Nghiên cứu đề tài :"Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩ xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam" doc - Pdf 15

Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
LỜI MỞ ĐẦU
Một con thuyền nhỏ bé mỏng manh đang lênh đênh trên đại dương bao la, rộng
lớn. Một con thuyền đang mất phương hướng giữa đại dương trong một không gian
mịt mù không một ánh đèn, chỉ có những tia sáng nhỏ ánh lên từ mắt của những người
thủy thủ và một luồng sáng rực rỡ phát ra từ đôi mắt sâu thẳm của vị thuyền trưởng.
Số phận của đất nước Việt Nam trong những ngày tháng nô lệ ấy chẳng khác nào con
thuyền đang lênh đênh trên đại dương bao la không xác định được phương hướng. Tuy
nhiên “thất bại chưa thua, đầu hàng mới thua”,”còn nước còn tát”. Trong thời điểm
đen tối ấy vẫn có rất nhiều những người con anh hùng của đất nước An Nam nhỏ bé đi
tìm đường cứu nước. Nguyễn Ái Quốc người anh hùng Nghệ An, một người An Nam
nhỏ bé nhưng đã làm chấn động cả thế giới với cuộc cách mạng giải phóng dân tộc
Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh- vị thuyền trưởng đã đưa con thuyền cách mạng Việt
Nam đến với bến bờ thành công, đất nước Việt Nam đến với bến bờ độc lập, tự do,
hạnh phúc- đã lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm cơ sở để sáng tạo nên tư tưởng của chính
mình: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH. Tư tưởng Hồ Chí Minh là chiếc “la bàn” đã đưa
cách mạng Việt Nam đến bến bờ thành công và hơn thế nữa. Với tư tưởng đúng đắn
sáng tạo- tư tưởng Hồ Chí Minh- đã đưa xã hội Việt Nam đến bến bờ XÃ HỘI CHỦ
NGHĨA, một vùng đất mà ở đó mọi người dân đều làm chủ, mọi tài sản đều là của
chung, một xã hội không có giai cấp, không có bóc lột, một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Tuy nhiên mặc dù chúng ta đang ở trên bến bờ xã hội chủ nghĩa nhưng một
xã hội công bằng, dân chủ, văn minh thì vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của Đảng và
dân ta.
Trên cơ sở đó mà nhóm chúng em đã chọn và tiến hành nghiên cứu” Tư tưởng
Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt
Nam”, em mong rằng đề tài sẽ giúp người đọc biết rõ hơn về con đường mà chúng ta
đang đi và nhận thức về nó sâu sắc hơn, từ đó sẽ xác định được những nhiệm vụ mà
chúng ta cần phải làm trong tương lai. Đề tài nhóm em nghiên cứu có kết cấu như sau:
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất và mục tiêu của chủ nghĩa xã hội .
2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ

GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
2
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
thắng lợi cho cách mạng Việt Nam. (Bậc cách mạng tiền bối hoặc là có ý thức giành
độc lập dân tộc lại không có ý thức canh tân đất nước; hoặc là có ý thức canh tân đất
nước lại kém ý thức chống Pháp). Cách mạng Việt Nam đòi hỏi có một giai cấp tiên
tiến đại diện cho phương thức sản xuất mới, có hệ tư tưởng độc lập, có ý thức tổ chức
và trở thành giai cấp tự giác đứng lên làm cách mạng. Hồ Chí Minh sớm nhìn thấy
phong trào yêu nước Việt Nam đang rơi vào khủng hoảng về đường lối, vì vậy cách
mạng chưa đem lại giải phóng dân tộc. Tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ
nghĩa xã hội xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam.
Cách mạng tháng mười Nga giành thắng lợi đã mở ra con đường hiện thực cho
giải phóng dân tộc ở phương Đông: độc lập dân tộc gắn liền với CNXH và Nguyễn Ái
Quốc đã bắt đầu truyền bá tư tưởng CNXH trong dân.
Hồ Chí Minh tiếp cận chủ nghĩa xã hội từ phương diện đạo đức, hướng tới
giá trị nhân đạo, nhân văn mác- xít. Chủ nghĩa xã hội là đối lập với chủ nghĩa cá
nhân.
Giải quyết tốt quan hệ cá nhân và xã hội theo quan điểm của C. Mác và Ph.
Ăngghen trong bản tuyên ngôn của Đảng Cộng sản mà hai ông công bố tháng 2/ 1848:
Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mỗi
người.
Hồ Chí Minh tiếp cận tư tưởng về từ tr chủ nghĩa xã hội truyền thống lịch
sử, văn hoá và con người Việt Nam.
Qúa trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng là quá trình xây dựng
một nền văn hóa mà trong đó kết tinh, kế thừa, phát triển những giá trị truyền thống
văn hóa tốt đẹp hàng nghìn năm của dân tộc ta, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, kết
hợp truyền thống với hiện đại, dân tộc và quốc tế.
Từ đặc điểm lịch sử dân tộc: Nước ta không trải qua thời kỳ chiếm hữu nô lệ,
mang đậm dấu ấn phong kiến phương Đông, mâu thuẫn giai cấp không gay gắt, quyết
liệt, kéo dài, như ở phương Tây, do đó hình thành Quốc gia dân tộc từ sớm; Ngay từ

của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Lênin viết: “Xã hội cộng sản, đó là
một xã hội trong đó tất cả là của chung: ruộng đất, nhà máy, lao động chung của mọi
người”. Tuy nhiên, khi gọi chủ nghĩa xã hội là chủ nghĩa cộng sản thì Lênin đã khẳng
định rằng đó chưa phải là chủ nghĩa cộng sản phát triển trên những cơ sở của chính nó,
chưa phải là chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn. Mà trái lại, đó mới chỉ là giai đoạn đầu hay
giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Khi giải thích những tư tưởng của
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
4
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin viết: “ Về mặt khoa học, thì sự khác nhau giữa chủ nghĩa
xã hội và chủ nghĩa cộng sản thật là rõ ràng. Cái mà người thường gọi là chủ nghĩa xã
hội, thì C.Mác gọi là giai đoạn “đầu” hay giai đoạn thấp của xã hội cộng sản chủ
nghĩa”.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin đã chỉ ra rằng, chủ nghĩa xã hội
với tư cách là một giai đoạn, một nấc thang của xã hội mới, là xã hội trực tiếp phát
sinh ra từ chủ nghĩa tư bản thì nó không chỉ đối lập một cách chung chung với chủ
nghĩa tư bản mà nó còn là một xã hội phát triển cao hơn, tốt đẹp hơn so với chủ nghĩa
tư bản. Điều này được thể hiện ở chỗ, chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra một năng suất lao
động cao hơn chủ nghĩa tư bản bởi mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là vì con người.
Trên cơ sở đó, chủ nghĩa Mác- Lênin đã khẳng định rằng, xét cho đến cùng thì
năng suất lao động là cái quan trọng nhất, quyết định nhất cho thắng lợi của chế độ
mới. Chủ nghĩa tư bản đã lật đổ được chế độ phong kiến bởi nó đã tạo ra một năng
suất lao động cao hơn chưa từng thấy so với chế độ phong kiến. Do đó, chủ nghĩa tư
bản cũng có thể bị lật đổ, bởi chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao
hơn nhiều so với chủ nghĩa tư bản. Và một điều nữa là, khác với chủ nghĩa tư bản,
những sản phẩm của chủ nghĩa xã hội được làm ra là nhằm đáp ứng cho nhu cầu ngày
càng cao của mọi thành viên trong xã hội chứ không nhằm nô dịch con người.
Và để phân biệt sự khác nhau giữa chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa tư bản, Lênin
đã đưa ra một số phác thảo về chủ nghĩa xã hội, được thể hiện ở những điểm sau:
Một là, cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội là nền đại công nghiệp cơ khí.

thức tổ chức lao động và kỷ luật lao động đó được thực hiện trên cơ sở của sự kiểm kê,
kiểm soát toàn dân đối với việc sản xuất và phân phối sản phẩm.
Ba là, chủ nghĩa xã hội thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động.
Theo Lênin, phân phối theo lao động là cách thức phân phối trong giai đoạn
thấp của xã hội cộng sản chủ nghĩa. Cách thức phân phối theo lao động là thích hợp
nhất với chủ nghĩa xã hội, bởi vì nó được dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Phân phối theo lao động không có nghĩa là mỗi người làm được bao nhiêu sản phẩm
thì được hưởng hết bấy nhiêu. Trái lại, tổng sản phẩm do lao động xã hội tạo ra phải
được đem phân phối cho cả tiêu dùng cá nhân, cho cả tích lũy tái sản xuất mở rộng và
cho cả tiêu dùng công cộng của xã hội. Tiêu dùng cá nhân chỉ là một phần trong tổng
sản phẩm do lao động của người công nhân làm ra. Tuy nhiên, theo các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác-Lênin, trên thực tế, những phần không phân phối trực tiếp cho tiêu
dùng cá nhân những người công nhân vẫn thuộc về họ, vẫn nhằm đảm bảo lợi ích cơ
bản, lâu dài, chung cho mọi thành viên trong xã hội.
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
6
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
Lênin chỉ rõ cách phân phối sản phẩm theo lao động được dựa trên hai nguyên
tắc: “người nào không làm thì không ăn”; “số lượng lao động ngang nhau thì hưởng số
sản phẩm ngang nhau”.
Do đó, Lênin cho rằng xã hội cần phải kiểm tra, kiểm soát nghiêm ngặt mức độ
lao động và mức độ tiêu dùng của từng người bởi dưới chủ nghĩa xã hội vẫn còn nhiều
người trốn tránh lao động, muốn làm ít hưởng nhiều, tránh việc nặng tìm việc nhẹ…
Bốn là, chủ nghĩa xã hội xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa, thiết lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Lênin đã nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ
nghĩa. Bởi, ông cho rằng chính chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa là nguyên nhân gây ra
mọi đau khổ của quần chúng nhân dân lao động. Do đó, để giải phóng người lao động
thì cần phải xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa. Lênin khẳng định: “Để thực sự
giải phóng giai cấp công nhân, cần phải có cuộc cách mạng xã hội, xuất phát một cách

ông đã chỉ ra rằng không những ruộng đất, mà cả lao động của con người, bản thân
con người, lương tâm, tình yêu và khoa học, tất cả nhất định đều để bán chừng nào còn
quyền lực của tư bản.
Tuy nhiên, khi đề cập đến vấn đề bình đẳng dưới chủ nghĩa xã hội thì điều đó
không có nghĩa là sự ngang bằng nhau về mọi phương diện. Bởi, chủ nghĩa xã hội
không thể thực hiện được sự bình đẳng hoàn toàn về mọi mặt, đặc biệt là sự bình đẳng
về thể lực và trí lực của các cá nhân. Trái lại, khi nói tới bình đẳng trong chủ nghĩa xã
hội thì phải luôn hiểu rằng đó là sự bình đẳng xã hội, bình đẳng về địa vị xã hội của
con người.
Tóm lại, chủ nghĩa xã hội sẽ không thể thực hiện sự bình đẳng hoàn toàn, sự
bình đẳng về mọi phương diện, bởi vì dưới chủ nghĩa xã hội vẫn thực hiện nguyên tắc
phân phối theo lao động, vẫn còn sự khác biệt giữa các giai cấp, sự khác biệt giữa
nông thôn và thành thị, v.v Những khác biệt đó cho thấy còn tồn tại những bất bình
đẳng xã hội. Mặc dù vậy, chủ nghĩa xã hội vẫn là xã hội bình đẳng hơn so với chủ
nghĩa tư bản. Điều đó được thể hiện trước hết ở sự bình đẳng xã hội, bình đẳng về địa
vị xã hội của con người. Quá trình phát triển của chủ nghĩa xã hội cũng chính là quá
trình khắc phục và xoá bỏ dần những bất bình đẳng trong xã hội.
Trên đây chưa phải là toàn bộ những phác thảo của Lênin về chủ nghĩa xã hội,
nhưng điều này đã cho thấy những quan điểm cấp tiến của ông khi đưa ra những dự
đoán về chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, do những điều kiện lịch sử quy định cho nên bản
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
8
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
thân ông cũng không tránh khỏi những thiếu sót khi đưa ra một số nhận định về chủ
nghĩa tư bản, hoặc một số dự đoán về chủ nghĩa xã hội.
 Quan điểm của Hồ Chí Minh:
Quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của chủ nghĩa xã hội là thống nhất với
các nhà kinh điển nhưng với cách diễn đạt ngôn ngữ nói và viết của Hồ Chí Minh thì
những vấn đề đầy chất lý luận chính trị phong phú, phức tạp được biểu đạt bằng ngôn
ngữ của cuộc sống nhân dân Việt Nam rất mộc mạc, dung dị, dễ hiểu bởi Người bày tỏ

dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cả cuộc đời vĩ đại và thanh cao của Hồ Chí Minh là dành cho dân, cho nước,
cho dân tộc và nhân loại. Ở Người “chỉ có một ham muốn tột bậc là làm sao cho nước
ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo
mặc, ai cũng được học hành” . Theo Người, “nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi;
nếu dân rét, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt, Đảng và Chính phủ có lỗi”. Tất cả
“mọi chủ trương, chính sách của Đảng là nhằm không ngừng nâng cao đời sống của
nhân dân nói chung và công nông nói riêng”.
Chúng ta có thể đọc được quan niệm của Hồ Chí Minh về bản chất của chủ
nghĩa xã hội trong nhiều bài viết, bài nói của Người. Song, điều dễ nhận thấy nhất ở tất
cả các bài viết, bài nói của Người đó là chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Ước nguyện
và lòng mong muốn đến cháy bỏng của Người cũng chính là ước nguyện và lòng
mong muốn của cả dân tộc Việt Nam về một tương lai tươi đẹp.
Nói cụ thể về chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam thì Hồ Chí Minh nhấn mạnh chủ
yếu những điểm như sau:
+ Đó là một chế độ chính trị do nhân dân lao động làm chủ.
+ Chủ nghĩa xã hội có nền sản xuất phát triển cao, gắn liền với trình độ khoa học
kỹ thuật tiên tiến và hiện đại. Ngày càng không ngừng nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần cho nhân dân.
+ Chủ nghĩa xã hội không có nạn người áp bức, bóc lột người. Có cuộc sống bình
đẳng và tự do. Làm theo năng lực, hưởng theo lao động … phúc lợi cho người già yếu,
người tàn tật và trẻ mồ côi …
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
10
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
+ Chủ nghĩa xã hội là một xã hội phát triển cao về văn hóa và đạo đức, được kết
tinh từ những truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc và những tinh hoa văn hóa của
thế giới.
+ Đó là một xã hội có nền đạo đức văn minh tiên tiến, trong đó người với người
là đồng chí, là bạn bè, là anh em. Một xã hội đảm bảo cho con người sống xứng đáng

của nền kinh tế mới.
 Về văn hoá – xã hội:
Hồ Chí Minh cho rằng chủ nghĩa xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản về văn hóa.
Tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội chính là về văn hóa, về giải phóng con người. Do
vậy, trong mục tiêu nói về văn hóa, tư tưởng, Hồ Chí Minh rất coi trọng đến việc xây
dựng một nền đạo đức, nền văn hóa tư tưởng và lối sống mới. Văn hóa thể hiện trong
mọi sinh hoạt tinh thần của xã hội, vì vậy phải xóa nạn mù chữ, xây dựng, phát triển
giáo dục, nâng cao dân trí, phát triển văn hóa giáo dục, thực hiện nếp sống mới, thực
hiện vệ sinh phòng bệnh, giải trí lành mạnh, bài trừ mê tín dị đoan, khắc phục phong
tục tập quán lạc hậu
Theo Người, văn hóa tư tưởng không phụ thuộc một cách máy móc vào điều
kiện sinh hoạt vật chất. Có thể điều kiện vật chất chưa cao nhưng vẫn xây dựng được
một lối sống tiên tiến lành mạnh và văn minh.
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Văn hóa giáo dục phải phát triển mạnh để phục vụ yêu
cầu cách mạng. Văn hóa giáo dục là một mặt trận quan trọng trong công cuộc xây
dựng chủ nghĩa xã hội … Giáo dục phải phục vụ đường lối chính trị của Đảng và
Chính phủ, gắn liền với sản xuất và đời sống của nhân dân … Trong việc giáo dục và
học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn
hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.
 Về con người:
Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh đến trao dồi, rèn luyện đạo đức cách mạng,
tài năng con người, đem tài năng cống hiến cho xã hội. Theo Người tài năng phải gắn
với đạo đức cách mạng “ có tài mà không đức là hỏng”. Hai mặt đó gắn bó thống nhất
với nhau. Do đó tất cả mọi người phải luôn luôn trao dồi đạo đức và tài năng, vừa có
đức vừa có tài, vừa “hồng” vừa “chuyên” .
Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người
xã hội chủ nghĩa”. Theo Người, trong chủ nghĩa xã hội, con người vừa là động lực,
vừa là mục tiêu của sự phát triển. Ở trong con người đó phải có được các đặc trưng cơ
bản sau: có tinh thần và năng lực làm chủ; có đạo đức cần kiệm liêm chính chí công vô
tư; có kiến thức khoa học kỹ thuật, nhạy bén với cái mới; có phong cách sống và làm

chủ, Hồ Chí Minh cũng quan tâm đến văn hoa, khoa học, giáo dục. Đó là những động
lực bên trong, tiềm tàng của sự phát triển. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng nhất là
trong vấn đề thực hiện công bằng xã hội phải theo nguyên tắc: “không sợ thiếu, chỉ sợ
không công bằng”. Tránh bình quân, Bác nêu khẩu hiệu 3 khoán và 1 thưởng. Thưởng
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
13
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
phạt công minh. “Khoán là một điều kiện của chủ nghĩa xã hội…”. Sử dụng vai trò
điều chỉnh các nhân tố tinh thần khác như: văn hoá, đạo đức, pháp luật đối với hoạt
động của con người. Đó là những động lực bên trong quan trọng.
- Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn nêu các động lực bên ngoài như kết hợp với sức
mạnh thời đại, tăng cường đoàn kết quốc tế, sử dụng những thành quả khoa học kỹ
thuật thế giới.
- Nét độc đáo trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh là chỉ ra yếu tố kìm hãm,
triệt tiêu nguồn lực vốn có của chủ nghĩa xã hội. Đó là các lực cản:
+ Căn bệnh thoái hoá, biến chất của cán bộ;
+ Chống chủ nghĩa cá nhân; Bác coi đó là kẻ thù hung ác của chủ nghĩa xã
hội .
+ Chống tham ô lãng phí; Bác coi đó là bạn đồng minh của thực dân phong
kiến.
+ Chống bè phái mất đoàn kết nội bộ; chống chủ quan, bảo thủ, giáo điều;
chống lười biếng Theo Bác các căn bệnh trên sẽ phá hoại đạo đức cách mạng, làm
suy giảm uy tín và ngăn trở sự nghiệp cách mạng của Đảng, Bác gọi đó là giặc nội
xâm.
Tóm lại, những quan niệm của Người về chủ nghĩa xã hội cho đến nay vẫn còn
giữ nguyên giá trị đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nói chung, đặc biệt là
trong sự nghiệp đổi mới mà chúng ta đang tiến hành, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Với
ánh sáng tư tưởng của Người với quyết tâm và sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân và
toàn quân ta, chắc chắn sự nghiệp dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh sẽ trở thành hiện thực trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Chế độ

đường tư bản chủ nghĩa hơn nữa nền kinh tế tư bản từ khi ra đời đều thể hiện bản chất
bóc lột.
- Trên thế giới đó có nhiều nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa
nhưng kết quả chỉ có một số ít nước có nền kinh tế phát triển. Cũng lại theo nhận xét
của Kissingter (một nhà tư bản tài chính) thì Châu Phi đói, Châu Á nghèo, Châu Mĩ La
Tinh nợ nần chồng chất.
Tính chủ quan của thời kỳ quá độ:
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
15
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
+ Giai cấp vô sản đó phải giành được chính quyền
+ Phải có Đảng, Mác-Xít-Lênin-Nớt lónh đạo.
+ Phải xây dựng được khối đoàn kết liên minh công- nông vững chắc.
Kết luận: Chúng ta có khả năng tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ
tư bản chủ nghĩa .
Hồ Chí Minh xác định rằng, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta là
cuộc chiến đấu chống lại nghèo nàn và lạc hậu… cho nên sự nghiệp ấy khó khăn hơn
việc đánh giặc. Do đó, quan niệm của Người về con đường quá độ lên chủ nghĩa xã
hội cung thống nhất với các nhà kinh điển và nhấn mạnh hình thức quá độ “rút ngắn”
áp dụng cho Việt Nam.
- Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là giải phóng dân
tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội.
- Cần nhận thức rõ tính quy luật chung và đặc điểm lịch sử cụ thể của mỗi nước
khi bước vào thời kỳ quá độ: “tuỳ hoàn cảnh, mà các dân tộc phát triển theo con đường
khác nhau Có nước thì đi thẳng đến chủ nghĩa xã hội, có nước thì phải kinh qua chế
độ dân chủ mới, rồi tiến lên chủ nghĩa xã hội”.
- Hồ Chí Minh xây dựng quan niệm quá độ gián tiếp căn cứ vào thực tiễn của
Việt Nam từ một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ
nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh khẳng định con đường cách mạng Việt Nam là tiến hành
giải phóng dân tộc, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến dần lên chủ

- Sự nghiệp của chúng ta bị các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm cách
chống phá. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa đòi hỏi khoa học, hiểu biết qui luật
khách quan, vừa phải có nghệ thuật quản lý khôn khéo.
2.1.2. Nội dung xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
ở nước ta :
Trong lĩnh vực chính trị : giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng
sản, củng cố và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất, nòng cốt là liên minh công nhân,
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
17
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
nông dân, trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo, củng cố và tăng cường sức mạnh toàn
bộ hệ thống chính trị cũng như từng thành tố của nó.
Về nội dung kinh tế : Người nhấn mạnh việc tăng năng suất lao động trên cơ sở
tiến hiành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; xây dựng cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu
các thành phần kinh tế, cơ cấu vùng kinh tế và lãnh thổ chủ trương đa dạng hoá các
loại hình sở hữu về tư liệu sản xuất, đồng thời coi trọng quan hệ phân phối và quản lý
kinh tế sử dụng hình thức và phương tiện của chủ nghĩa tư bản để xây dựng chủ nghĩa
xã hội. Kẻ thù muốn đè bẹp ta về kinh tế thay bằng quân sự, vì vậy ta phải phát triển
kinh tế.
Mặt tư tưởng, văn hoá, xã hội: Bác nêu phải khắc phục sự yếu kém về kiến
thức, sự bấp bênh về chính trị, sự trì trệ về kinh tế, lạc hậu về văn hoá… tất cả sẽ dẫn
đến những biểu hiện xấu xa, thoái hoá cán bộ, đảng viên… là khe hở chủ nghĩa tư bản
dễ dàng lợi dụng. Hồ Chí Minh nhấn mạnh “muốn cải tạo xã hội chủ nghĩa thì phải cải
tạo chính mình, nếu không có tư tưởng chủ nghĩa xã hội thì không làm việc chủ nghĩa
xã hội được”. “Khắc phục chủ nghĩa cá nhân là bước quan trọng để tiến lên chủ nghĩa
xã hội.”
2.2. Về bước đi và các biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam :
Hồ Chí Minh nêu 2 nguyên tắc có tính phương pháp luận:
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội mang tính quốc tế, cần nắm vững nguyên lý cơ
bản của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng chế độ mới. Phải học tập kinh nghiệm của

hội.
2.2.2. Về phương pháp, biện pháp, cách thức tiến hành:
Người nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, chống giáo điều, rập khuôn
phải tìm tòi cách riêng cho phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. “Muốn đỡ bớt mò
mẫm, đỡ phạm sai lầm thì phải học kinh nghiệm của các nước anh em” nhưng “áp
dụng kinh nghiệm ấy một cách sáng tạo”, “ta không thể giống Liên-xô vì Liên-xô có
phong tục tập quán khác, có lịch sử khác…”. Ví dụ: miền Bắc phải kết hợp hai nhiệm
vụ chiến lược: xây dựng miền Bắc, chiếu cố miền Nam; miền Bắc “vừa sản xuất, vừa
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
19
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
chiến đấu”, “vừa chống Mỹ cứu nước, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ”; “ chủ nghĩa xã
hội là của dân, do dân và vì dân”. Quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp “Là 2 bộ
phận chính, 2 ngành cơ bản của nền kinh tế, có quan hệ khăng khít, không thể thiếu bộ
phận nào, phát triển vững chắc cả hai”.
Phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội là “làm cho người nghèo thì đủ ăn,
người đủ ăn thì khá giàu, người giàu thì giàu thêm”, như vậy chủ nghĩa xã hội không
đồng nhất với đói nghèo, không bình quân, mà từng bước tiến lên cuộc sống sung túc,
dồi dào.
Cách làm, là đem tài dân, sức dân để làm lợi cho dân. Chính phủ chỉ giúp đỡ kế
hoạch, cổ động. Chủ nghĩa xã hội là do dân và vì dân. Người đề ra 4 chính sách: Công
- tư đều lợi, chủ- thợ đều lợi, công- nông giúp nhau, lưu thông trong ngoài. Chỉ tiêu 1,
biện pháp 10, chính sách 20 có như thế mới hoàn thành kế hoạch. Người đã sử dụng
một số cách làm cụ thể sau:
- Thực hiện cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, kết hợp cải tạo với xây
dựng, xây dựng làm chính.
- Kết hợp xây dựng với bảo vệ, tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược khác nhau
trong phạm vi một quốc gia.
- Xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có kế hoạch, biện pháp, quyết tâm thực hiện
thắng lợi kế hoạch.

hơn, đỏi hỏi mọi người cần phải cố gắng, nổ lực hết mình, phải đồng lòng, để góp
phần cùng đất nước tiến lên. Ngày nay việc nghiên cứu tư tưởng của Hồ Chí Minh đã
giúp cho thế hệ trẻ Việt Nam vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người vào trong thực
tiễn cách mạng. Với nền tảng là tư tưởng Hồ Chí Minh, với sự năng động sáng tạo của
thế hệ trẻ, với thành tựu của thế hệ trước để lại chắc chắn việc xây dựng một xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh là chuyện không khó.
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
21
Tư tưởng Hồ Chí Minh Lớp: DA08KTD
Từ đó mỗi người dân Việt Nam có thể vận dụng một cách sáng tạo tư tưởng Hồ
Chí Minh vào thực tiễn để đưa đất nước Việt Nam trở thành một xã hội công bằng, dân
chủ, văn minh đúng theo mong muốn của Bác.
HẾT
GVHD: PHAN THỊ THANH LÝ
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status