ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
NGÔ MINH THUẬN
GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO VÀ SỰ
VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN
KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội – 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------
NGÔ MINH THUẬN
GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG HỒ
CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO VÀ SỰ
VẬN DỤNG VÀO XÂY DỰNG KHỐI ĐOÀN
KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC&CNDVLS
Mã số: 62 22 80 05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
bồi dƣỡng giảng viên lý luận chính trị thuộc Đại học quốc gia Hà Nội, Ban
Tôn giáo Chính phủ, Ban Tuyên giáo tỉnh Thái Bình, Ban Tôn giáo tỉnh Thái
Bình, Trƣờng chính trị tỉnh Thái Bình.v.v.. đã cộng tác, giúp đỡ tác giả hoàn
thành luận án.
Xin chân thành cảm ơn tới tập thể lớp nghiên cứu sinh Triết học
K.2011 đã có nhiều đóng góp quan trọng giúp tác giả hoàn thành luận án.
MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC
1
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
2
Danh mục các bảng
3
MỞ ĐẦU
4
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LUẬN ÁN.................................
Thái Bình.............................................................................................................
71
3.2. Thực trạng vận dụng giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 2004 đến nay.............
81
3.3.Những vấn đề đặt ra của việcvận dụng giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh về xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình
118
Chƣơng 4. PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN TỐT VIỆC VẬN
DỤNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN TRONG TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN
KẾT TÔN GIÁO Ở TỈNH THÁI BÌNH NHỮNG NĂM ĐỔI MỚI TIẾP THEO.......
123
4.1. Xu hƣớng biến động của tôn giáovà phƣơng hƣớng vận dụng giá trị nhân
văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình.....
123
4.2.Các giải pháp vận dụng giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về
đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo................ 130
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.................................................................................................
153
ĐCS
: Đảng Cộng sản
LHPN
: Liên hiệp phụ nữ
MTTQ
: Mặt trận Tổ quốc
NQ
: Nghị quyết
QLNN
: Quản lý Nhà nƣớc
QĐ
: Quyết định
SL
: Sắc lệnh
UBND
75
Bảng 3.3. Thống kê cơ sở thờ tự, số lƣợng chức sắc, tín đồ đạo Tin lành
77
Bảng 3.4. Số làng nghề và lao động làm nghề trong làng nghề năm 2013
105
Bảng 3.5. GDP của tỉnh Thái Bình qua các năm
107
Bảng 3.6. Tên tôn giáo và những vụ vi phạm trên địa bàntỉnh Thái Bình
111
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của xã hội loài ngƣời cho thấy, tôn giáo là một hình thái ý thức
xã hội, đã tồn tại từ lâu trong đời sống tinh thần của con ngƣời. Trong quá trình tồn tại và
phát triển, tôn giáo có ảnh hƣởng hết sức phức tạp đến mọi mặt của đời sống xã hội của
nhiều dân tộc, đã có thời kỳ thần quyền lấn át thế quyền, thống trị và chi phối các mặt đời
sống xã hội. Bên cạnh đó, nhân loại cũng chứng kiến những cuộc chiến tranh đẫm máu,
kéo dài hàng trăm năm giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau trên thế giới. Thực tế lịch
sử chứng minh, tôn giáo thƣờng bị giai cấp thống trị sử dụng nhƣ một thứ công cụ đặc
Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng, nhìn chung nhân loại đang
muốn tiến tới sự hòa hợp, với một ý tƣởng nhân văn xây dựng trái đất thành ngôi nhà
chung của nhân loại. Vì vậy, sự giao lƣu văn hóa, tôn giáo đã và đang diễn ra rất mạnh
mẽ; không có một dân tộc hay một tôn giáo nào có thể cƣỡng lại đƣợc và cũng không có
một dân tộc hay tôn giáo nào có thể tiến lên đƣợc, nếu không có sự kế thừa, tiếp biến và
phát triển những giá trị bản sắc văn hóa dân tộc, tôn giáo vốn có của nó.Dân tộc Việt
Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh “dựng nước và giữ nước”, luôn chủ động kế
thừa, tiếp thu và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; kết hợp
với những giá trị tinh hoa văn hóa, tôn giáo của nhân loại vào việc giải quyết nhiệm vụ
lịch sử của đất nƣớc đặt ra. Điển hình cho sự kế thừa, tiếp nối và kết hợp hài hòa các giá
trị tinh hoa văn hóa Đông – Tây, hoà chung cùng dòng chảy chủ lƣu truyền thống yêu
nƣớc, đoàn kết, nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam - đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhƣ lời
nhận xét của Cố Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng: “Sự nghiệp văn hóa lớn lao nhất, quan
trọng nhất của Hồ Chí Minh là đã huy động sức mạnh của 4000 năm văn hiến của dân
tộc kết hợp với tinh hoa văn hóa của thời đại, lãnh đạo thành công sự nghiệp giải phóng
dân tộc, giành lại cho nhân dân ta quyền làm người, quyền được sống một cuộc sống
xứng đáng với con người. Sự nghiệp đó trả lại địa vị xứng đáng cho nền văn hóa Việt
Nam cũng là một sự nghiệp to lớn đối với nền văn hóa thế giới, góp phần vào cuộc đấu
tranh của nhân dân các nước thuộc địa, từng bước tiến lên thanh toán chủ nghĩa thực
dân, xóa bỏ đi một vết nhơ trong lịch sử và trong nền văn hóa của loài người”[50,tr.47-48].
Tổng kết toàn bộ lịch sử đƣờng lối cách mạng Việt Nam, tại Đại hội VII (1991)
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định nhất quán: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[35,tr.21]. Đối
5
với tín ngƣỡng, tôn giáo, Đại hội nhấn mạnh: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần
của một bộ phận nhân dân. Thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền
tự do tín ngƣỡng. Chống mọi hành động vi phạm tự do tín ngƣỡng; đồng thời chống việc
sáng tạo giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng khối đoàn
kết tôn giáo, dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế,
chính trị, xã hội, văn hóa tại địa phƣơng.
Trƣớc tình hình trên, Đại hội Đảng bộ tỉnh Thái Bình lần thứ XVIII (2010), tổng
kết công tác tôn giáo nhận định: Tín đồ tôn giáo là nguồn lao động dồi dào, có tiềm năng
và sức sáng tạo rất lớn góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH tại địa
phương; đồng thời cũng là đối tượng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng vào mục đích
chính trị nhằm phá vỡ khối đoàn kết toàn dân, làm suy yếu hệ thống chính trị. Vì vậy, cần
tiếp tụcđẩy mạnh củng cố, tăng cường hơn nữa khối đoàn kết tôn giáo trong nhân dân.
Xuất phát từ tình hình tình hình thực tế nêu trên, kết hợp với nhiệm vụ chính trị
trọng tâm của Đảng bộ tỉnh Thái Bình và những vấn đề còn tồn tại trong công tác xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo đặt ra hiện nay, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Giá trị
nhân văn trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng vào xây
dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình hiện nay” làm luận án tiến sĩ chuyên
ngành Triết học.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục đích của luận án
Nghiên cứunhữnggiá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn
giáo và sự vận dụng giá trị nhân văn đó vào thực tiễn công tác xây dựng khối đoàn kết
tôn giáo ở tỉnh Thái Bình hiện nay. Đồng thời, nghiên cứu đề xuất những phƣơng hƣớng
chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm củng cố, tăng cƣờng hơn nữa khối đoàn kết
tôn giáo ở Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo.
2.2. Nhiệm vụ của luận án
Một là, chỉ ra một số khái niệm liên quan đến luận án. Đồng thời, làm rõ những
nội dung giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo.
Hai là, chỉ ra những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt racủa việc vận dụng giá trị
nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công tác xây dựng khối đoàn kết tôn
giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 2004 đến nay.
7
4.2. Phương pháp nghiên cứu
8
Trong quá trình nghiên cứu và trình bày luận án, tác giả sử dụng phƣơng
pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Các phƣơng pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành khác đƣợc vận dụng
vào nghiên cứu nhƣ: tôn giáo học, xã hội học tôn giáo, triết học tôn giáo, sử học tôn giáo,
dân tộc học tôn giáo, văn hóa học tôn giáo, chính trị học tôn giáotrên tinh thần lý luận
gắn với thực tiễn nhằm phân tích mối quan hệ biện chứng giữa “tôn giáo với chính trị”,
“tôn giáo với kinh tế”, “tôn giáo với văn hóa”ở tỉnh Thái Bình hiện nay. Đồng thời, luận
án cũng vận dụng các phƣơng phápkhác nhƣ: lôgíc, phân tích, tổng hợp, thống kê, so
sánh, điều tra khảo sát thực tế và phỏng vấn nhanh.
5. Những đóng góp mới của luận án
Đây là công trình khoa học đƣợc trình bày một cách lôgíc và có tính hệ thống
về giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo, trên cơ sở đó
vận dụng vào xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình. Vì vậy, luận án có
những đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể:
- Khái niệm giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đoàn kết tôn giáo.
- Nghiên cứu rút ra những nội dung cơ bản giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí
Minh về đoàn kết tôn giáo. Đây là sự đóng góp mới về mặt lý luận nhằm chỉ ra bản chất
nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đƣợc thể hiện trong đoàn kết tôn giáo.
- Làm rõ thực trạng vận dụng giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào
xây dựng khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình từ năm 2004 đến nay. Đồng thời, chỉ ra
những vấn đề tồn tại, đặt ra trong công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo. Từ đó, đề
xuất những phƣơng hƣớng chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm củng cố, tăng
cƣờng hơn nữa khối đoàn kết tôn giáo ở tỉnh Thái Bình những năm đổi mới tiếp theo.
- Kết quả nghiên cứu đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy chuyên đề tôn giáo và công tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo tại một số
động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con ngƣời.
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần xã hội
Việt Nam hiện nay là chủ đề đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu,để làm rõ vị
trí, vai trò và sự ảnh hƣởng của văn hóa tôn giáo trong đời sống tinh thần dân tộc Việt
Nam thông qua giáo lý, giáo luật, nghi lễ và các tổ chức giáo hội. Qua đó, đề xuất những
phƣơng hƣớng chủ đạo và giải pháp mang tính khả thi nhằm gìn giữ, bảo tồn và phát huy
các giá trị truyền thống văn hóa tôn giáo trong đời sống xã hội Việt Nam, góp phần thực
hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
10
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kế t tôn giáođược nhiều
nhà khoa học quan tâm, kể từ khi có NQ/24/TW/1990 ban hành khẳng định: tôn giáo là
nhu cầu tinh thần không thể thiếu đƣợc của quần chúng nhân dân lao động và tôn giáo có
nhiều ƣu điểm tiến bộ phù hợp với công cuộc dựng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy,nghiên cứu
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về tôn giáo và đoàn kế t tôn giáo nhằm làm rõ
mục tiêu, nội dung,
nguyên tắc và phƣơng pháp đoàn kết tôn giáo; đặc biệt là những quan điểm, chính sách
của Hồ Chí Minh vềtôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngƣỡng, tôn giáo và không tín
ngƣỡng, tôn giáo của nhân dân; hay chủ đề tư tưởng Hồ Chí Minh vềtôn giáo với dân tộc
và chủ nghĩa xã hội nhằm làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và việc giải
quyết vấn đề tôn giáo trong lòng dân tộc; đồng thời chỉ ra mục tiêu, lý tƣởng của các tôn
giáo phù hợp với mục tiêu, lý tƣởng của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Qua đó,
khẳng định tôn giáo luônđồng hành cùng dân tộc trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội;
hay nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về khoan dung tôn giáo nhằm làm rõ quá trình
hình thành và phát triển văn hóa khoan dung Hồ Chí Minh trên lĩnh vực tôn giáo và nội
dung khoan dung tôn giáo của Ngƣời. Đồng thời, chỉ ra giá trị khoan dung tôn giáo trong
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh góp phần cứu nƣớc, giải phóng dân tộc, giai cấp, con ngƣời.
Nghiên cứu đường lố i, nghị quyết của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
sản văn hóa tinh thần của nhân loại. Cho nên, đã có nhiều công trình khoa học của các
tác giả trong và ngoài nƣớc đi sâu nghiên cứu nhƣ:
Cuốn sách của Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) (2005),Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
triển văn hóa và con người, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Các tác giả chỉ ra, tƣ tƣởng
về văn hóa và con ngƣời trong lịch sử đƣợc Hồ Chí Minh kế thừa và phát huy vào trong
tiến trình cách mạng Việt Nam nhằm giải phóng dân tộc, giai cấp, con ngƣời. Từ đó, các
tác giả chú trọng vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về văn hóa và con ngƣời vào việc phát
triển văn hóa và xây dựng con ngƣời Việt Nam thông qua chiến lƣợc “trồng người”
nhằm đáp ứng sự nghiệp CNH, HĐH hiện nay.Tuy nhiên, các tác giả chƣa chỉ ra chủ thể
của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển văn hóa và con người trong đời
sống xã hội và những yêu cầu đối với việc vận dụng hiện nay.
Cuốn sách của Đinh Xuân Lâm,Bùi Đình Phong(đồng chủ biên)(2007),Văn hóa
và triết lý phát triển trong tư tưởng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Trƣớc tiên, các tác giả chỉ ra thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 là
12
thắng lợi chính trị; đồng thời cũng là thắng lợi của sức mạnh văn hóa- đó là lấy nhân
nghĩa làm gốc, lấy đại nghĩa làm đầu, dùng chí nhân thay cƣờng bạo. Từ đó, các tác giả
liên hệ chỉ ra giá trị trƣờng tồn trong bản “Tuyên ngôn độc lập” và “Trong lời kêu gọi
toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có tính chất nhƣ một văn kiện, hàm
chứa giá trị văn hóa to lớn đó là: Văn minh thắng tàn bạo thực dân. Sức mạnh của văn
hóa không chỉ là sức mạnh vật chất của con người mà còn là sức mạnh của chủ nghĩa
yêu nước, sức mạnh của văn hóa tương lai; đồng thời các tác giả cũng nhấn mạnh đến
triết lý phát triển của Hồ Chí Minh đó là: “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội.Tuy nhiên, các tác giả, chƣa đề cập nhiều đến việc vận dụng văn hóa và triết lý phát
triển trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Cuốn sách của Phạm Ngọc Anh, Bùi Đình Phong (đồng chủ biên)(2009),Hồ Chí
Minh văn hóa và phát triển, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội. Các tác giả chỉ ra, ở
nhiều nhà khoa học quan tâm nhƣ:Luận án của Lê Quý Đức (1994), Chủ nghĩa nhân văn
Hồ Chí Minh với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay. Tác
giả chỉ ra sự kế thừa và phát triển chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh trong lịch sử tƣ
tƣởng nhân văn của nhân loại; đồng thời làm rõ tƣ tƣởng nhân văn thể hiện trên lĩnh vực
tƣ tƣởng nghệ thuật, cụ thể là: Tư tưởng nhân văn về bản chất nghệ thuật, về vai trò chức
năng của nghệ thuật, về sự nghiệp giải phóng con người, giải phóng dân tộc và giải
phóng xã hội, đem lại hạnh phúc và sự phát triển nhân cách cá nhân cho mỗi con người.
Tuy nhiên, luận án chƣa đề cập đến mối quan hệ giữa văn hóa nghệ thuật với việc đấu
tranh chống lại các trào lƣu phi văn hóa và phản văn hóa hiện nay.
Luận án của Trần Đình Châu (1994), Tư tưởng nhân văn trong di sản quân sự
của Hồ Chí Minh. Tác giả chỉ ra, tƣ tƣởng nhân văn của nhân dân Việt Nam và của nhân
loại và đƣợc Ngƣời phát triển sáng tạo trong điều kiện mới của cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con ngƣời. Luận án chỉ ra sự thống nhất giữa tƣ
tƣởng nhân văn Hồ Chí Minh và tƣ tƣởng bạo lực cách mạng của Ngƣời trong khởi
nghĩa và chiến tranh.Luận án chƣa đề cập nhiều đến việc vận dụng tƣ tƣởng nhân văn
trong di sản quân sự của Hồ Chí Minh vào tập hợp lực lƣợng cách mạng của toàn dân,
cũng nhƣ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Luận án của Nguyễn Hữu Công (2001),Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát triển con
người toàn diện đã làm rõ cơ sở lý luận của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về phát triển con
ngƣời toàn diện; luận chứng làm rõ những nội dung cơ bản trong tƣ tƣởng phát triển con
14
ngƣời toàn diện của Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tác giả chỉ ra những vấn đề đang đặt ra trong
thực tiễn phát triển con ngƣời toàn diện ở nƣớc ta hiện nay.Cuốn sách của Phạm Bá Toàn
(2012), Giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ qua hồi ký, nhật ký chiến tranh, NXB Quân đội
nhân dân. Tác giả, bƣớc đầu làm rõ một số khái niệm cơ bản về giá trị, hệ giá trị và thang
giá trị; đồng thời chỉ ra giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ qua hồi ký, nhật ký, chiến tranh.
Cuối cùng, tác giả đƣa ra một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy giá trị văn hóa Bộ
tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lƣợc, Ngƣời vẫn yêu mến và đề cao văn
hóa Pháp, vẫn ca ngợi truyền thống dân chủ của cách mạng Mỹ. Bài viết của Hêrôminô
(1990), “Báo diễn đàn nhân dân của Vênêxuêla”(775), ra ngày 19-5 nhận định: Suốt đời
mình, từ buổi khởi nghiệp cách mạng cho đến khi từ biệt thế giới này, không lúc nào Hồ
Chí Minh lơ là đến việc thực hành giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên.
Bản thân Ngƣời tự mình thực hành đạo đức còn nhiều hơn nhƣ: nói đi đôi với làm,
gƣơng mẫu từ việc lớn đến việc nhỏ, việc công cũng nhƣ việc tƣ; đời sống cá nhân trong
sáng, giản dị, một hình ảnh mẫu mực về “Ngƣời lãnh đạo và là Ngƣời đầy tớ thật trung
thành của nhân dân”.
Bài viết của M.AT-MÉT (1990), “Hồ Chí Minh, một nhân vật vĩ đại đã cống hiến
trọn đời mình cho sứ mệnh tự do và độc lập”. Tác giả nhận định, Hồ Chí Minh đã có
những cống hiến rất lớn cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc không chỉ ở Việt
Nam mà còn trên thế giới. Ngƣời đƣợc ghi nhớ không phải chỉ là ngƣời giải phóng cho
Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ, mà còn là nhà hiền triết hiện đại đã mang lại một viễn
cảnh và hy vọng mới cho những ngƣời đang đấu tranh không khoan nhƣợng để loại bỏ
bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này.
Bài viết của Hans D‟Orville (2010), “Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá
trị và thời đại”. Tác giả, trƣớc tiên đặt ra câu hỏi và tự trả lời, “Hồ Chí Minh của năm
2010 là ai?”. Từ việc trả lời câu hỏi trên, tác giả khẳng định Hồ Chí Minh là Ngƣời giải
phóng dân tộc và đấu tranh suốt đời cho tự do, đấu tranh cho sự phát triển của đất nƣớc,
của khu vực và thế giới. Từ đó, tác giả đƣa ra luận cứ khẳng định thông điệp cho đến nay
vẫn còn nguyên giá trị đối với dân tộc và nhân loại đó là: “Vì lợi ích mười năm trồng
cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”. Nhìn chung, những công trình khoa học của các
tác giả nƣớc ngoài đều khẳng định, tƣ tƣởng nhân văn của Hồ Chí Minh có một sức sống
mãnh liệt góp phần vào sự nghiệp đấu tranh cho tự do, hòa bình, công bằng, bình đẳng;
16
đồng thời làm cho văn hóa của các dân tộc ngày càng xích lại. Đây chính là những cống
vị nào, từ một ngƣời phụ bếp trên con tàu lúc ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc, cho đến khi trở
thành Lãnh tụ của một nƣớc độc lập, Ngƣời vẫn giữ đƣợc nếp sống riêng giản dị và đức
khiêm tốn hết mực, luôn một lòng vì nƣớc, vì dân. Qua đó,bài viết nhấn mạnh việc thực
hiện Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 về giáo dục, bồi dƣỡng, rèn luyện phẩm chất,
đạo đức, lối sống theo tƣ tƣởng, tấm gƣơng đạo đức Hồ Chí Minh một cách thiết thực,
hiệu quả. Cuối cùng bài viết khẳng định, đây chính là yêu cầu vừa mang tính lâu dài, vừa
là đòi hỏi cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nƣớc ta hiện nay, vừa là yếu tố cơ bản để
hình thành đạo đức cách mạng của ngƣời Việt Nam thời đại mới.
Nhìn chung, các bài viết khẳng định tƣ tƣởng nhân văn hay giá trị nhân văn của
Hồ Chí Minh có nét sáng tạo độc đáo riêng biệt, có ý nghĩa không chỉ đối với dân tộc
mà còn đối với thời đại. Nó hƣớng tới việc giải phóng con ngƣời khỏi áp bức bóc lột
của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và xây dựng một nền văn hóa yêu chuộng hòa bình và
công lý trên thế giới.
1.2.2. Nhóm công trình khoa học nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn
giáo, đoàn kết tôn giáo và sự vận dụng vào thực tiễn Việt Nam
Trong những năm đổi mới vừa qua, đặc biệt từ Đại hội VII (1991) khẳng định:
“Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim
chỉ nam cho hành động”. Vì vậy, việc vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh là một yêu cầu
tất yếu, khách quan nhằm xây dựng thành công khối đoàn kết tôn giáo, dân tộc; đồng
thời đấu tranh làm thất bại các âm mƣu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch,
chống đối. Cho nên, đã có nhiều nhà khoa học đi sâu nghiên cứuvấn đề này nhƣ:
Cuốn sách của các tác giả Phùng Hữu Phú, Đại Đức Thích Minh Trí (đồng chủ
biên) (1997), Hồ Chí Minh với Phật giáo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các tác giả cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu những yếu tố tích cực, tiến bộ
của Phật giáo để làm phong phú thêm hành trang tƣ tƣởng của Ngƣời về tôn giáo. Tuy
nhiên, tác giả chƣa đi sâu nghiên cứu sự vận dụng sáng tạo triết lý Phật giáo trong tƣ
tƣởng Hồ Chí Minh vào sự nghiệp cứu nƣớc, giải phóng dân tộc. Viện Nghiên cứu Tôn
giáo, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1998), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo, tín
hoạt Lý luận (5/2003). Các công trình trên, tác giả đã chỉ ra quan điểm của Hồ Chí Minh
về đoàn kết lƣơng giáo, nhằm phục vụ cho mục tiêu giải phóng giải phóng dân tộc, giai
cấp, con ngƣời và sự ảnh hƣởng của Nho giáo đến tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
19
Những công trình khoa học của các tác giả nêu trên, chủ yếu tập trung đi sâu phân
tích tƣ tƣởng, quan điểm, nguyên tắc, phƣơng pháp xây dựng khối đoàn kết tôn giáo của
Hồ Chí Minh. Từ đó, nghiên cứu sự vận dụng tƣ tƣởng của Ngƣời vào việc xây dựng và
ban hành chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, có rất ít công trình khoa
học đi sâu nghiên cứu, vận dụng giá trị nhân văn trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh vào công
tác xây dựng khối đoàn kết tôn giáo hiện nay.
1.2.3.Nhóm công trình khoa học nghiên cứu vềkhoan dung tôn giáo và khoan
dung tôn giáo Hồ Chí Minh
Tƣ tƣởng khoan dung đã đƣợc tìm hiểu theo các mức độ, phạm vi, mục đích khác
nhau và đƣợc nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau nhƣ: Triết học, văn hóa học, tâm lý
học, tôn giáo học... Tuy nhiên, đề cập đến khoan dung trên lĩnh vực tôn giáo là chủ đề
mà đề tài luận án quan tâm, nghiên cứu.Đỗ Quang Hƣng (1997)với bài viết, “Tôn giáo
và khoan dung: Trƣờng hợp của Việt Nam”, Tạp chí Triết học (5) đã xuất phát từ vấn đề
tôn giáo học để giải đáp cho sự tồn tại của tƣ tƣởng khoan dung trong lĩnh vực tôn giáo.
Bài viết tập trung khai thác thực trạng tồn tại nhiều loại hình tôn giáo khác nhau ở Việt
Nam, cũng nhƣ hiện tƣợng tam giáo đồng nguyên. Đồng thời, bài viết lý giải sự khoan
dung trong đời sống tín ngƣỡng, tôn giáo của Việt Nam nhƣ là nhu cầu tất yếu và hình
thành đặc điểm văn hóa tâm linh tồn tại trong tâm hồn ngƣời Việt. Mặc dù nội dung bài
viết chƣa tiếp cận trực diện, nhƣng nó cũng gợi mở để tiếp tục nghiên cứu vấn đề này.
Tác giả Hajine Nakamura (2006), có bài viết “Tinh thần khoan dung và sự hòa
giải trong tƣ duy của ngƣời Ấn Độ”, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật (1); hay các bài viết của
Hoàng Thị Thơ (2007), “Vài suy ngẫm về khoan dung trong lịch sử Phật giáo Ấn Độ và
Phật giáo Việt Nam”,Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo (12); “Khoan dung trong lịch sử Phật
Nguyễn Thị Phƣơng Mai (2014), “Khoan dung của Phật giáo: Một đóng góp vào việc
giải quyết bất cập trong lối ứng xử của ngƣời Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu
Tôn giáo (6). Bài viết khẳng định, tƣ tƣởng khoan dung của Phật giáo không chỉ nằm
trong giáo lý, trong đạo đức và trong hành động của Phật tử; mà nó còn đƣợc hiện thực
hóa trong hoạt động chính trị và ảnh hƣởng tới đƣờng lối chính trị của một quốc gia.
Trong bối cảnh hiện nay, lối ứng xử của con ngƣời Việt Nam đang phải đối diện với vấn
đề do quá trình giao lƣu văn hóa, quá trình phát triển kinh tế và xã hội trong thời đại toàn
cầu mang lại. Để giải quyết bất cập trong quan hệ đó, tác giả chỉ ra khoan dung của Phật
giáo có đóng góp nhất định không chỉ trong mối quan hệ giữa con ngƣời với xã hội, mà
21