì giàu thêm. Người nào cũng biết chữ. Người nào
cũng biết đoàn kết, yêu nước”. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, xã hội xã hội chủ nghĩa luôn là sự
thống nhất biện chứng của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Người nói: “xã hội ngày
càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội''. Cụ thể hơn,
Bác cho rằng chủ nghĩa xã hội phải “có công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, có văn hóa và
khoa học tiên tiến”. Còn về chính trị, xã hội xã hội chủ nghĩa là do nhân dân làm chủ, bao nhiêu
lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân, quyền hành và lực lượng đều ở mọi người
dân, mọi cán bộ, công chức nhà nước đều là công bộc của dân.
Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ ra rằng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không
hoàn toàn bằng phẳng, mà có vô vàn khó khăn, phức tạp cần phải vượt qua. Người nhận định:
“Xây dựng chủ nghĩa xã hội là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, gian khổ và lâu dài '', “ai
nói dễ là chủ quan và sẽ thất bại” bởi “biến đổi một xã hội cũ thành một xã hội mới, không phải
là một chuyện dễ'', “thắng đế quốc và phong kiến là tương đối dễ; thắng bần cùng, lạc hậu còn

Nhà nước gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả; phải nhanh chóng xây dựng và hoàn thiện hệ
thống pháp luật, cơ chế, chính sách trên các lĩnh vực. Theo Bác, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội là sự nghiệp của toàn dân, do đó cần phát huy tính tích cực, chủ động của toàn dân, của
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể nhân dân, tạo điều kiện để nhân dân, Mặt trận Tổ quốc,
các đoàn thể nhân dân thực hiện đầy đủ vai trò của mình trong công cuộc xây dựng đất nuớc, bảo
vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ
nghĩa". Con người là yếu tố quyết định. Do đó, Bác đặc biệt quan tâm tới việc tuyên truyền, vận
động, giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng con người, đặc biệt là thế hệ trẻ. Bác đòi hỏi phải giáo dục,
đào tạo con người một cách toàn diện: đức, trí, thể, mỹ; đặc biệt là giáo dục, rèn luyện về đạo
đức, vì “sức có mạnh mới gánh được nặng, đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách
mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang'', “có đạo đức cách mạng
thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước khi gặp thuận lợi và
thành công vẫn khiêm tốn, lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ,
khôngcông thần, không quan liêu, không hủ hóa”. Theo Bác, đạo đức cách mạng, nói một cách
tóm tắt, “là tuyệt đối trung thành với đảng,với nhân dân. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân
lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.
Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”, là "cần, kiệm, liêm, chính,
chí công vô tư”. Để trở thành con người xã hội chủ nghĩa, theo Bác, mỗi người phải “học tập,
học tập nữa, học tập nữa. Học chính trị, thời sự, kỹ thuật”, “muốn rèn luyện đạo đức cách mạng,
thì chúng ta phải ra sức học tập, tu dưỡng, tự cải tạo để tiến bộ nữa không phải chỉ ở tại nhà
trường, có lên lớp, mới học tập, tu dưỡng, rèn luyện và tự cải tạo đuợc. Trong mọi hoạt động
cách mạng chúng ta đều có thể và đều phải học tập, tự cải tạo”. Bác đặc biệt nhấn mạnh để rèn
luyện đạo đức cách mạng, để trở thành con người xã hội chủ nghĩa thì phải chống chủ nghĩa cá
nhân, vì do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra nhiều tính xấu, “do chủ nghĩa cá nhân mà sinh ra công
thần, do công thần sinh ra kiêu ngạo, kèn cựa, địa vị cũng do chủ nghĩa cá nhân mà lo lắng tiền
đồ bản thân, chỉ biết vun vén cho bản thân mình”; “vì chưa gột sạch chủ nghĩa cá nhân cho nên
có đảng viên còn kể công với Đảng. Có ít nhiều thành tích, thì họ muốn Đảng “cảm ơn” họ. Họ
đòi ưu đãi, họ đòi danh dự và địa vị. Họ đòi hưởng thụ. Nếu không thoả mãn yêu cầu của họ thì
họ oán trách Đảng, cho rằng “họ không có tiền đồ”, họ “bị hy sinh”. Rồi dần dần họ xa rời Đảng,

có nền độc lập thật sự, đất nước ta phát triển ổn định, phồn vinh, nhân dân ta có cuộc sống ấm
no, hạnh phúc. Đó là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại.
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, trong hoàn cảnh mới, Đảng ta tiếp
tục tìm tòi, ngày càng làm sáng tỏ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng, được khẳng định trong Cương lĩnh
và văn kiện các đại hội của Đảng, là xã hội dân giàu, nuớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế
độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;
con nguời có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc
trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân vì dân, do Đảng cộng sản lãnh đạo; có quan
hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Đảng ta luôn xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một quá trình cải biến cách mạng
sâu sắc, triệt để, một cuộc đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới để tạo ra sự biến đổi về chất
trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; vì vậy, nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu
dài, nhiều bước phát triển, không thể đơn giản, chủ quan, nóng vội.
Để thực hiện thành công mục tiêu xã hội xã hội chủ nghĩa, kế thừa và phát triển các quan điểm
của chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đề ra các phương hướng và nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với
phát triển kinh tế tri thức là nhiệm vụ trung tâm để từng buớc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
của chủ nghĩa xã hội; không ngừngnâng cao năng suất lao động xã hội, chất lượng, hiệu quả, khả
năng độc lập, tự chủ của nền kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân. Trong đó, phát triển mạnh
các ngành, các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức; phát triển công
nghiệp và xây dựng theo hướng hiện đại, nhất là những ngành có lợi thế so sánh và có ý nghĩa
chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững, nâng cao tính độc lập tự chủ của nền kinh tế,
có khả năng tham gia có hiệu quả vào dây chuyền sản xuất và mạng lưới phân phối toàn cầu.
Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phát triển nông - lâm – ngư
nghiệp một cách toàn diện, hiệu quả, bền vững gắn với giải quyết đồng bộ các vấn đề của nông
dân, nông thôn. Phát triển nhanh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ tài chính, ngân hàng,
thương mại, du lịch, các dịch vụ có giá trị gia tăng cao. Tập trung xây dựng hệ thống kết cấu hạ

Năm là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển;
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi
trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho sự phát triển đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao vị thế của đất nước; là bạn, là đối tác tin cậy và
thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa
bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ trên thế giới.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện và phát huy sức mạnh đại đoàn kết
toàn dân tộc. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở tất cả các cấp, trên tất cả
các lĩnh vực; bảo đảm tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân, mọi chủ trương, đường lối của
Đảng, luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; mọi cán bộ, công
chức đều là công bộc của nhân dân. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. Lấy mục tiêu xây
dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng, dân chủ, văn minh để tập hợp, đoàn kết các giai cấp, tầng lớp nhân dân, đồng bào
các dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Xây dựng, phát huy vai trò của Mặt
trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trang việc tập hợp, đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc.
Bảy là, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm Nhà nước thực sự là của nhân dân, nhà nước làm tốt chức
năng quản lý kinh tế và đời sống xã hội, thực hiện các cam kết quốc tế; giữ nghiêm trật tự, kỷ
cương xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nuớc và nhân dân; nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi
ích của Tổ quốc và nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa
các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có tổ chức bộ máy
tinh gọn, hợp lý, trong sạch, vững mạnh; có đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực
cao; có cơ chế kiểm soát, ngăn ngừa, trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm,
xâm phạm quyền dân chủ của nhân dân.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; kiên định chủ
nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng; thật sự là đội tiên phong của giai
cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đại biểu
trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc; có năng lực lãnh
đạo và sức chiến đấu cao, thường xuyên tự chỉnh đốn, tự đổi mới, ra sức nâng cao trình độ trí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status