ĐỀ TÀI : TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC - Pdf 20

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
TIỂU LUẬN MÔN HỌC TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
ĐỀ TÀI
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VẤN
ĐỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
1. BÙI PHI CÔNG 10327441
2. NGUYỄN TẤN CƯỜNG 10307391
3. HÀ SƠN ĐẠI 10307331
4. PHẠM VĂN ĐẠT 10318891
5. VƯƠNG ANH VIỄN ĐÔNG 10358531
6. NGUYỄN TRƯỜNG HẢO 10318921
7. PHAN HIẾU PHƯỚC 10326581
8. VÕ THANH SƠN 10339351
9. TRẦN VINH THẠNH 10313371
10.NGUYỄN HỮU TRÍ 10339371
11.CAO VĂN TRÍ 10345911
12.NGUYỄN CÔNG ỬNG 10329871
GVHD: TS. NGUYỄN MINH TRÍ.
TP.HCM, THÁNG 3/2011
2
LỜI CAM KẾT
Nhóm chúng em cam kết đây là tiểu luận của riêng nhóm chúng em
không sao chép của bất cứ ai. Chỉ sử dụng các đoạn văn trích dẫn bằng
1/10 số chữ trong tiểu luận.
Ký tên
Nhóm trưởng
Bùi Phi Công
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài

một cách sâu sắc của việc đoàn kết toàn dân chống giặc cứu nước. Từ
những lần thất bại của các phong trào khởi nghĩa trước đó và sự thành
công mạnh mẽ của cách mạng tháng 10 Nga, Bác nhận thấy muốn cách
mạng thành công điều cần thiết là phải đoàn kết các dân tộc lại thành một
lực lượng thống nhất và từ đó đã hình thành nên tư tưởng của Bác.
3.2. Chương 2: Tư tưởng Hồ Chí Minh kết hợp sức mạnh dân tộc
với sức mạnh thời đại.
Từ thành công của cách mạng tháng 10 Nga đã làm tình hình thế
giới bắt đầu có nhiều chuyển biến tích cực cho các nước thuộc địa. Bác đã
áp dụng hoàn cảnh nước nhà vào hoàn cảnh thời đại, Bác cho rằng muốn
cách mạng Việt Nam thành công thì điều cần thiết là phải phát huy sức
mạnh toàn dân với sự đoàn kết quốc tế, và từ đây Bác đã không ngừng kêu
gọi sự đoàn kết giữa các nước vô sản với nhau để làm cách mạng thành
công. Đặc biệt là sự đoàn kết giữa các dân tộc Việt Nam với thế giới.
4
3.3. Chương 3: Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh hiện nay.
Tiếp bước tư tưởng của Bác về vấn đề đại đoàn kết dân tộc Đảng và
nhà nước ta không ngừng áp dụng tư tưởng vào thực tiễn xã hội. Nhiều
nghị quyết của Đảng vể vấn đề dân tộc cho thấy nhà nước ta đang cố gắng
đưa tư tưởng của bác vào để xây dựng một xã hội công bằng hơn, đoàn kết
hơn.
4. Kết quả nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài nhóm chúng em đã học được rất
nhiều điều. Chúng em hiểu thêm về tầm quan trọng của việc đại đoàn kết
dân tộc, quả thật cũng từ tư tưởng của Bác mà quân và dân ta đã chíên
thắng kẻ thù xâm lược giành độc lập dân tộc. Nhờ chính sách đại đoàn kết
dân tộc mà giờ đây đất nước ta đã trở thành một khối đoàn kết anh em dù
chúng ta có tới 54 dân tộc, đây cũng là một thành công lớn của Đảng và
nhà nước ta trong việc thực thi tư tưởng của Bác. Từ tư tưởng của Bác mà

nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự
nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.
Chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết cộng đồng của dân tộc
Việt Nam là cơ sở đầu tiên, sâu xa cho sự hình thành tư tưởng Hồ Chí
Minh về đại đoàn kết dân tộc.
1.2 Người trăn trở về vấn đề đoàn kết lực lượng chống Pháp và cách
mạng giải phóng dân tộc trên thế giới
Hồ Chí Minh thấy các phong trào chống Pháp của dân ta tuy rầm rộ
nhưng đều thất bại, do không quy tụ được sức mạnh của dân tộc. Người
thấy được những hạn chế trong việc tập hợp lực lượng yêu nước của các
6
nhà yêu nước tiền bối. Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thái
Học… đều yêu nước thương dân, nhưng về tập hợp lực lượng thì các bậc
tiền bối này đều có vấn đề, cho nên tập hợp không được rộng rãi, không
đầy đủ vì thế tất cả các cuộc khởi nghĩa đều thất bại. Như cụ Phan Bội
Châu chủ chương tập hợp 10 hạng người chống Pháp: Phú hào, Quý tộc,
Nhi nữ, Anh sĩ, Du đồ, Hôi đảng, Thông ngôn, Ký lục, Bồi bếp, tín đồ
Thiên Chúa giáo nhưng lại không có công nhân và nông dân.
Người đã đi khắp các thuộc địa và nhiều nước đế quốc, nhưng vẫn chưa
thấy dân tộc nào làm giải phóng thành công, do thiếu sự lãnh đạo đúng
đắn, chưa biết tổ chức đoàn kết lực lượng. Nghiên cứu Cách mạng Tháng
10 Nga, Người thấy nổi bậc bài học về đoàn kết tập hợp lực lượng công
nông để làm cách mạng giành chính quyền và bảo vệ chính quyền non trẻ,
đánh tan sự tấn công của 14 nước đế quốc và bọn Bạch vệ, xây dựng đất
nước theo con đường XHCN.
1.3 Tiếp thu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về đoàn kết lực
lượng trong cách mạng XHCN
Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần
chúng, nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, giai cấp vô sản muốn thực
hiện vai trò lãnh đạo cách mạng phải trở thành dân tộc, liên minh công

dân tộc dân chủ, nhất là kinh nghiệm thắng lợi của cách mạng Tháng 10
Nga là cơ sở thực tiễn cần thiết cho việc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
về đại đoàn kết dân tộc.
2. Những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân
tộc
2.1 Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công
của cách mạng
Hồ Chí Minh đã nói:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công.”
8
Hồ Chí Minh cho rằng, cuộc đấu tranh cứu nước của nhân dân ta
cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX bị thất bại có một nguyên nhân sâu xa là
cả nước đã không đoàn kết được thành một khối thống nhất. Người thấy
rằng, muốn đưa cách mạng đến thành công phải có lực lượng cách mạng
đủ mạnh để chiến thắng kẻ thù và xây dựng thành công xã hội mới, muốn
có được lực lượng cách mạng đủ mạnh phải thực hiện đại đoàn kết, quy tụ
mọi lực lượng cách mạng thành một khối vững chắc. Do đó đoàn kết trở
thành vấn đề chiến lược lâu dài của cách mạng, là nhân tố bảo đảm cho sự
thắng lợi của cách mạng.
Hồ Chí Minh đi đến kết luận: muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức
và nhân dân lao động phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh cách
mạng. Người đã vận dụng những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về
cách mạng vô sản vào thực tiễn Việt Nam, xây dựng lý luận cách mạng
thuộc địa, trong đó người quan tâm nhiều đến vấn đề lực lượng cách mạng
và phương pháp cách mạng.
Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần
quan điểm coi sức mạnh của cách mạng là sức mạnh của nhân dân: “Dễ
trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”[4.tr45].
Đồng thời, người lưu ý rằng, nhân dân bao gồm nhiều lứa tuổi, nghề

tộc có nghĩa là phải tập hợp được mọi người dân vào một khối trong cuộc
đấu tranh chung. Người đã nhiều lần nêu rõ: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho
thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước
nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân
dân thì ta đoàn kết với họ”[4.tr100].
Để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, Người đã đưa ra những
nguyên tắc sau:
2.3.1 Phải thừa kế truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa của
dân tộc, phải có tấm lòng khoang dung, độ lượng với con người. Hồ Chí
10
Minh cho rằng, ngay cả đối với những người lầm đường, lạc lối nhưng đã
biết hối cải, chúng ta vẫn kéo họ về phía dân tộc, vẫn đoàn kết với họ.
2.3.2 Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ
chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng,
để làm cách mạng xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn
kết dân tộc không thể chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời
kêu gọi, mà phải trở thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu
hành động của toàn Đảng, toàn dân ta. Nó phải trở thành sức mạnh vật
chất, thành lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó là Mặt trận dân tộc
thống nhất.
Từ khi tìm thấy được con đường và sức mạnh để giải phóng dân tộc,
Hồ Chí Minh đã chú ý đến việc đưa quần chúng nhân dân vào những tổ
chức yêu nước phù hợp với từng giai cấp, tầng lớp, từng giới, từng ngành
nghề, từng lứa tuổi, từng tôn giáo. Đó là các trưởng bản, các hội ái hữu,
tương trợ, công hội, nông hội, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, đội thiếu niên
nhi đồng, hội Phật giáo cứu quốc, Công giáo yêu nước, v.v., bao trùm nhất
là Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận chính là nơi quy tụ mọi tổ chức và
cá nhân yêu nước, tập hợp mọi người dân nước Việt, không chỉ ở trong
nước mà cả những người định cư ở nước ngoài, dù ở bất cứ phương trời

tăng cường đoàn kết”. Người thường xuyên căn dặn phải khắc phục tình
trạng đoàn kết xuôi chiều, phải nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình
để biểu dương mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt, củng cố đoàn kết nội bộ.
CHƯƠNG II
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KẾT HỢP SỨC MẠNH
DÂN TỘC VỚI SỨC MẠNH THỜI ĐẠI
12
1. Qúa trình nhận thức của Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa sức
mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
Nhân dân ta có lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước.
Trong đấu tranh chống kẻ thù xâm lược cũng như trong lao động sản xuất
nhân dân Việt Nam đã thể hiện tinh thần chiến đấu ngoan cường, sự thông
minh sáng tạo, ý thức độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Trong truyền thống
dân tộc ấy Hồ Chí Minh nhìn thấy nổi bật lên sức mạnh của lòng yêu nước.
Tinh thần yêu nước của nhân dân Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt,
đặc sắc, vì phải luôn luôn đối đầu với nhiều khó khăn của tự nhiên và
chiến tranh xâm lược, sự đô hộ của kẻ thù từ nhiều phương kéo đến. Lòng
yêu nước Việt Nam đã trở thành sức mạnh, một thứ đạo lý, một lẽ sống của
mỗi người dân, cũng là một tiêu chí cao nhất để đánh giá con người trong
xã hội ta.
Hồ Chí Minh xác định con đường cứu nước đúng đắn để giải phóng
dân tộc đã phát huy lòng yêu nước truyền thống và nâng thành lòng yêu
nước xã hội chủ nghĩa. Tinh thần, ý chí độc lập, tự chủ, tự cường và lòng
yêu nước phát huy được sức mạnh to lớn, tạo nên truyền thống đoàn kết
dân tộc, đoàn kết toàn dân. Hồ Chí Minh đã làm nổi bật sức mạnh của con
người Việt Nam, đó là sức mạnh thể lực và trí tuệ, sức mạnh của bề dày
lịch sử và trong cuộc đấu tranh hiện tại, sức mạnh của sự thông minh và
dũng cảm, của lòng tin chân chính không gì lay chuyển. Sức mạnh ấy bền
vững và được nhân lên nhiều lần dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam.

Tư tưởng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một
nội dung lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng đó được vận dụng và
phát triển trong thực tiễn cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nội dung cuả tư tưởng này rất phong phú, sâu sắc về thời đại, về sự kết
hợp các sức mạnh này trong thực tiễn đấu tranh. Tư tưởng của Người còn
14
thấm đượm chủ nghĩa nhân văn sâu sắc, tính cách mạng triệt để tạo nên
ảnh hưởng to lớn đến cuộc đấu tranh lâu dài cho nhân dân các nước vì sự
nghiệp”Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người”.
2. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về kết hợp sức mạnh dân tộc với
sức mạnh thời đại
Đặt cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam trong sự gắn bó với
cách mạng vô sản thế giới
Thời đại mà Hồ Chí Minh sống và hoạt động là thời đại đã chấm dứt
sự tồn tại biệt lập giữa các quốc gia, mở ra mối quan hệ quốc tế ngày càng
lớn giữa các dân tộc.
Sự thất bại của các phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX không phải vì nhân dân ta thiếu anh dũng, các lãnh tụ
phong trào kém nhiệt huyết mà do nhiều nguyên nhân, trong đó nguyên
nhân thiếu đường lối cách mạng đúng đắn, phương pháp cách mạng không
phù hợp với xu thế thời đại.
Do nhận thức sự biến chuyển của thời đại, Hồ Chí Minh đã sớm đến
được với cách mạng Pháp, gặp được luận cương của V.I.Lênin, tán thành
Quốc tế III, tìm thấy con đường giải phóng dân tộc Việt Nam theo con
đường cách mạng vô sản. Người viết: “ Thời đại của CNTB lũng đoạn
cũng là thời đại một nhóm nước do bọn tư bản tài chính cầm đầu thống trị
các nước thuộc địa và nửa thuộc địa, bởi vậy công cuộc giải phóng các
nước và các dân tộc bị áp bức là một bộ phận khắn khít của cách mạng vô
sản. Do đó mà trước hết nảy ra khả năng và sự cần thiết phải có liên minh
chiến đấu chặc chẽ giữa các dân tộc thuộc địa với giai cấp vô sản của các

chiến đấu không chỉ vì tự do cho nước mình mà còn vì độc lập, tự do cho
nước khác, không chỉ vì bảo lợi ích sống còn của dân tộc mình mà còn vì
lợi ích của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới.
Ta không nhận sự giúp đỡ một chiều của bạn bè quốc tế, mà phải
bằng thành quả của cách mạng nước ta để góp phần tăng cường sức mạnh
16
cách mạng thế giới, theo tinh thần giúp bạn là tự giúp mình. Hồ Chí Minh
đã khằng định: trong đấu tranh cách mạng ta phải “tự lực cánh sinh, dựa
vào sức mình là chính”. Người còn viết: “muốn người giúp thì trước tiên
mình phải tự giúp lấy mình đã”, “một dân tộc không tự lực cánh sinh mà
cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ thì không xứng đáng được độc lập”. Và
trong lời kêu gọi gửi tới những người anh em ở các nước thuộc địa, Người
viết: Anh em làm thế nào để được giải phóng? Vận dụng công thức của
Các-Mác, chúng tôi xin nói với anh em rằng, công cuộc giải phóng anh em
chỉ có thể thực hiện được bằng nỗ lực của bản thân anh em.
Mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác, sẵn sàng làm bạn với các nước
dân chủ:
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một nước thuộc địa, phong kiến lạc
hậu, phải bôn ba tìm đường cứu nước cho dân tộc Người thấu hiểu sâu sắc
nỗi nhục mất nước của các dân tộc và sự thống khổ của nhân dân lao động
trên thế giới. Vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí
Minh luôn luôn chăm lo, xây dựng tình hữu nghị, hợp tác đoàn kết giữa
dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới, nhằm tạo nên sức mạnh to
lớn cho sự nghiệp cách mạng của các dân tộc.
Những năm bôn ba Hồ Chí Minh đã đặt cơ sở đầu tiên cho tình hữu
nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân nhiều nước trên thế giới. Sau
khi giành được độc lập Người đã tuyên bố: “Chính sách ngoại giao của
chính phủ thì chỉ có một điều, tức là thân thiện với tấc cả các nước dân chủ
trên thế giới để giữ hòa bình”.
Hồ Chí Minh thực hiện quan điểm đối ngoại hòa bình , hữu nghị và

đoàn kết dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Trong
thời gian qua, nhìn chung, khối đại đoàn kết dân tộc trên nền tảng liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở
rộng hơn, đó là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã
hội, chính trị - xã hội được ổn định. Tuy nhiên, công cuộc đổi mới còn hạn
chế ở những vùng dân tộc ít người, những nơi còn nghèo nàn lạc hậu.
Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn hiện nay là phải củng cố và tăng
cường khối đại đoàn kết dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của
toàn dân, tiến hành thắng lợi của sự nghiệp công nghiêp hóa, hiện đại hóa
đất nước, giúp đỡ những nơi còn nghèo nàn, lạc hậu vươn lên thoát khỏi
đói nghèo.
Trong tình hình nước ta hiện nay, để đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào
việc xây dựng, cũng cố, mở rộng khối đai đàon kết dân tộc, thì cần chú ý
những điểm sau:
Thứ nhất: Phải thấu suốt quan điểm đại đoàn kết dân tộc là nguồn
sức mạnh, là động lực chủ yếu để đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp xây
dựng Tổ quốc.
19
Thứ hai: Lấy mục tiêu chung của sự nghiệp cách mạng làm điểm
tương đồng, xóa bỏ những mặc cảm, định kiến, quá khứ trước đây để
hướng đến tương lai cho dân tộc.
Thứ ba: Bảo đảm công bằng và bình đẳng xã hội, chăm lo lợi ích và
đời sống của nhân dân. Chống lại những tham ô, lãng phí, nêu cao phong
trào yêu nước trong nhân dân. Xây dựng và phát triển nền giáo dục của
nước ta, khuyến khích các lớp đàn em học tập.
Thứ tư: Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả dân tộc, của cả hệ thống
chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng được thực hiện bằng
nhiều biện pháp, hình thức, trong đó chủ trương của Đảng, chính sách pháp
luật của nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương: thực hiện nhất quán và lâu dài

đưa nước ta ra khỏi tình trạng thoát nghèo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc sẽ mãi mãi là tư
tưởng của dân tộc ta.
Đại đoàn kết dân tộc là một chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà
nước làm theo lời Bác mà ta phải phát huy. Tuy nhiên cũng còn một số vấn
đề nhóm em xin đề suất thêm:
1. Sự quan tâm đến các dân tộc chưa nhiều nhất là dân tộc thiểu
số.
2. Trình độ văn hoá còn chênh lệch nhiều giữa các dân tộc, nhất
là với những dân tộc ở vùng sâu vùng xa.
3. Đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhiều dân tộc thiểu
số còn khó khăn.
21
Từ đó chúng ta phải có những chương trình giúp cho dân tộc thiểu
số được học tập, tiếp thu khoa học kỹ thuật, tăng hiểu biết… Có nhiều
những chương trình giao lưu giữa các dân tộc nhằm trao đổi thông tin, kiến
thức. Tạo điều kiện cho học sinh dân tộc thiểu số được học tập như giảm
học phí, tiếp cận internet…
22
PHỤ LỤC 1: Cách mạng tháng 10 Nga
Nguồn: [7]
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc ở Việt Nam, Ngô Quang
Định, hanhchinh.com.vn, 11/5/2008
2. Chính sách đại đoàn kết dân tộc, viet.vietnamembassy.us, 21/4/2001
3. Đại đoàn kết toàn dân tộc – cội nguồn sức mạnh phát triển đất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status