Tư tưởng hồ chí minh về chính sách xã hội và việc vận dụng ở bến tre trong thời kỳ đổi mới - luận văn thạc sĩ - Pdf 47

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), Đảng ta
đã trân trọng ghi vào Cương lĩnh và Điều lệ của Đảng: "Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành
động" [18, tr. 187]. Sự khẳng định thể hiện rõ Đảng đã nhận thức khoa học,
sâu sắc về vai trò quan trọng của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp
cách mạng nước ta trong giai đoạn cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất
đất nước trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Để cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức rõ hơn, vận
dụng tốt hơn trong thực tiễn đời sống xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ IX của Đảng đã chỉ rõ:
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện
và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết
quả sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào
điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại [21, tr.
83].
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về chính sách xã hội
là một bộ phận quan trọng và được thể hiện xuyên suốt trong chủ trương,
đường lối chính sách, tổ chức thực hiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam phù
hợp với thực tiễn, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng. Cho đến những
năm tháng cuối đời, chuẩn bị cho việc "đi xa", Người viết trong Di chúc:
Đầu tiên là công việc đối với con người.
Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương


2

3

dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những
người lao động lương thiện.
Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến
chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn
luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của
góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã
hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm
cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát
lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất [49, tr.503-504].
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến chính
sách xã hội và đã ban hành nhiều luật mới, có sửa đổi và bổ sung các luật như
Luật Thanh niên, Luật Hôn nhân gia đình, Pháp lệnh Người có công, Pháp
lệnh Người cao tuổi, các nghị định 134, 135 về xoá đói giảm nghèo; phát động
xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết v.v... Hiện nay, trong sự nghiệp đổi
mới, Đảng và Nhà nước ta càng coi trọng hơn nữa đến chính sách xã hội. Đây
cũng là đòi hỏi của thực tiễn.
Đất nước trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh nên hậu quả của nó để lại
không nhỏ. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội,
nước ta có trên 4,5 triệu thương binh và người tàn tật; trên 1 triệu người già,
có con em bị mất trong chiến tranh không có khả năng tự nuôi sống bản
thân; trên 300.000 trẻ mồ côi và hàng vạn bộ đội xuất ngũ có nhu cầu cấp
bách về việc làm. Hậu quả chiến tranh còn để lại nhiều di chứng cho các thế
hệ sau như nhiễm chất độc da cam, hủy hoại và gây ô nhiễm môi trường ảnh
hưởng trực tiếp đến đời sống và hoạt động sản xuất của nhân dân. Để giải
quyết hậu quả của chiến tranh đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải thực hiện chính
sách xã hội như chính sách đối với nạn nhân chiến tranh, chính sách đối với
người có công với cách mạng, chính sách đối với thương binh, với thân nhân
các liệt sĩ v.v…

Xác định mục tiêu nhiệm vụ những năm tiếp theo, Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ X xác định:


5

Kết hợp các mục tiêu kinh tế với các mục tiêu xã hội trong
phạm vi cả nước, ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và
công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát
triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh
tế, gắn quyền lợi và nghĩa vụ, cống hiến và hưởng thụ, tạo động lực
mạnh mẽ và bền vững hơn cho phát triển kinh tế xã hội. Tập trung
giải quyết những vấn đề xã hội bức xúc [23, tr. 102].
Đồng thời, Đại hội X của Đảng còn chỉ rõ: cần phải khuyến khích mọi
người làm giàu theo pháp luật, thực hiện có hiệu quả các chính sách xóa đói
giảm nghèo; xây dựng hệ thống an sinh xã hội đa dạng; phát triển mạnh hệ
thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân; đa dạng
hóa các loại hình cứu trợ xã hội, tạo việc làm, đẩy mạnh xuất khẩu lao động,
hướng tới xuất khẩu lao động trình độ cao; tiếp tục đổi mới chính sách tiền
lương, chính sách phân phối thu nhập; chú trọng các chính sách ưu đãi xã hội;
chăm sóc đời sống vật chất và tinh thần cho người già, nhất là những người
già cô đơn, không nơi nương tựa; giúp đỡ nạn nhân chất độc da cam, người
tàn tật, trẻ mồ côi, trẻ lang thang.
Bến Tre là một tỉnh giàu truyền thống cách mạng, là "chiếc nôi Đồng
khởi" và là một trong những địa phương đi đầu trong sự nghiệp chống Mỹ,
cứu nước. Hòa bình lập lại, cả nước nói chung, Bến Tre nói riêng phải gánh
chịu hậu quả chiến tranh hết sức nặng nề và những mất mát vô cùng to lớn với
hàng ngàn liệt sĩ, thương bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam, tàn dư chế độ
Mỹ - Ngụy về văn hóa, xã hội. Để giải quyết hậu quả của chiến tranh, đòi hỏi
Đảng bộ, chính quyền địa phương phải thực hiện chính sách xã hội như chính

Nội. Đã nghiên cứu những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn
đề con người, về chính sách xã hội và quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với
con người.
+ Năm (2001- 2002), Viện Nghiên cứu con người thuộc Trung tâm khoa
học xã hội và nhân văn Quốc gia đã tổ chức hội thảo khoa học: Tư tưởng Hồ


7

Chí Minh - phương pháp luận nghiên cứu con người. Các tham luận đã được tập
hợp in thành ba tập Niên giám (kỷ yếu), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Trong
đó có một số tham luận đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về chính sách xã hội.
+ TS. Phạm Ngọc Anh chủ biên (2003), Tư tưởng Hồ Chí Minh về
quyền con người và vận dụng tư tưởng đó trong điều kiện nước ta hiện nay,
đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
+ GS.VS.TSKH Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển giáo dục, phát triển
con người phục vụ phát triển xã hội - kinh tế, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội,
1996, trong đó có phần đề cập đến tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục: chỉ rõ
những quan điểm tư tưởng cơ bản về giáo dục, diệt dốt và nâng cao dân trí
của Hồ Chí Minh.
+ PGS.TS Thành Duy (2001): Tư tưởng Hồ Chí Minh với sự nghiệp
xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội. Trong đó tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa văn hóa và việc xây
dựng con người mới ở Việt Nam, đồng thời khái quát quan điểm của Hồ Chí
Minh về bản chất con người Việt Nam, về xây dựng con người Việt Nam phát
triển toàn diện trong bối cảnh hiện nay.
+ TS. Lê Quang Hoan (2002), Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
+ Nguyễn Văn Thanh (2006), Chính sách tài năng trẻ - nghiên cứu lý
luận và thực tiễn, Nxb Thanh niên, Hà Nội.

hệ thống nhất giữa con người cá nhân và con người xã hội, con người giai
cấp, dân tộc và nhân loại.
+ PGS.TS Thành Duy với bài Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và
chính sách đối với con người, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 12, 2005. Bài viết đã khái
quát lại tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề con người: Bản chất con người, những
phẩm chất cơ bản của con người và một số chính sách đối với vấn đề con người.


9

+ GS. TS Hoàng Chí Bảo với bài Phát triển xã hội và quản lý sự phát
triển trong tiến trình đổi mới, Tạp chí Lý luận chính trị, số 10, 2008.
+ TS. Cao Tấn Khổng với bài Bến Tre gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế
với công tác giảm nghèo, Báo xuân Đồng Khởi Bến Tre, 2008.
+ Ngô Hoàng Anh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với vấn đề xóa đói giảm
nghèo, Tạp chí Báo chí và Tuyên truyền, số 8, 2006.
+ Lê Quang Hoan: Đảng và Nhà nước ta thực hiện chính sách xã hội
theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 10, 1999.
+ Bùi Công Nhơn: Công bằng xã hội - mục tiêu cốt lõi trong chính
sách xã hội của Đảng ta, Tạp chí Cộng sản, số 5, 2007.
+ Nguyễn Thị Nga: Xóa đói, giảm nghèo: nhìn từ góc độ kết hợp tăng
trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta hiện nay, Tạp chí Cộng sản, số
5, 2007.
+ Nguyễn Hữu Hải: Công bằng xã hội trong chính sách bảo trợ xã hội
với tăng trưởng kinh tế, Tạp chí Cộng sản, số 5, 2007.
+ Đặng Kim Chung: Công bằng xã hội gắn với tăng trưởng kinh tế
trong chính sách giảm nghèo, Tạp chí Cộng sản, số 5, 2007.
+ Bùi Công Bính: Hồ Chí Minh về bình đẳng của phụ nữ, Tạp chí Xây
dựng Đảng, số 10, 2008.
Những kết quả nghiên cứu của các công trình là nguồn tư liệu rất quý

tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp
luật của Nhà nước về các vấn đề chính sách xã hội và những chính sách xã
hội của tỉnh Đảng bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, các đoàn thể có liên quan đến
xây dựng chính sách xã hội trong giai đoạn hiện nay.
5.2. Phương pháp nghiên cứu


11

Luận văn chủ yếu dựa trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp lôgíc lịch sử, phương
pháp phân tích - tổng hợp, so sánh để làm rõ nội dung cơ bản của đề tài.
6. Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn nghiên cứu và trình bày một cách có hệ thống những quan
điểm của Hồ Chí Minh về chính sách xã hội.
- Luận văn cung cấp thêm luận cứ khoa học cho Đảng bộ tỉnh, chính
quyền, các đoàn thể tỉnh Bến Tre trong việc vận dụng để thực hiện có hiệu
quả các chính sách xã hội ở địa phương.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với những kết quả đạt được, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo
trong việc hoạch định chính sách xã hội trong thời gian tới của tỉnh Bến Tre,
làm tài liệu nghiên cứu và giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường
Chính trị, Cao Đẳng, Đại học.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương, 5 tiết.


12



Dưới lát cắt triết học, xã hội loài người tồn tại với bốn lĩnh vực đời sống
xã hội cơ bản có quan hệ gắn bó chặt chẽ thống nhất tác động lẫn nhau: Lĩnh
vực hoạt động kinh tế; hoạt động xã hội; hoạt động văn hóa tinh thần và hoạt
động chính trị. Như vậy, hoạt động xã hội được coi là một phạm vi hoạt động
tương ứng với những hoạt động khác nhau của một xã hội tổng thể. Phần lớn
các nhà nghiên cứu hiểu về chính sách xã hội ở phạm vi này, tức là trong sự đối
diện với những chính sách khác, với các hoạt động khác của xã hội nói chung.
Các vấn đề xã hội tồn tại và phát triển trong các cộng đồng là những
vấn đề nảy sinh trong sự phát triển của xã hội, từ tác động của kinh tế, chính
trị và văn hóa. Nó nảy sinh do nhu cầu phát triển tăng lên, do các quan hệ xã
hội biến đổi cùng với sự biến đổi các quan niệm sống, giá trị và sự lựa chọn
giá trị sống của các tầng lớp, nhóm xã hội - dân cư, thế hệ, lứa tuổi, giới và
nghề nghiệp. Các vấn đề xã hội thuộc lĩnh vực xã hội cũng biến đổi do tình
hình và hoàn cảnh xã hội biến đổi, nhất là kinh tế, do tác động của quản lý
qua chính sách, cơ chế, pháp luật. Các vấn đề xã hội thuộc lĩnh vực xã hội vừa
mang tính cấp thiết, bức xúc lại vừa mang tính cơ bản, lâu dài do sự tồn tại và
phát triển của con người và xã hội quy định.
1.1.2. Khái niệm chính sách xã hội và cơ sở hình thành tư tưởng
Hồ Chí Minh về chính sách xã hội
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chính sách xã hội là bộ
phận cấu thành của chính sách chung của một chính đảng hay một chính
quyền nhà nước nhất định, nó bao gồm việc giải quyết các vấn đề xã hội phù
hợp với lợi ích giai cấp và những mục tiêu phù hợp với đảng đó, của chính
quyền nhà nước đó.
Chẳng hạn, dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, chính sách xã hội trước hết
là tổng hòa những biện pháp do nhà nước tư sản thi hành đối với quần chúng
nhân dân. Mặc dù, chính sách xã hội được mô tả dưới hình thức "sự quan tâm
đến nhu cầu trong đời sống của những người lao động, nhưng trên thực tế nó


xã hội của các Đảng Cộng sản hoạt động trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Đây
là bộ phận cấu thành của chính sách chung của các đảng ấy, một chính sách


15

cách mạng xét về thực chất và về những mục đích cuối cùng. Trong khi đề ra
mục tiêu là thay đổi một cách căn bản những điều kiện xã hội, thì đồng thời
các Đảng Cộng sản hoạt động trong xã hội tư bản chủ nghĩa tổ chức lãnh đạo
cuộc đấu tranh đòi giai cấp thống trị và chính quyền nhà nước của nó phải
nhượng bộ càng nhiều càng tốt nhằm thỏa mãn những nhu cầu xã hội bức
thiết của nhân dân lao động. Bất chấp những luận điệu của đủ các loại phần tử
"tả" khuynh, điều đó không hề mâu thuẫn với các lý tưởng đổi mới xã hội
bằng con đường cách mạng, dĩ nhiên với điều kiện là người ta phải hiểu rõ sự
hạn chế tất yếu của mọi biện pháp cải thiện xã hội trong khuôn khổ chủ nghĩa tư
bản.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa thì chính sách xã hội là để giải quyết
một cách triệt để nhiều vấn đề xã hội có liên quan đến việc thực hiện các
quyền lợi của nhân dân lao động; từng bước thủ tiêu tình trạng người bóc lột
người, cải thiện các điều kiện sống cho quần chúng nhân dân, tạo các tiền đề
cho sự phát triển toàn diện của quần chúng nhân dân, để họ tham gia các hình
thức hoạt động xã hội sáng tạo, để xây dựng một lối sống mới thực sự nhân
đạo của con người, thiết lập sự bình đẳng xã hội. Chính việc phấn đấu vì
những mục tiêu ấy quy định nội dung chính sách xã hội của đảng mácxít lêninnít, người hướng dẫn quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và do đó cũng
hướng dẫn cả chính sách xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa do đảng ấy
lãnh đạo. Nội dung cụ thể những nhiệm vụ của chính sách xã hội, tính chất
triệt để và sâu sắc trong việc giải quyết những nhiệm vụ ấy đều có biến đổi
theo đà tiến lên từ những giai đoạn đầu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội đến những giai đoạn phát triển cao hơn.
Nếu xem xét những nhiệm vụ này dưới một hình thức tổng quát, có

hữu cơ. Những hướng ấy là những khía cạnh khác nhau trong khi hoàn thành
một nhiệm vụ thống nhất, có nhiều mặt, được thực hiện trong quá trình xây
dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản: cải tạo hệ thống các quan hệ xã
hội trên cơ sở những nguyên tắc tập thể chủ nghĩa. Điều này thể hiện qua việc
củng cố sự thống nhất giữa các giai cấp và tầng lớp lao động đang xích lại gần
nhau, cũng như qua việc xã hội tăng cường quan tâm đến những thành viên và
từng thành viên hưởng ứng tăng cường quan tâm đến phúc lợi chung.


17

Việc thực hiện các nhiệm vụ trong chính sách xã hội có liên quan trực
tiếp đến con người, đến địa vị của con người trong xã hội, đến điều kiện và
nội dung hoạt động của con người, đến việc hình thành và thực hiện các nhu
cầu trong đời sống và những khả năng của con người, nhằm đạt tới sự phát
triển toàn diện của cá nhân. Khi thực hiện chính sách xã hội, Nhà nước do
Đảng cộng sản lãnh đạo phải sử dụng một cách đồng bộ những phương sách
và biện pháp, bao gồm cả hệ thống các cơ quan hành chính, pháp luật, các tổ
chức thuộc hệ thống chính trị; cả bằng tài chính, kinh tế - kỹ thuật; cả bằng tổ
chức, giáo dục v.v...; sử dụng các nguồn vật chất, những sự cải cách về cơ sở
kỹ thuật và về tổ chức sản xuất, trong hoạt động của các thiết chế chính trị và
các cơ quan văn hóa - giáo dục v.v... Vì những phương sách và biện pháp ấy
trực tiếp phục vụ cho việc đạt tới các mục tiêu có tính chất xã hội, cho nên
chúng là các đòn bẩy của chính sách xã hội.
Trong truyền thống dân tộc, các triều đại phong kiến từ Lý, Trần đến
Lê, Nguyễn đều đã có các điều luật quy định cụ thể về các chính sách xã hội
đối với dân, quân đội, những người có công với nước, những bậc hiền tài,
những cô nhi quả phụ, những người cô đơn không nơi nương tựa. Cũng đã có
những điều luật chống các tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc, nghiện hút,
tham quan, ô lại, v.v... Nhiều điều luật như vậy cũng được ghi lại trong các

Chí Minh là nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do,
đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành. Người còn
nói: ngày nào mà đồng bào còn chịu khổ thì ngày đó Người ăn không ngon
ngủ không yên và chỉ rõ: đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước phải
làm sao nhà nào nghèo thì làm ăn cho khá lên, nhà nào khá thì làm cho giàu
lên, nhà nào giàu thì giàu lên nữa, phải làm cho đất nước trở nên giàu mạnh.
Đất nước đã thống nhất, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội cuối
những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ trước đã làm đời sống mọi
mặt của nhân dân ta gặp muôn vàn khó khăn, lòng tin vào chế độ ít nhiều bị
tác động xấu. Trong điều kiện hoàn cảnh ấy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VI của Đảng ta (12/1986) đã xác định:


19

Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt cuộc sống của con người:
điều kiện lao động và sinh hoạt, giáo dục và văn hóa, quan hệ gia
đình, quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc... cần thể hiện đầy đủ
trong thực tế của Đảng và Nhà nước về sự thống nhất giữa chính
sách kinh tế và chính sách xã hội, khắc phục thái độ coi nhẹ chính
sách xã hội, tức là coi nhẹ yếu tố con người trong sự nghiệp xây
dựng chủ nghĩa xã hội [17, tr. 86].
Tiếp tục phát triển tư tưởng trên, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
của Đảng khẳng định: "Chính sách xã hội đúng đắn vì hạnh phúc của con
người là động lực to lớn phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong
sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội" [19, tr. 13].
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối của Đảng ta, có
thể nêu một nhận thức khái quát: Chính sách xã hội là một bộ cấu thành chính
sách chung của một chính đảng hay chính quyền nhà nước trong việc giải
quyết các vấn đề xã hội. Chính sách xã hội bao trùm mọi mặt của cuộc sống

sự nghiên cứu một cách hệ thống các quá trình xã hội quyết định hoạt động sống
của con người trong xã hội, xét theo khả năng tác động quản lý đến các quá trình
đó. Có đầy đủ cơ sở để xem chính sách xã hội như là sự hòa quyện của khoa
học và thực tiễn, như là sự phân tích phức hợp, dự báo về các quan hệ, các
quá trình xã hội và sự vận dụng thực tiễn những tri thức thu nhận được nhằm
mục đích quản lý, điều hành các quá trình và các quan hệ ấy.
Những ý kiến trên tuy có cách diễn đạt khác nhau, nhưng nhìn chung
đều nêu bật được các yếu tố hợp thành cơ bản của bất cứ một chính sách xã
hội nào. Đó là:
Ai đặt ra chính sách xã hội?
Đặt ra chính sách xã hội cho ai?
Nội dung của các chính sách xã hội là gì?
Chính sách xã hội nhằm mục đích gì?


21

Nói tóm lại, chính sách xã hội là sự cụ thể hóa các chủ trương, đường
lối, quan điểm giai cấp của chính đảng cầm quyền và nhà nước của giai cấp
thống trị đó. Sự cụ thể hóa này được biểu đạt thành một hệ thống những biện
pháp cơ bản được xây dựng trên cơ sở nhận thức khoa học về thực trạng xã
hội, mối quan hệ giữa các giai cấp và tầng lớp trong xã hội, tất cả những gì
liên quan trực tiếp đến con người, từ địa vị, điều kiện và nội dung hoạt động
sống đến việc hình thành các nhu cầu, tâm tư, nguyện vọng của mỗi cá nhân
cũng như toàn xã hội. Hệ thống những biện pháp cơ bản này được thể chế hóa
bằng pháp luật và nhằm giải quyết các vấn đề xã hội nảy sinh, các vấn đề quyền
lợi giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội, thỏa mãn những nhu cầu ngày càng
tăng về đời sống vật chất cũng như đời sống văn hóa tinh thần của mỗi thành
viên trong xã hội, góp phần đảm bảo sự ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội.
1.2. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ

phần thức tỉnh các tầng lớp nhân dân lao động đứng lên đấu tranh chống quân
xâm lược.
Đầu năm 1930, khi tổ chức Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản
trong nước, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh soạn thảo
Chánh cương vắn tắt của Đảng, xác định rõ mục tiêu phấn đấu của Đảng:
A. Về phương diện xã hội thì:
a) Dân chúng được tự do tổ chức.
b) Nam nữ bình quyền, v.v...
c) Phổ thông giáo dục theo công nông hóa.
B. Về phương diện chính trị:
a) Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến.
b) Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập.
c) Dựng ra chính phủ công nông binh.
d) Tổ chức ra quân đội công nông.
C. Về phương diện kinh tế:


23

a) Thủ tiêu hết các thứ quốc trái.
b) Thâu hết sản nghiệp lớn (như công nghiệp, vận tải, ngân
hàng, v.v.) của tư bản đế quốc chủ nghĩa Pháp để giao cho chính
phủ công nông binh quản lý.
c) Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công
chia cho dân cày nghèo.
d) Bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo.
e) Mở mang công nghiệp và nông nghiệp.
f) Thi hành luật ngày làm 8 giờ [40, tr. 1-2].
Năm 1941, khi Người vừa về nước, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh
giành độc lập dân tộc Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng thành lập Mặt trận

Đều do Chính phủ cấp tiền ăn cho.
Trẻ em, bố mẹ khỏi lo,
Dạy nuôi, Chính phủ giúp cho đủ đầy [40, tr. 205-206].
Có thể nói Hồ Chí Minh đã phác thảo bức tranh về chính sách xã hội
mà chính quyền nhân dân tương lai sẽ thực hiện.
Ngay sau khi nhân dân ta giành lại nền độc lập, Người đã chỉ đạo việc tổ
chức Tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội đầu tiên ở nước ta; đề nghị Quốc hội và
Người được giao trọng trách chỉ đạo việc soạn thảo Hiến pháp của chế độ mới;
đề nghị Quốc hội và Chính phủ ban hành các sắc lệnh quy định các quyền tự do,
dân chủ bình quyền; chống giặc ngoại xâm đồng thời với chống giặc đói; giặc
dốt, xây dựng đời sống mới.
Trong những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cả nước ra trận,
nhưng nhờ chính sách xã hội đúng đắn, khoa học, các lĩnh vực đời sống xã hội


25

trên miền Bắc vẫn giữ vững và phát triển. Người ở hậu phương vừa sản xuất,
vừa chiến đấu; tính ưu việt và sức sống của chủ nghĩa xã hội thể hiện rõ nét hơn
bao giờ hết; với tiền tuyến lớn thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một
người.
Chuẩn bị cho việc đi vào cõi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh đã viết bản Di
chúc lịch sử, căn dặn những điều hệ trọng sau khi hoà bình lập lại, trog đó có
vấn đề thực hiện các chính sách xã hội mà "Đầu tiên là công việc đối với con
người", với những cán bộ, binh sĩ, dân quân du kích, thanh niên xung phong; các
liệt sĩ, cha mẹ, vợ con (của thương binh, liệt sĩ); phụ nữ; nông dân; nạn nhân của
chế độ xã hội cũ. Người viết rõ: Đảng và Chính phủ phải quan tâm giúp đỡ họ cả
về vật chất lẫn tinh thần. Hiếm có một lãnh tụ mà cuộc đời lại toàn tâm toàn ý
chăm lo cho con người, lo lắng đến chính sách xã hội như Hồ Chí Minh - lãnh tụ
vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status