I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
PHM TH HNG Lấ
TƯ TƯởNG Hồ CHí MINH Về NHà NƯớC PHáP QUYềN
Và Sự VậN DụNG TRONG CảI CáCH TƯ PHáP
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01
LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS. HONG TH KIM QU
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Phạm Thị Hồng Lê
Nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
pháp quyền .................................................................................. 14
1.2.1.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Hiến pháp, pháp luật ........................... 14
1.2.2.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức quyền lực nhà nước, về nhà
nước của dân, do dân, vì dân ......................................................... 28
1.2.3.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, quyền công dân ....... 32
1.2.4.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức .... 43
Chương 2: CẢI CÁCH TƯ PHÁP VÀ Ý NGHĨA, NỘI DUNG CƠ
BẢN CỦA SỰ VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN ............................................... 48
2.1.
Khái niệm về cơ quan tư pháp và cải cách tư pháp .................. 48
2.2.
về nhà nước pháp quyền trong cải cách tư pháp hiện nay ....... 67
2.4.1.
Ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
pháp quyền trong cải cách tư pháp hiện nay .................................. 67
2.4.2.
Nội dung vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp
quyền trong cải cách tư pháp hiện nay .......................................... 68
KẾT LUẬN ................................................................................................. 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 97
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLHS
Bộ luật Hình sự
CCTP
Cải cách tư pháp
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
Viện Kiểm sát
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
DANH MỤC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
Trang
Bảng 2.1: Thống kê các khung hình phạt trong Bộ luật Hình
sự năm 1999 gắn với việc phân loại tội phạm
72
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Một trong những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc ta
trong thế kỉ XX là thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 và việc
thành lập nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Cách mạng tháng tám đã xoá
bỏ chế độ thuộc địa nửa phong kiến ở nước ta, mở ra kỉ nguyên mới của lịch
sử dân tộc, kỉ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Thành quả lớn nhất của cách mạng tháng Tám năm 1945 là đã xây dựng
tiễn đối với đời sống nhà nước. Chính vì thế, việc nghiên cứu lý luận và thực
tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền đang là một trong những
tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc
cải cách tư pháp hiện nay.
Tính tất yếu khách quan này xuất phát từ định hướng xây dựng CNXH,
mà mục tiêu cơ bản là xây dựng một chế độ: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân
chủ, công bằng, văn minh. Chúng ta ý thức sâu sắc rằng để đạt được một chế
độ xã hội với mục tiêu như vậy, công cụ, phương tiện cơ bản chỉ có thể là nền
kinh tế thị trường XHCN, một nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo
của Đảng Cộng sản Việt Nam trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Qua quá trình tìm hiểu và sưu tầm tài liệu cho thấy, đã có rất nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu khoa học về đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước pháp quyền, có thể kể tên một số bài viết đã được thực hiện như:
- Một số vấn đề về nhà nước pháp quyền ở nước ta, Tạp chí Cộng sản
số 1(122) năm 2007 của TS Nguyễn Văn Hiện;
- Xây dựng nhà nước pháp quyền; Tạp chí Cộng sản số 1 (122) năm
2007 của đồng chí Tô Huy Rứa, Uỷ viên BCT;
2
- Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; Tạp chí
Cộng sản số 61 năm 2004 của GS Lê Xuân Lựu;
- Một số đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, Tạp chí dân
chủ và pháp luật số 5 năm 2005 của TS Hoàng Thị Kim Quế;
- Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp xây dựng nhà nước kiểu mới và
pháp luật ở Việt Nam; Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội năm 1982 của
tác giả Nguyễn Ngọc Minh;
- Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới; Nhà xuất bản chính trị
- Xây dựng quyền lực nhà nước của các công dân trên nền tảng một hệ
thống pháp luật ngày càng hoàn thiện;
- Nhà nước pháp quyền XHCN phải được vận hành và tổ chức theo
nguyên tắc tập trung dân chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam;
- Xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam phải phù hợp với những
giá trị phổ biến tiến bộ của nhân loại.
- Xây dựng nhà nước pháp quyền thể hiện qua công cuộc cải cách tư
pháp hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với phương pháp luận là Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh giúp cho tư duy và góc độ nghiên cứu luôn đi đúng hướng và có hiệu
quả, kết hợp với phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh,
đánh giá, tổng kết kinh nghiệm và phương pháp liên ngành; là ba phương
pháp nghiên cứu chính và cụ thể để sử dụng khi nghiên cứu đề tài này.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Hiện nay chúng ta đang từng bước xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
Nam XHCN của dân, do dân và vì dân. Chỉ khi có một nhà nước như vậy mới có
thể phát huy được quyền dân chủ của nhân dân, đảm bảo quyền sống, quyền
được làm việc, được lao động, được học hành, được đảm bảo an ninh trật tự, an
toàn xã hội. Nó ảnh hưởng đến sự lành mạnh của nền dân chủ, tới cuộc sống và
số phận của từng người dân, tới chiều hướng phát triển của xã hội.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã xác định xây dựng nhà nước
4
pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng là một trong những nhiệm vụ
có tính chiến lược; đề tài được nghiên cứu góp phần làm sáng rõ các giá trị
lâu bền, thể hiện tầm nhìn vượt thời đại tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước
pháp quyền mang tính thời đại đối với thực tế nước ta hiện nay, không chỉ có
nơi mà nền dân chủ sơ khai đã được hình thành. Trong giai đoạn này, các nhà
tư tưởng cổ đại không chỉ thuần túy quan tâm tới tính thượng tôn của pháp
luật mà còn coi pháp quyền như là một phương thức tìm kiếm sự tổ chức hợp
lý của hệ thống quyền lực nhà nước. Đáng chú ý trong thời kỳ này là tư tưởng
pháp quyền sơ khai của hai triết gia nổi tiếng Plato và Aristotle. Plato khẳng
định pháp luật phải là ông chủ của chính quyền để ngăn ngừa sự xuất hiện của
những kẻ chuyên quyền. Tương tự, Aristotle cho rằng pháp luật cần phải được
xem như là sự kiềm chế đối với các pháp quan để hạn chế sự tùy tiện trong
quá trình đưa ra các phán quyết.
Tư tưởng và các học thuyết pháp quyền được tiếp tục bổ sung và phát
triển khi giai cấp tư sản ở các quốc gia phương Tây không ngừng lớn mạnh,
6
đấu tranh chống lại giai cấp phong kiến và giáo hội, từ đó từng bước giành
ảnh hưởng trên chính trường. Trong thời kỳ này, tư tưởng pháp quyền được
phát triển và hòa quyện vào các học thuyết về phân quyền, chủ nghĩa lập hiến
và dân chủ. Nhiều nhà nghiên cứu lớn đã xuất hiện với vai trò hết sức quan
trọng trong việc bồi đắp và phát triển các học thuyết pháp quyền. Các tên tuổi
và tác phẩm trứ danh trong thời kỳ này cần phải kể đến là Locke J. với tác
phẩm “Khảo luận thứ hai về chính quyền”, J.J. Rousseau với tác phẩm “Khế
ước xã hội” và Ch.L. Montesquieu với tác phẩm “Tinh thần pháp luật”. Đặc
điểm nổi bật nhất của tư tưởng pháp quyền trong giai đoạn này là đề cao các
giá trị dân chủ, tự do và quyền con người. J.J. Rousseau đã bắt đầu tác phẩm
của mình với câu nói bất hủ: “Con người được sinh ra một cách tự do, nhưng
khắp nơi lại bị xiềng xích”. Từ đó, các nhà tư tưởng trong giai đoạn này tập
trung tìm kiếm một cơ chế chế ước quyền lực nhà nước, chống lại sự lạm
quyền và xây dựng một mô hình chính phủ hợp lý nhằm hạn chế việc vi phạm
các quyền con người. Ch.L. Montesquieu với học thuyết tam quyền phân lập
đã được các học giả tư sản phương Tây coi là hòn đá tảng trong việc xây dựng
chất có thể quy về các giá trị có tính tổng quát sau:
Nhà nước pháp quyền là biểu hiện tập trung của chế độ dân chủ. Dân chủ
vừa là bản chất của nhà nước pháp quyền vừa là điều kiện, tiền đề của chế độ
nhà nước.
Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân
chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân. Nhân dân thực hiện
quyền dân chủ của mình thông qua dân chủ trực tiếp; dân chủ đại diện.
Nhà nước pháp quyền được tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến
pháp và pháp luật.
Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn
bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp
pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.
8
Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập Hiến, mọi hệ thống pháp luật đều
có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp
và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ
pháp quyền trong nhà nước và xã hội.
Nhà nước pháp quyền tôn trọng, đề cao và đảm bảo quyền con người
trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội.
Quyền con người là tiêu chí đánh giá tính pháp quyền của chế độ nhà
nước. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải xuất phát từ sự tôn trọng và đảm
bảo quyền con người, tạo mọi điều kiện cho công dân thực hiện quyền của
mình theo đúng các quy định của luật pháp.
Mối quan hệ giữa cá nhân và nhà nước được xác định chặt chẽ về
phương diện luật pháp và mang tính bình đẳng. Mô hình quan hệ giữa Nhà
nước và cá nhân được xác định theo nguyên tắc: Đối với cơ quan nhà nước
chỉ được làm những gì luật cho phép; đối với công dân được làm tất cả trừ
trong các mối quan hệ: Nhà nước và kinh tế; Nhà nước và xã hội.
Trong mối quan hệ giữa Nhà nước và kinh tế, vị trí, vai trò, chức năng,
nhiệm vụ của Nhà nước được xác định bởi tính chất, trình độ của các mô hình
kinh tế thị trường, theo hướng Nhà nước tôn trọng, phát huy các quy luật
khách quan của thị trường, thông qua thị trường để điều tiết các quan hệ kinh
tế, đồng thời khắc phục, hạn chế các mặt tiêu cực của thị trường.
Trong mối quan hệ với xã hội, Nhà nước thông qua luật pháp để quản
lý xã hội, tôn trọng đề cao vị trí, vai trò và quyền tự chủ (tự quản) của các cấu
trúc xã hội (các tổ chức xã hội, các cộng đồng xã hội).
Mối quan hệ giữa Nhà nước, kinh tế, xã hội là mối quan hệ tương tác,
quy định và chi phối lẫn nhau. Nhà nước không đứng trên kinh tế và xã hội.
Nhà nước pháp quyền gắn liền với kinh tế và xã hội, phục vụ kinh tế và xã hội
trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật.
1.1.2. Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã
tích lũy được biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước, được phản
10
ánh trong các bộ sử lớn của dân tộc như Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều
hiến chương loại chí,... Kinh nghiệm làm luật, trị nước được ghi lại trong các
bộ luật nổi tiếng như Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), bộ
luật Hồng Đức (đời Lê),... mà giá trị của nó có thể sánh ngang với các bộ luật
nổi tiếng ở phương Đông, trong đó có những tư tưởng còn được đề cập đến
sớm hơn cả phương Tây, ví dụ vấn đề bình đẳng đối với phụ nữ: cho phép ly
hôn, có quyền thừa kế tài sản, công nhận công lao chung của vợ chồng trong
vấn đề tài sản, cho phép nhận con nuôi…
Những yếu tố tích cực của nhà nước thân dân thời kỳ phong kiến hưng
thịnh trong lịch sử dân tộc cùng với hình ảnh lý tưởng về nhà nước "vua
viết, mà phải nói toàn thế nhân dân liên hiệp và lập chính phủ dân
chủ cộng hoà [6, tr.7].
Chương trình Việt Minh cũng ghi rõ: Sau khi đánh đuổi được
đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân của Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa lấy lá cờ đỏ ngôi sao vàng năm cánh làm lá
cờ toàn quốc. Chính phủ ấy do quốc gia đại hội cử ra [10, tr.150].
Khi thời cơ giải phóng dân tộc đã đến gần, trong Thư gửi đồng bào
toàn quốc (10-1944), Hồ Chí Minh cũng nói rõ: trước hết cần có một chính
phủ đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể
quốc dân, gồm tất cà các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong
nước bầu cừ ra. "Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì
lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc ngoài thì giao thiệp với các hữu
bang" [19, tr.505].
Như vậy, từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà
nước đại biểu cho khối đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng
suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp
với sự chuyển hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
Sang năm 1945, phong trào phát triển mạnh, căn cứ địa cách mạng
được mở rộng, hình thành một vùng rộng lớn gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn,
Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên và một số vùng ngoại vi
thuộc các tình Bắc Giang, Vĩnh Yên, Phú Thọ, Yên Bái,...
13
Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh chi thị thành lập Khu giải phóng, cử
ra ủy ban chỉ huy lâm thời, thực hiện chức năng của chính quyền cách mạng.
Tại các địa phương trong Khu giải phóng, các ủy ban nhân dân cách mạng
cũng được thành lập, do nhân dân cử ra, để thi hành 10 chính sách của Việt
Minh. Khu giải phóng là hình ảnh "nước Việt Nam mới phôi thai", "các ủy
Chí Minh còn chỉ đạo soạn thảo, ký quyết định công bố 16 đạo luật và 1.300
văn bản dưới luật, trong đó có 243 Sắc lệnh quy định về tổ chức nhà nước đã
hình thành một thể chế bộ máy nhà nước có nhiều nhân tố cơ bản của một nhà
nước pháp quyền.
Hồ Chí Minh luôn khẳng định: Pháp luật của ta là pháp luật dân chủ,
phải nghiêm minh và phát huy hiệu lực thực tế. Nhà nước sử dụng pháp luật
để quản lý xã hội. Song pháp luật của ta đã có sự thay đổi về chất, mang bản
chất của giai cấp công nhân, là một loại hình pháp luật kiểu mới, pháp luật
thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao
động. Báo cáo tại hội nghị chính trị đặc biệt, ngày 27/3/1964, một trong 5
nhiệm vụ để hoàn thành sự nghiệp cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên
là “Tăng cường không ngừng chính quyền nhân dân. Nghiêm chỉnh thực hiện
dân chủ với nhân dân, chuyên chính với kẻ địch. Triệt để chấp hành mọi chế
độ và pháp luật của Nhà nước” [26, tr.235].
Nét đặc sắc trong tư tưởng của Hồ Chí Minh về tổ chức nhà nước là các
cơ quan nhà nước hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ theo quy định của
pháp luật nhưng trong điều kiện của một nước thuộc địa nửa phong kiến ở
phương Đông, Hồ Chí Minh sử dụng linh hoạt pháp trị và đức trị trong tổ
chức hoạt động của Nhà nước và quản lý nhà nước.
Cán bộ trực tiếp thực thi luật pháp phải thật sự công tâm và nghiêm
minh. Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên có nhiệm vụ “gương mẫu chấp
hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể cách mạng của quần
16
chúng mà mình tham gia”. Trong việc giữ vững tính nghiêm minh và hiệu lực
của pháp luật, cán bộ làm công tác tư pháp có vai trò quan trọng. Họ chính là
người trực tiếp thực thi luật pháp, đại diện cụ thể cho “cán cân công lý”. Vì
thế, Hồ Chí Minh yêu cầu ở họ phải có phẩm chất đạo đức cần thiết: Trong
[2, tr.562]. Rõ ràng ý chí của giai cấp thống trị, thông qua pháp luật, hướng
tới việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm định hướng các quan hệ xã hội
phát triển theo hướng có lợi cho giai cấp thống trị, đồng thời bảo vệ và cùng
cố địa vị của giai cấp thống trị.
Như vậy, bản chất giai cấp luôn là thuộc tính chung của bất kỳ kiểu
pháp luật nào, nhưng mồi kiểu pháp luật có những cách thể hiện riêng. Tuy
nhiên, điểm chung của pháp luật trong các kiểu nhà nước bóc lột trước đó chỉ
là ý chí của thiểu số giai cấp thống trị, là công cụ áp bức giai cấp còn pháp
luật xã hội chủ nghĩa thì hoàn toàn khác với các kiểu pháp luật trước đó về
chất, nó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, là công
cụ để xây dựng xã hội mới trong đó mọi người đều được sống tự do, bình
đẳng, dân chủ và công bằng xã hội được bảo đảm.
Trong quá trình hoạt động của mình, với tinh thần phê phán sâu sắc và
đấu tranh kiên quyết chống pháp luật tư sản và chế độ thuộc địa tàn bạo, Hồ
Chí Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Đây là sự kiện đánh dấu sự thay
đổi về chất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật. Đứng trên lập trường
của chủ nghĩa duy vật lịch sử Mácxít, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định:
“Trong các nhà nước bóc lột, pháp luật là vũ khí của giai cấp thống trị dùng
để cai trị các giai cấp đối kháng, pháp luật đó là ý chí của thiểu số, bảo vệ,
duy trì lợi ích của giai cấp thống trị và áp bức đa số nhân dân lao động” [15].
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng. Tổ chức cuộc đấu tranh vạch trần
bản chất phản nhân dân, phản tiến bộ của nhà nước và pháp luật đế quốc, thực
dân: “Pháp luật cũ là ý chí của thực dân Pháp, không phải là ý chí của toàn
18
thể nhân dân ta” [32, tr.185]. Pháp luật là vũ khí của giai cấp thống trị để
trừng trị giai cấp chống lại mình; mục đích đầu tiên của pháp luật bóc lột là
trừng trị và áp bức giai cấp; bản chất của pháp luật bóc lột là phản dân chủ,