TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
DANH SÁCH NHÓM 10 – XNK 14A (XNK 13L, M)
XNK 13L
1. Lưu Văn Cường
2. Trần Thanh Cường
3. Lê Phạm Quang Duy
4. Vũ Hoàng Giang
5. Nguyễn Văn Hòa
6. Nguyễn Văn Hưng
7. Nguyễn Tấn Luân
8. Nguyễn Đình Mùi
9. Lê Thị Ngọc Quý
10.Đinh Vũ Thiên Thanh
11.Huỳnh Minh Việt
XNK 13M
1. Lê Thị Thoại My
2. Nguyễn Phú Nam
Nhóm 10 – XNK 14A 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
PHỤ LỤC
Trang
Phần mở đầu 4
Phần I: Cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước 5
1. Cơ sở lý luận 5
2. Cơ sở thực tiễn 7
Phần II: Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh
mẽ; xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả 9
I. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ
9
1. Xây dựng một Nhà nước hợp hiến, hợp pháp 10
2. Quản lý Nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào trong cuộc
Nhóm 10 – XNK 14A 3
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
Phần mở đầu
Trong lịch sử của các dân tộc thường có các vĩ nhân mà cuộc đời và sự nghiệp,
tư tưởng và hành động gắn liền với cả một giai đoạn lịch sử đầy sôi động, đầy biến
cố của dân tộc và thời đại mình: phản ánh ý chí, nguyện vọng của các dân tộc
thông qua các hoạt động của mình đã góp phần to lớn vào sự phát triển của thời đại
như Mác, Ănghen, V.I.Lênin…và Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những con
người như vậy.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn nửa thế kỷ.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là sản phẩm tất yếu của cách mạng Việt Nam, là sự kết tinh
trí tuệ của dân tộc và thời đại, là sự vận dụng sáng tạo và bước phát triển của chủ
nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh
là linh hồn, là ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã và đang ngày một vươn lên
sánh vai cùng các cường quốc năm châu, đang dần khẳng định vị thế của mình trên
trường quốc tế về một Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ.
Để đạt được thành quả trên là cả một quá trình đấu tranh gian khổ với những
hy sinh mất mát không thể bù đắp được của bao thế hệ cha ông ta. Và để có được
nền độc lập, dân chủ của nước nhà thì ngoài sự cống hiến, hy sinh của cả dân tộc,
còn có những con người kiệt xuất với phẩm chất anh dũng, kiên cường, không sợ
khó, sợ khổ, sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc. Con người kiệt xuất ấy mang tên
Nguyễn Tất Thành đã một mình bôn ba khắp năm châu, bốn bể để tim ra con
đường mang lại độc lập tự do cho tổ quốc mình. Nhắc tới Người là nhắc tới một vị
anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba và
đặc biệt là người cha già kính yêu của dân tộc. Cả cuộc đời Người đã cống hiến sự
nghiệp giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do cho đất nước. Tư tưởng của
Người đã đưa dân tộc ta vượt qua muôn trùng khó khăn để đi đến những thắng lợi
Nhóm 10 – XNK 14A 4
mình.
Nhà nước pháp quyền: Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó
nhà nước và cá nhân phải tuân thủ pháp luật, mọi quyền và nghĩa vụ của tất cả, của
mỗi người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Nguồn gốc ra đời của nhà nước:
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin: “Nhà nước là một phạm trù lịch sử,
nhà nước chỉ ra đời, tồn tại trong một giai đoạn nhất định của sự phát triển xã hội
và sẽ mất đi khi những cơ sở tồn tại của nó không còn nữa”.
Cụ thể, nhà nước ra đời có nguồn gốc sau:
“Lực lượng sản xuất phát triển đã dẫn tới chế độ tư hữu tư liệu sản xuất và từ đó
xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng, với những mâu thuẫn giai cấp không
thể điều hòa được. Điều đó dẫn tới nguy cơ các giai cấp sẽ tiêu diệt lẫn nhau, và để
tránh nguy cơ bị diệt vong và điều tiết các mâu thuẫn giai cấp thì nhà nước đã ra
đời. Như vậy, nguyên nhân trực tiếp của sự ra đời của nhà nước là mâu thuẫn giai
cấp không thể điều hòa được.
b) Cơ sở lý luận
Trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã tích lũy
được biết bao kinh nghiệm quý báu về xây dựng nhà nước, được phản ánh trong
các bộ sử lớn của dân tộc như “Đại việt sử ký toàn thư”, “Lịch triều hiến chương
loạn chí”… Kinh nghiệm trị nước cũng ghi lại trong các bộ luận nổi tiếng như
“Hình thư (đời Lý), Quốc triều hình luật (đời Trần), bộ luật Hồng Đức (đời Lê)…”
Những yếu tố tích cực của nhà nước thân nhân thời kỳ phong kiến hưng thịnh
trong lịch sử dân tộc: “ nước lấy dân làm gốc”, tiếp thu nho giáo… là những hành
trang đầu tiên Hồ Chí Minh mang theo trên con đường cứu nước và tìm kiếm một
mô hình nhà nước tiến bộ cho đất nước sau khi giành độc lập.
Nhóm 10 – XNK 14A 6
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
Trong Nhà nước và cách mạng, V.I.Lênin coi nhà nước là một trong những vấn
đề phức tạp nhất, khó khăn nhất, nhưng lại là vấn đề rất cơ bản và rất mấu chốt
trong toàn bộ chính trị mà giai cấp vô sản không thể không giải quyết trong cuộc
lý đầu tiên đặt vấn đề kết hợp khăng khít quyền tự quyết của các dân tộc với các
quyền tự do, dân chủ của nhân dân, kết hợp chặt chẽ quyền dân tộc và quyền con
người. Đây cũng là lần đầu tiên một người Việt yêu nước đã dũng cảm đứng lên lật
tẩy những chiêu bài bịp bợm của thực dân, đế quốc và buộc chúng phải thực hiện
những quyền dân tộc dân chủ mà chúng đã rêu rao.
Trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã khảo sát mô hình Nhà nước tư sản
Mỹ, Pháp. Người phát hiện ra đằng sau những lời hoa mỹ về “ quyền bình đẳng,
quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc” của tuyên ngôn độc lập 1776
đó là sự bất bình đẳng, nghèo đói, nạn phân biệt chủng tộc và biết bao tàn bạo, bất
công khác. Người coi đó là “những cuộc cách mạng không đến nơi” vì ở đó chính
quyền vẫn ở trong tay một số ít người, và vì cách mệnh đã thành công hơn 150
năm, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần hai.
Sau khi đến Liên Xô, Người đã tìm thấy mô hình nhà nước kiểu mới: “… phát
ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền,… ra sức tổ chức kinh tế mới,
để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng” đã gợi ý cho Người về một kiểu nhà
nước sẽ được xây dựng ở Việt Nam trong tương lai mà Người đã nêu ra trong
Chánh cương vắn tắt của Đảng năm 1930.
Năm 1941, Hồ Chí Minh về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng, chủ trì Hội nghị
lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương (5-1941), hoàn chỉnh sự chỉ đạo chuyển
hướng chiến lược, đề ra Chương trình Việt Minh. Hội nghị chủ trương “không nên
nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xô-viết mà phải nói toàn thể nhân dân
liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”. Chương trình Việt Minh cũng ghi rõ:
Nhóm 10 – XNK 14A 8
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
“Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập một chính phủ nhân dân
của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa…Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra”.
Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu
cho khối đại đoàn kết của toàn thể quốc dân là một bước chuyển sáng suốt của Hồ
Chí Minh, phản ánh được nét đặc thù của thực tiễn dân tộc, phù hợp với sự chuyển
hướng chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam.
Sau khi nhận được tin báo ngày 19-08-1945, Tổng khởi nghĩa thành công tại Hà
Nội và ngày 23-08-1945 thành công tại Huế, Đảng bộ miền Nam quyết định ngày
25-08-1945 tiến hành tổng khởi nghĩa tại Sài Gòn và các tỉnh còn lại. Giành lại
chính quyền từ tay phát xít Nhật. Đập tan ách thống trị của thực dân Pháp, sau 87
năm đô hộ dưới danh nghĩa “bảo hộ”, “khai hóa” Việt Nam, 2 lần bán nước ta
cho Nhật.
Chiều 30-08-1945 trước cửa Ngọ Môn, trước cuộc mít tinh hàng vạn người
tham gia, vua Bảo Đại đọc lời thoái vị và nộp ấn kiếm cho cách mạng. Đại diện
chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa tuyên bố xóa bỏ chế độ quân chủ
tại Việt Nam.
Ngày 02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên
ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa-Nhà nước Dân chủ
Cộng hòa đầu tiên ở châu Á.
Bản Tuyên ngôn độc lập Hồ Chí Minh đọc ngày 02-09-1945 đã nêu rõ:”Pháp
chạy , Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ xiềng xích thực dân gần
100 năm, gây dựng Việt Nam Độc Lập. Dân ta lại đánh đổ Chế độ Quân chủ mấy
mươi thế kỷ lập nên chế độ Dân chủ cộng hòa“. Hồ Chí Minh lại khẳng định
“chúng tôi lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn bộ nhân
Nhóm 10 – XNK 14A 10
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
dân Việt Nam, tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước
mà Pháp đã kí về Việt Nam, xóa bỏ tất cả các đặc quyền của Pháp trên Việt Nam”.
Bản Tuyên ngôn không chỉ tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới về sự
khai sinh của Nhà nước Việt Nam , qua đó biểu dương lực lượng và ý chí của toàn
thể dân tộc Việt Nam. Đây còn là cơ sở vững chắc để chính phủ lâm thời do cuộc
cách mạng của nhân dân lập nên có được địa vị hợp pháp.
Để đánh giá một quốc gia, người ta thường nhìn vào bản Hiến pháp bởi vì nó là
một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập thủ tục,
quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Bởi vậy, tất cả các quốc gia được
coi là hợp hiến đều rất cần có bản Hiến pháp dân chủ thể hiện nhà nước pháp
phủ liên hiệp đầu tiên. Đây chính là Chính phủ có đầy đủ giá trị pháp lý để giải
quyết một các có hiệu quả những vấn đề đối nội và đội ngoại ở nước ta. Đồng thời,
Quốc hội đã bầu Ban Dự thảo Hiến pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng, Tôn
Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần
Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục
Viên. Đây là các trí thức tiêu biểu có người chưa phải là đảng viên. Căn cứ vào bản
Dự án của Chính phủ và đối chiếu với bản Dự thảo của Uỷ ban kiến quốc, tập hợp
những kiến nghị phong phú của toàn dân và tham khảo kinh nghiệm soạn Hiến
pháp của các nước, Ban Dự thảo Hiến pháp của Quốc hội đã soạn thảo một Dự án
Hiến pháp để trình Quốc hội. Trong phiên họp ngày 29-10-1946, Ban Dự thảo Hiến
pháp của Quốc hội được mở rộng thêm 10 vị đại biểu cho các nhóm, đại biểu trung
lập, đại biểu Nam Bộ, đại biểu đồng bào dân tộc thiểu số để tham gia tu bổ thêm
bản Dự án.
Tại kỳ họp thứ hai Quốc hội khóa I, từ ngày 28-10 đến ngày 9-11-1946, sau
nhiều buổi thảo luận và tranh luận sôi nổi, sửa đổi, bổ sung cho từng điều cụ thể,
ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Hiến pháp của nước Việt Nam
Nhóm 10 – XNK 14A 12
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
dân chủ cộng hòa, Hiến pháp 1946 với sự nhất trí của 240/242 đại biểu dự họp.
Hiến pháp 1946 khá đơn giản, có 70 điều, được xây dựng trên tư tưởng pháp
quyền, tự do dân chủ của công dân, và quy định những vấn đề cơ bản nhất của nhà
nước. Đặc điểm cơ bản của Hiến pháp năm 1946 được thể hiện trong 3 nguyên tắc
cơ bản, đó là: đoàn kết toàn dân, không phân biệt giống nòi, gái trai, giai cấp, tôn
giáo trên cơ sở của nhà nước pháp quyền với quyền tự do dân chủ của công dân .
Do hoàn cảnh lịch sử của nước ta thời ấy nên Hiến pháp 1946 tuy có nhiều tiến bộ
nhưng vẫn còn có mặt bị hạn chế, phải dung hòa…
2. Quản lý nhà nước bằng pháp luật và chú trọng đưa pháp luật vào trong
cuộc sống
Quản lý nhà nước là quản lý bằng bộ máy và bằng nhiều biện pháp khác nhau
nhưng quan trọng nhất là quản lý bằng hệ thống luật, trong đó quan trọng bậc nhất
truyền pháp luật tới người dân, khuyến khích nhân dân tham gia các công việc của
Nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức.
Trong việc thực thi hiến pháp và pháp luật, Hồ Chí Minh bao giờ cũng chú ý
bảo đảm tính nghiêm minh và hiệu lực của chúng. Người không ngừng nhắc nhở
cán bộ các cấp các ngành phải tuân thủ pháp luật, trước hết là cán bộ ngành hành
pháp và tư pháp. Trong thư gửi hội nghị tư pháp toàn quốc, Người viết”các bạn là
những người phụ trách thi hành pháp luật, lẽ tất nhiên các ạn phải nêu cao cái
gương phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư cho nhân dân noi theo”.
Người đòi hỏi pháp luật phải đúng và đủ, người thực thi luật pháp phải thực sự
công tâm và nghiêm minh, không có một trường hợp ngoại lệ nào đặc biệt trong
hàng ngũ cán bộ; đảm bảo cho luật pháp trở thành cán cân công lý đối với mọi
người,không có một trường hợp ngoại lệ nào, bất kỳ ai vi phạm cũng bị xử nghiêm
khắc, đúng người, đúng tội.
Nhóm 10 – XNK 14A 14
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
3. Tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của Nhà nước đủ đức và
tài:
Để xây dựng một Nhà nước pháp quyền vững mạnh, vấn đề xây dựng đội ngũ
cán bộ, công chức được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Nói một cách tổng quát
nhất về yêu cầu đối với đội ngũ này là vừa có đức vừa có tài, trong đó đức làm gốc;
đội ngũ này phải được tổ chức hợp lý, có hiệu quả.
Cụ thể, Hồ Chí Minh nên lên những yêu cầu về xây dựng đội ngũ cán bộ, công
chức sau đây:
Một là, tuyệt đối trung thành với cách mạng. Đây là yêu cầu đầu tiên cần có đối
với đội ngũ này. Cán bộ, công chức phải là những người kiên định mục tiêu, lý
tưởng: Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ Nghĩa Xã Hội; kiên cường bảo vệ chế độ
Xã Hội Chủ Nghĩa, bảo vệ Nhà nước. Hồ Chí Minh nhấn mạnh lòng trung thành đó
phải được thể hiện hàng ngày, hàng giờ, trong mọi lĩnh vực công tác.
Hai là, hăng hái, thành thạo công việc, giỏi chuyên môn, nghiệp vụ. Chỉ với
lòng nhiệt tình không thôi thì chưa đủ và cùng lắm chỉ phá được cái xấu, cái cũ mà
dám chịu trách nhiệm, nhất là trong những tình huống khó khăn, “thắng không
kiêu, bại không nản”. Đó là những người có ý thức sẵn sàng là “công bộc”, làm
“đầy tớ” cho dân, những người cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, làm việc với
tinh thần đầy sáng tạo. Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ, công chức phải luôn luôn tu
dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, luôn luôn “có chí tiến thủ”, luôn luôn học tập
để nâng cao trình độ về mọi mặt, học ở trường, học ở trong cuộc sống, trong công
tác, học ở thầy, học ở bạn.
Năm là phải thường xuyên phê bình và tự phê bình, luôn có ý thức và hành động
vì sự lớn mạnh, trong sạch của Nhà nước. Bộ máy Nhà nước theo quan điểm của
Hồ Chí Minh cần gọn nhẹ, phù hợp từng giai đoạn cụ thể để phục vụ cho mục tiêu
hoạt động của Nhà nước, tất cả vì sự phát triển của đất nước, vì lợi ích của Tổ
Nhóm 10 – XNK 14A 16
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
quốc, của nhân dân, không vì lợi ich của cá nhân nào. Chức vụ quyền hạn của cán
bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước là do nhân dân ủy quyền để làm việc ích lợi
cho nhân dân.
II. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh,
hoạt động có hiệu quả.
1. Đề phòng và khắc phục những tiêu cực trong hoạt động của Nhà nước
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân không
bao giờ tách với việc làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Khi nước nhà
giành được độc lập, chính quyền còn non trẻ hay khi cách mạng chuyển giai đoạn,
Hồ Chí Minh càng chú ý hơn bao giờ hết đến việc bảo đảm sự trong sạch, vững
mạnh của của các cấp chính quyền, bởi vì những thử thách rất gay gắt và những
tiêu cực rất dễ trở thành biến nguy cơ biến chất Nhà nước.
Hồ Chí Minh đã chỉ ra sáu bệnh cần đề phòng: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư
túng, chia rẽ, kiêu ngạo. Người nhắc nhở: “chúng ta không sợ sai lầm, nhưng đã sai
lầm thì phải ra sức sửa chữa. Vậy nên ai không phạm thì tránh đi, và gắng sức thêm
cho tiến bộ. Ai đã phạm những lỗi trên này thì phải hết sức sửa chữa, nếu không tự
sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung…chúng ta phải ghi sâu những chữ
cho công tác. Hồ Chí Minh kịch liệt lên án tệ kéo bè kéo cánh. Người có tài đức
nhưng không vừa ý mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc nước là việc công, chứ
không phải của riêng dòng họ ai. Trong chính quyền, còn hiện tượng gây mất đoàn
kết, không biết cách làm cho mọi người đoàn kết với nhau. Ngoài việc cậy thế, còn
có người kiêu ngạo “ tưởng mình ở trong cơ quan là thần thánh rồi… cử chỉ lúc nào
cũng vác mặt quan cách mạng” làm mất uy tín của Chính phủ.
Nếu chiến sĩ và nhân dân ra sức chống giặc ngoại xâm mà quên chống giặc nội
xâm, như thế là chưa làm tròn nhiệm vụ của mình”. Người nói: “Vì những người và
Nhóm 10 – XNK 14A 18
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
những cơ quan lãnh đạo từ cấp trên đến cấp dưới không sát công việc thực tế,
không theo dõi và giáo dục cán bộ, không gần gũi quần chúng.
2. Tăng cường tính nghiêm minh của pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục
đạo đức cách mạng
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, muốn xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh,
hiệu quả, trước hết phải tăng cường pháp luật đi đôi với đẩy mạnh giáo dục đạo
đức. Từ nền kinh tế tiểu nông, quen sống theo luật tục hơn pháp luật, bỏ qua chế độ
tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội, lại trải qua nhiều năm chiến tranh….muốn hình
thành ngay Nhà nước pháp quyền là một điều chưa thể làm ngay được. Trong việc
xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay, phải nhấn mạnh vai trò của pháp luật,
khẩn trương xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, đẩy mạnh việc tuyên truyền,
giáo dục pháp luật trong nhân dân. Song song với việc nhấn mạnh vai trò của pháp
luật, cần đề cập tới vấn đề giáo dục đạo đức. Đạo đức và pháp luật là hai lĩnh vực
khác nhau nhưng lại kết hợp và bổ sung cho nhau trong thực tế trị nước.
Tiếp thu và vận dụng kinh nghiệm lịch sử của các bậc hiền tài trong văn hóa trị
nước, trong suốt 24 năm ở cương vị đứng đầu Nhà nước, Người luôn chú trọng
giáo dục đạo đức nhưng cũng không ngừng nâng cao vai trò, sức mạnh của luật
pháp. Theo Người, một nền chính trị đạo đức và đạo đức cao nhất là “hết lòng hết
sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong
mọi việc.”
Dù hệ thống pháp luật có hoàn chỉnh đến đâu, việc thi hành vẫn không thể tốt
nếu như tăng cường pháp luật không đi đôi với giáo dục đạo đức cho đội ngũ cán
bộ Nhà nước, trước hết là những người giữ chức năng bảo vệ pháp luật.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp thống nhất, biến chứng giữa giáo dục đạo
đức và tăng cường pháp luật cần được chúng ta kế thừa và phát huy trên con đường
xây dựng một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, trong sạch, vững mạnh, có hiệu quả.
Nhóm 10 – XNK 14A 20
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
Phần III: Ý NGHĨA, VẬN DỤNG
1. Ý nghĩa
Với những giá trị khoa học to lớn, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do
nhân dân và vì nhân dân chính là cơ sở, định hướng cho việc xây dựng, củng cố và
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mà giờ đây, Đảng ta xác định là
một nhiệm vụ trọng tâm của quá trình đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện
nay.
Sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đang đứng trước những cơ hội và thách
thức chưa từng có. Xu thế toàn cầu hóa đang phát triển sâu rộng với tốc độ nhanh,
mở ra cơ hội cho các nước chậm phát triển có thể đuổi kịp các nước phát triển.
Nhưng từ chiến tranh chống ngoại xâm chuyển sang hòa bình xây dựng kinh tế, từ
cơ chế quản lí tập trung, quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lí nhà nước, trong điều kiện mở cửa, hội nhập
kinh tế quốc tế, làm ăn với nước ngoài,…đã có sự thay đổi rất nhiều, từ nội dung
nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động cho đến yêu cầu về phẩm chất,
năng lực của con người vận hành bộ máy nhà nước. Trong tình hình đó nếu không
có một nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, hiệu lực, tranh thủ
nắm lấy vận hội, thì nước ta khó theo kịp cường quốc năm châu và vững mạnh nhà
nước xã hội chủ nghĩa.
2. Vận dụng
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh, liên hệ với tình hình hiện nay, có thể thấy nổi
Phát huy dân chủ phải kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản
lí xã hội bằng pháp luật. Nhà nước phải tiếp tục thể chế hóa bằng pháp luật các
quyền dân chủ của người dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là
Nhóm 10 – XNK 14A 22
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
trong hoạt động kinh tế. Đồng thời, phải đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng và chống
vi phạm pháp luật, đảm bảo cho mọi công dân đều được bình đẳng trước pháp luật,
đảm bảo mọi hành vi vi phạm pháp luật đều bị xét sử nghiêm minh, đúng người,
đúng tội, không phân biệt người đó là ai, để đem lại niềm tin cho nhân dân vào tinh
nghiêm minh của pháp Luật nhà nước ta.
Cải cách và kiện toàn bộ máy hành chính Nhà nước, xây dựng một nền hành
chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh
Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, pháp luật của nhà nước là điều kiện
tiên quyết, song nếu không có một nền hành chính mạnh, có hiệu lực thì chính
sách, luật pháp dù đúng, cũng không thể đi vào cuộc sống. nền hành chính yếu kém
là một trợ lực lớn cho đổi mới và phát triển. Do đó, cải cách và kiện toàn bộ máy
hành chính đang là một yêu cầu bức xúc. Nhân dân mong mỏi được sống và làm ăn
trong một môi trường an ninh, trật tự, dân chủ, không bị phiền hà, sách nhiễu,
người ngay được bảo vệ, kẻ gian bị trừng trị.
Cải cách hành chính để có một nền hành chính dân chủ, trong sạch, phục vụ đắc
lực nhân dân, giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội theo pháp luật. nó phải phục vụ tận
tụy, công tâm, đáp úng yêu cầu hàng ngày về quyền lợi hợp pháp của nhân dân.
Muốn thế, bán thân nó phải trong sạch và có kỷ cương, phải thanh toán được những
căn bệnh mà từ rất sớm Hồ Chí Minh đã chỉ ra: trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng,
chia rẻ, kiêu ngạo, “lúc nào cũng vác mặt” quan cách mạng lên.không biết rằng,
thía độ kiêu ngạo đó sẻ làm mất lòng tin cậy của dân, sẻ hại đến uy tín của chính
phủ. Tóm lại, phải phấn đấu xóa bỏ ấn tượng hiện nay trong nhân dân: hành chính
là hành dân là chính!
Những vấn đề bức xúc nổi lên hiện nay thường biểu hiện tập trung ở các cơ
quan hành chính hàng ngày có quan hệ tiếp xúc trực tiếp với nhân dân. Cần phải
Nhóm 10 – XNK 14A 24
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC
Khi nghiên cứu tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước, đọc lại những gì
Người đã viết, đã nói về xây dựng Nhà nước, chúng ta càng thấy những việc,
những vấn đề mà Người đã đề cập đến trong lĩnh vực này vẫn còn nguyên giá trị,
còn mang tính thời sự nóng hổi đối với công cuộc xây dựng Nhà nước ta hiện nay.
Những tư tưởng đó của Người rất cần chúng ta nghiên cứu, kế thừa và phát huy
trên con đường xây dựng một Nhà nước pháp quyền mạnh mẽ, trong sạch, vững
mạnh và có hiệu quả
Nhóm 10 – XNK 14A 25