Vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại, nhà văn
hóa kiệt suất của dân tộc Việt Nam và của nhân loại đã để lại cho chúng ta một
di sản tinh thần vô giá, một hệ tư tưởng có giá trị về nhiều mặt. Trong đó tư
tưởng về đại đoàn kết là tư tưởng nổi bật, có giá trị trường tồn đối với quá trình
phát triển của dân tộc ta.
Tư tưởng đại đoàn kết đã trở thành tình cảm, suy nghĩ của mọi người Việt
Nam yêu nước, là sợi dây liên kết cả dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn đưa tới
thắng lợi vẻ vang của Cách mạng tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam độc
lập hoàn toàn, đất nước Việt Nam thống nhất trọn vẹn năm 1975. Thực tiễn,
minh chứng rõ rằng: khi nào Đảng ta, dân tộc ta đoàn kết một lòng, thực hiện
triệt để tư tưởng đại đoàn kết của Người, thì cách mạng lúc đó thuận lợi, thu
được nhiều thành công. Ngược lại lúc nào, nơi nào dân ta vi phạm đoàn kết, xa
rời tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, thì lúc đó nơi đó cách mạng gặp khó
khăn, thậm chí tổn thất.
Trong giai đoạn hiện nay, để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới, đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải xây dựng và
phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong thời gian qua, nhìn
chung, khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ tri thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan
trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, trong khi
sự nghiệp đổi mới đang có yêu cầu cao về tập hợp sức mạnh của nhân dân thì
việc đoàn kết tập hợp nhân dân vào Mặt trận và các đoàn thể, các tổ chức xã hội
còn nhiều hạn chế ở một số vùng có đồng bào theo đạo, đồng bào dân tộc thiểu
số... Do vậy chỉ có thể huy động sức mạnh đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí
Minh chúng ta mới đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh trên con đường công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng dân giàu
nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ, văn minh.
1
Huyện Văn Yên có vị trí, vai trò quan trọng, nằm trên trục giao thông

Tạp chí cộng sản, số 22 (190); Phùng Hữu Phú (chủ biên) (1995) với tác phẩm
“Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh”, Nxb Sự Thật, Hà Nội.
Ngoài ra, còn có các bài viết liên quan như: “Chủ tịch Hồ Chí Minh,
người sáng lập Mặt trận dân tộc thống nhất và suốt đời xây đắp khối đại đoàn
kết dân tộc” của Vũ Kim Trọng, Tạp chí xây dựng Đảng, năm 2010; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ”, của Hạnh Nguyễn, Tạp chí Mặt
trận, số 72, năm 2009.
Trên địa bàn miền núi huyện Văn Yên (tỉnh Yên Bái) cho đến nay đã có
một số công trình, bài viết đề cập đến nhưng ở nhiều góc độ khác nhau. Những
tài liệu nêu trên sẽ giúp ích cho việc tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên
cứu của tác giả.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Đề tài đi sâu tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của việc vận dụng tư tưởng Hồ
Chí Minh nhằm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc để tuyên truyền, vận động
các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, các tôn giáo, các nhân tố hăng hái tham gia
phong trào cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa, tăng cường sự nhất trí về mặt chính trị và tinh thần của xã hội
ta, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc.
Vạch ra những nguyên nhân làm hạn chế việc vận dụng tư tưởng đại đoàn kết
Hồ Chí Minh, cũng như đề xuất những biện pháp nhằm củng cố, xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
Tìm hiểu việc vận dụng tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái.
Đề xuất những biện pháp nhằm củng cố, xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc trên địa bàn huyện Văn Yên tỉnh Yên Bái.
3

tư tưởng xây dựng, củng cố và mở rộng lực lượng cách mạng trong sự nghiệp
giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và xây dựng xã
hội mới.
1.1.1. Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, bảo đảm thành công của
cách mạng
Với Hồ Chí Minh “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và nhân dân ta” [15; 510]. Đoàn kết tạo ra sức mạnh trong mọi cuộc đấu tranh,
Người cho rằng: muốn giải phóng các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động
phải tự mình cứu lấy mình bằng đấu tranh vũ trang cách mạng, bằng cách mạng
vô sản.
Là một người am hiểu sâu sắc lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước
của dân tộc mình, Hồ Chí Minh nhận thức được trong thời phong kiến chỉ
có những cuộc đấu tranh thay đổi triều đại nhưng chúng đã ghi lại những tấm
gương tâm huyết của ông cha ta với tư tưởng: vua tôi đồng lòng, anh em hòa
thuận, cả nước góp sức và khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc là thượng
sách giữ nước. Chính chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết của dân tộc
trong chiều sâu và bề dày của lịch sử này đã tác động mạnh mẽ đến Hồ Chí
Minh và được Người ghi nhận như những bài học lớn cho sự hình thành tư
tưởng của mình.
5
Năm 1858, thực dân Pháp tấn công bán đảo Sơn Trà, mở đầu cho thời kỳ
cai trị và áp bức của chúng đối với dân tộc ta trong suốt gần 80 năm trời ròng rã.
Nhưng cũng chính trong vòng gần 80 năm đó, chủ nghĩa yêu nước và truyền thống
đoàn kết của dân tộc lại sôi nổi hơn bao giờ hết. Nó kết thành một làn sóng vô
cùng to lớn, mạnh mẽ, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn thông qua các xu
hướng khác nhau để cứu nước dù cuối cùng tất cả các xu hướng đó đều bị thất bại.
Hồ Chí Minh đã cảm nhận được những hạn chế trong chủ trương
tập hợp lực lượng của các nhà yêu nước tiền bối và trong việc nắm bắt những đòi
hỏi khách quan của lịch sử trong giai đọan này. Đây cũng chính là lý do, là
điểm xuất phát để Người quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước. Hồ Chí Minh cho

dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước
ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài
xâm lấn. Và Người khuyên dân ta rằng: “Dân ta xin nhớ chữ đồng: Đồng tình,
đồng sức, đồng lòng, đồng minh” [8; 206]. Đây chính là con đường đưa dân ta
tới độc lập, tự do.
Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều luận điểm về vấn đề đại đoàn kết dân tộc,
đoàn kết quốc tế: đoàn kết là sức mạnh, là then chốt của thành công, Đoàn kết
là điểm mẹ: “Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu cũng tốt” [13; 392];
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
[14; 607].
1.1.2. Đại đoàn kết dân tộc là một mục tiêu, một nhiệm vụ hàng đầu của
cách mạng
Đối với Hồ Chí Minh, yêu nước phải thể hiện thành thương dân, không
thương dân thì không có tinh thần yêu nước. Dân ở đây là số đông, phải làm
cho số đông đó ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành, sống tự
do, hạnh phúc.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, chúng ta không chỉ
thấy rõ việc Người nhấn mạnh vai trò to lớn của dân mà còn coi đại đoàn kết
dân tộc là mục tiêu cách mạng. Do đó, tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được
quán triệt trong mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Trong lời kết
thúc buổi ra mắt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3/3/1951, Hồ Chí Minh đã
7
thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc mục đích của Đảng Lao động
Việt Nam có thể gồm trong 8 chữ là: Đoàn kết toàn dân, phụng sự Tổ quốc.
Xem dân là gốc, là lực lượng tự giải phóng nên Hồ Chí Minh coi vấn đề
đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết toàn dân để tạo ra sức mạnh là vấn đề cơ bản của
cách mạng. Hồ Chí Minh còn cho rằng, đại đoàn kết dân tộc không chỉ là mục
tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng mà còn là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của
cả dân tộc. Bởi vì, đại đoàn kết dân tộc chính là sự nghiệp của quần chúng, do
quần chúng, vì quần chúng. Đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan

nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung, độ
lượng với con người. Người đã nhiều lần nhắc nhở: “Bất kỳ ai mà thật thà tán
thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù người đó trước đây chống
chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ” [12; 438]. Để thực
hiện được đoàn kết, Người còn căn dặn: cần xóa bỏ hết mọi thành kiến, cần phải
thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ để phục vụ nhân dân.
Tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh có lập trường giai cấp rõ ràng, đó
là đại đoàn kết toàn dân với nòng cốt là khối liên minh công - nông - tri thức do
Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc rộng lớn như vậy, thì phải xác định rõ đâu là nền tảng của khối đại đoàn kết
dân tộc và những lực lượng nào tạo nên cái nền tảng đó. Người đã chỉ rõ: “Đại
đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân
dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là
nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã
có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác” [12; 438].
Lực lượng chủ yếu trong khối đoàn kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh
công nông là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất. Về sau, Người nêu thêm
lấy liên minh công - nông - lao động trí óc làm nền tảng cho đại đoàn kết toàn
dân. Nền tảng càng được củng cố vững chắc thì khối đại đoàn kết toàn dân tộc
càng được mở rộng, không e ngại bất cứ thế lực nào có thể làm suy yếu khối đại
đoàn kết dân tộc.
1.2.2. Đại đoàn kết dân tộc phải biến thành sức mạnh vật chất, có tổ
chức là Mặt trận dân tộc thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng
9
Theo Hồ Chí Minh, đại đoàn kết là để tạo nên lực lượng cách mạng, làm
cách mạng để xóa bỏ chế độ cũ, xây dựng chế độ mới. Do đó, đại đoàn kết dân
tộc không chỉ dừng lại ở quan niệm, ở tư tưởng, ở những lời kêu gọi, mà phải trở
thành một chiến lược cách mạng, trở thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng,
toàn dân ta. Nó biến thành lực lượng vật chất có tổ chức và tổ chức đó chính là
Mặt trận dân tộc thống nhất.

Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc phải được xây dựng trên nền tảng liên minh
công - nông - lao động trí óc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Thứ ba, hoạt động của Mặt trận theo nguyên tắc hiệp thương, dân chủ lấy
việc thống nhất lợi ích của tầng lớp nhân dân là cơ sở để củng cố và không
ngừng mở rộng.
Thứ tư, khối đoàn kết trong Mặt trận là lâu dài, chặt chẽ, đoàn kết thật sự,
chân thành, thân ái giúp đỡ cùng nhau tiến bộ. Phương châm đoàn kết các giai
cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là: “Cầu đồng tồn dị” - lấy cái chung,
đề cao cái chung, để hạn chế cái riêng, cái khác biệt.
Đoàn kết trong Mặt trận là lâu dài, chân thành, thẳng thắng, giúp đỡ nhau
cùng tiến bộ. Hồ Chí Minh xác định chúng ta làm cách mạng nhằm mục đích cải
tạo thế giới, cải tạo xã hội. Muốn cải tạo thế giới và cải tạo xã hội thì trước hết
phải tự cải tạo bản thân chúng ta. Người nêu rõ: đoàn kết phải gắn liền với đấu
tranh, đấu tranh để tăng cường đoàn kết, nâng cao tinh thần tự phê bình và phê
bình để biểu dương mặt tốt, khắc phục những mặt chưa tốt trong nội bộ. Đoàn
kết thật sự nghĩa là vừa đoàn kết vừa đấu tranh, học những cái tốt của nhau, phê
bình những cái sai của nhau và phê bình trên lập trường thân ái vì nước vì dân.
1.3. Nguyên tắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh
1.3.1. Đại đoàn kết phải được xây dựng trên cơ sở bảo đảm những lợi
ích tối cao của dân tộc, lợi ích của nhân dân lao động và các quyền thiêng
liêng của con người
Đây là nguyên tắc quan trọng nhất trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí
Minh. Hạt nhân của nguyên tắc này là giải quyết đúng đắn mối quan hệ lợi ích
phức tạp, chồng chéo giữa cá nhân - tập thể, gia đình - xã hội, bộ phận - toàn thể,
11
giai cấp - dân tộc, quốc gia - quốc tế theo phương châm chỉ đạo là: Dân tộc trên
hết, Tổ quốc trên hết và tất cả do con người. Ví dụ như trong: Chính sách giảm tô
25 % trong kháng chiến chống thực dân Pháp Hồ Chí Minh nhắc nhở: “Chủ
ruộng giảm tô cho đúng”, đồng thời cũng nhắc nhở: “Tá diền nộp tô cho đều” [10;
591]. Chính sách này đã giải quyết thỏa đáng lợi ích ruộng đất giữa địa chủ và

không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn
kết của nhân dân” [13; 276].
Tin vào dân, dựa vào dân trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh là
tin vào, là dựa vào tinh thần yêu nước, ý chí giành độc lập tự do, xây dựng
một đất nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh;
là tin vào, là dựa vào lực lượng to lớn của nhân dân; là tin vào, là dựa vào
sáng kiến của nhân dân. Trong đó Hồ Chí Minh đặc biệt tin vào lòng yêu
nước của nhân dân, với niềm tin đó Hồ Chí Minh kêu gọi toàn dân đoàn kết,
Lương - Giáo đoàn kết, các dân tộc, các thành phần dân tộc đoàn kết… Thực
tiễn cách mạng Việt Nam đến nay đã khẳng định tư tưởng của Người là hoàn
toàn đúng, chẳng những phù hợp với đặc điểm người Việt Nam mà còn đúng
với đặc điểm của giai cấp công nhân.
1.3.3. Đoàn kết tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi,
lâu dài, đoàn kết chặt chẽ theo lập trường giai cấp công nhân
Trong quá trình thực hiện đại đoàn kết, xây dựng và phát triển lực lượng
cách mạng, Hồ Chí Minh luôn nhất quán một nhận thức khoa học đó là: đoàn kết
không phải là một tập hợp ngẫu nhiên, tự phát, nhất thời mà là một tập hợp bền
vững của các lực lượng xã hội có định hướng, có tổ chức, có lãnh đạo.
Đầu 1955, nói chuyện tại hội nghị đại biểu Mặt trận Liên - Việt toàn quốc,
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn đoàn kết lâu
dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc, không phải là một thủ đoạn chính trị.
Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập cho Tổ quốc, ta còn phải
đoàn kết để xây dựng nước nhà” [12; 438]. Như vậy theo Hồ Chí Minh, đoàn kết
toàn dân trong các tổ chức của Mặt trận dân tộc thống nhất phải rộng rãi và lâu
13
dài, đoàn kết không phải là một thủ đoạn chính trị, mà là một chính sách dân tộc,
một chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
Qua câu nói trên của Hồ Chí Minh, ta thấy rõ tư tưởng của Người: toàn
dân ta phải đoàn kết cả trong cách mạng giải phóng dân tộc, cả trong cách mạng
xã hội chủ nghĩa hay đoàn kết trong suốt quá trình cách mạng Việt Nam. Theo

thành viên phải tự giác tuân theo.
Về lãnh đạo: Lãnh đạo khối đại đoàn kết dân tộc là Đảng cộng sản Việt
Nam. Hồ Chí Minh khẳng định Đảng cộng sản là người lãnh đạo khối đại đoàn
kết toàn dân, nhưng Người chỉ rõ Đảng cộng sản cũng là một bộ phận hữu cơ
của Mặt trận, song “Phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất
và chân thực nhất” của Mặt trận [8; 139].
Để khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước hết
Đảng phải đoàn kết nhất trí, nhất là cán bộ lãnh đạo Đảng, đây là yếu tố quyết
định sự tồn tại và sức mạnh của khối đại đoàn kết. Hồ Chủ Tịch đã đặt lên hàng
đầu: “Tư cách người kách mệnh” và chỉ rõ muốn đoàn kết trong Đảng, đoàn kết
toàn dân, Đảng luôn phải tự phê bình và phê bình, phải phê phán nghiêm khắc
bệnh quan liêu, mệnh lệnh, tham ô, lãng phí, vi phạm quyền làm chủ của nhân
dân. Người nhấn mạnh: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng
và nhân dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự
đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình [15; 497].
Muốn đoàn kết rộng rãi, đoàn kết lâu dài, đoàn kết chặt chẽ, theo Hồ Chí
Minh, khối đoàn kết phải luôn được củng cố, trong đó củng cố liên minh công -
nông - tri thức phải được quan tâm hàng đầu. Có như thế mới củng cố và tăng
cường được lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuối cùng.
Nguyên tắc đoàn kết rộng rãi, lâu dài theo lập trường của giai cấp công
nhân là kết quả của nhà tổ chức vĩ đại Hồ Chí Minh, biến khẩu hiệu nổi tiếng:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”
thành hiện thực, thành sức mạnh tinh thần, trí tuệ, thành sức mạnh vật chất cực
kỳ to lớn đánh thắng những thế lực thù địch, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày
càng vững mạnh.
15
Trên đây là ba nguyên tắc khi thực hiện đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí
Minh với nội dung bao trùm là: Đoàn kết rộng rãi, lâu dài nhưng phải được
Đảng cộng sản tổ chức và lãnh đạo, phải đặt quyền lợi của Tổ quốc, của dân tộc,
của toàn dân lên trên hết.

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nội dung tuyên truyền, vận động sát hợp với từng
giai cấp, từng cộng đồng xã hội như đối với giai cấp công nhân, nông dân, tri
thức, văn nghệ sĩ, cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân, với thanh niên,
phụ nữ, đồng bào dân tộc ít người, với cộng đồng tôn giáo, với quan lại, với
nhân sĩ yêu nước, với người lầm đường lạc lối... Hồ Chí Minh đã thấu hiểu tất
cả, phấn đấu hi sinh vì tất cả những khát vọng, những ước mơ sâu lắng của dân
tộc và của mỗi con người. Do vậy tư tưởng đại đoàn kết của Người có sức mạnh
to lớn tập hợp đoàn kết toàn dân.
Có thể nói, Hồ Chí Minh là bậc thầy trong công tác vận động, giáo dục toàn
dân thực hiện đại đoàn kết. Bản thân Người cũng tỏa sáng một mãnh lực tập hợp,
đoàn kết toàn dân, tập hợp đoàn kết các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới.
1.4.2. Phương pháp xây dựng, kiện toàn không ngừng phát triển hệ
thống chính trị cách mạng
Hệ thống chính trị cách mạng nước ta từ 1945 đến nay bao gồm:
+ Đảng cộng sản, cụ thể là Đảng cộng sản Việt Nam.
+ Nhà nước cách mạng Việt Nam.
+ Các đoàn thể chính trị - xã hội trong Mặt trận Tổ quốc thống nhất
do Đảng lãnh đạo.
Theo Hồ Chí Minh, sự thống nhất bền vững của hệ thống chính trị là nhân
tố quyết định sự tồn tại và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
Về Đảng cộng sản, theo người Đảng cộng sản Việt Nam có vai trò quyết
định nhất đối với sự hình thành, phát triển và sức mạnh của đại đoàn kết trong
hệ thống chính trị cách mạng. Vì vậy, Người hết sức quan tâm tới công tác xây
dựng Đảng, sao cho Đảng thật sự là một tổ chức chính trị vững mạnh, trong
sạch, đoàn kết, nhất trí... đủ sức lãnh đạo khối đoàn kết toàn dân.
Về Nhà nước cách mạng, theo Hồ Chí Minh hoạt động của nó ảnh hưởng
rất lớn đến đoàn kết toàn dân và đến cả đoàn kết quốc tế. Bởi vì đối với mỗi
17
chính sách, mỗi quyết định, mỗi việc làm đúng của các cấp chính quyền, Nhà
nước có sức mạnh rất to lớn nó gắn nhân dân với Đảng, gắn nhân dân với nhau

1.4.3. Phương pháp xử lý các mối quan hệ nhằm mở rộng tới mức cao
nhất trận tuyến cách mạng và thu hẹp tới mức tối đa trận tuyến thù địch
Trong cuộc đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp trong phạm vi một nước
cũng như trên thế giới bao giờ cũng phân định thành ba tuyến lực lượng: cách
mạng - trung gian - phản cách mạng. Cuộc đấu tranh một mất một còn giữa cách
mạng và phản cách mạng, thành bại của cách mạng không chỉ phụ thuộc vào sức
mạnh của hai lực lượng đối địch mà nó còn tùy thuộc một phần rất lớn vào việc
bên nào lôi kéo được lực lượng trung gian. Phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí
Minh là phương pháp xử lý mối tương quan ba chiều đó. Phương pháp xử lý các
mối quan hệ của Hồ Chí Minh theo phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”.
Theo Hồ Chí Minh, sự đoàn kết thống nhất của các lực lượng cách mạng
là điều kiện tiên quyết để thu hút, tập hợp các lực lượng trung gian vào trận
tuyến cách mạng, lợi dụng mâu thuẫn và cô lập lực lượng thù địch.
Với các lực lượng trung gian, thì phương pháp đoàn kết Hồ Chí Minh là
xóa bỏ mọi thành kiến, mặc cảm. Khơi gợi, cổ vũ ý thức dân tộc, tinh thần yêu
nước, chân thành hợp tác và trọng dụng. Nhiều lần, Hồ Chí Minh tha thiết kêu
gọi tất cả những người thật thà yêu nước không phân biệt tầng lớp nào, tín
ngưỡng nào, chính kiến nào và trước đây đứng về phe nào. Chúng ta hãy thật thà
cộng tác vì dân vì nước. Người cho rằng điều cần thiết nhất là phải đoàn kết, cần
xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau, giúp đỡ nhau cùng
tiến bộ, để phục vụ nhân dân.
Đối với các thế lực thù địch của cách mạng, phương pháp của Hồ Chí
Minh là chủ động, kiên quyết tiêu diệt trên cơ sở đã triệt để phân hóa, cô lập
chúng đến cao độ. Trong phương pháp của Người chứa đựng nhiều cấp độ:
Một là, theo dõi chặt chẽ, khai thác triệt để mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù.
Hai là, lôi kéo và tranh thủ những lực lượng có thể tranh thủ được.
Ba là, hòa hoãn tạm thời với những lực lượng, bộ phận nào còn có thể
hòa hoãn được.
19
Bốn là, thu hẹp và cô lập cao độ lực lượng thù địch nguy hiểm, trực tiếp nhất.

HUYỆN VĂN YÊN TỈNH YÊN BÁI
2.1. Đặc điểm tình hình tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân dân huyện
Văn Yên tỉnh Yên Bái
2.1.1. Đặc điểm vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Văn Yên là một huyện miền núi phía Bắc của tỉnh Yên Bái, được thành
lập từ tháng 3 năm 1965. Có tọa độ địa lý 21
0
35' - 22
0
10' vĩ Bắc, 104
0
23' -
104
0
60' kinh Đông. Phía Bắc giáp huyện Bảo Yên tỉnh Lào Cai, phía Đông Bắc
giáp huyện Lục Yên, Yên Bình, phía Đông Nam giáp huyện Trấn Yên, phía
Nam giáp Văn chấn, phía Tây giáp huyện Mù Cang Trải tỉnh Yên Bái và huyện
Văn Bàn tỉnh Lào Cai.
Văn Yên có thị trấn Mậu A là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội
của huyện. Với vị trí nằm trên tuyến đường sắt Yên Bái - Lào Cai nối với Côn
Minh (Trung Quốc), tuyến đường tỉnh lộ 151 Yên Bái - Khe Sang, đường thủy
sông Hồng và đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai. Với lợi thế này, thị trấn Mậu A
sẽ là động lực phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh trên địa
bàn huyện. Huyện Văn Yên cách trung tâm tỉnh lỵ Yên Bái 40 km về phía Bắc.
Toàn huyện có 26 xã và 1 thị trấn, với 312 thôn bản, 60 tổ dân phố.
Tổng diện tích đất tự nhiên là 139.154,11 ha. Văn Yên là đơn vị hành
chính có diện tích lớn nhất tỉnh. Địa hình của huyện khá đa dạng và phức tạp,
đồi núi liên tiếp và cao dần từ Đông Nam lên Tây Bắc thuộc thung lũng sông
Hồng kẹp giữa dãy núi cao là Con Voi và Púng Luông. Hệ thống sông ngòi dày
đặc với các kiểu địa hình khác nhau vùng núi cao hiểm trở, vùng đồi bát úp lượn

Tầm, Mỏ Vàng, Nà Hẩu, Quang Minh, Viễn Sơn và Đại Sơn.
Nền kinh tế của huyện tăng trưởng bền vững, có sự chuyển biến rõ ràng,
đạt được những thành tựu nổi bật. Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp
với điều kiện kinh tế xã hội của địa phương, bước đầu tạo ra vùng sản xuất hàng
hóa tập trung phục vụ cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cơ cấu kinh tế
chuyển dịch tích cực, đúng hướng, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ. Trong tổng 139.154,11 ha diện tích đất tự nhiên
thì đất sản xuất nông nghiệp là 17.383,14 ha, lâm nghiệp là 104.421,53 ha. Sản
xuất nông - lâm nghiệp được xác định là nghành kinh tế mũi nhọn của huyện.
Mặc dù có điều kiện thuận lợi phát triển kinh tế, nhưng nền kinh tề huyện
Văn Yên vẫn còn khó khăn như xuất phát điểm nền kinh tế thấp, nhận thức về
kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế còn nhiều hạn chế, cơ sở kĩ thuật
22
còn thiếu và lạc hậu, sức cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường kém, đời sống
nhân dân trong huyện vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là vùng cao, vùng đồng bào
dân tộc thiểu số… thu nhập bình quân trên đầu người thấp đạt 1,996 triệu/năm.
Tình trạng lao động chưa có việc làm hoặc có việc làm nhưng chưa ổn định còn
lớn. Mặc dù năm 2009 đã có hàng ngàn hộ nông dân được vay vốn nhưng vẫn
còn tới 50% số hộ thiếu vốn đầu tư sản xuất.
* Tình hình văn hóa - xã hội
- Về giáo dục: Hệ thống giáo dục của huyện khá hoàn chỉnh gồm các ngành
học, bậc học. Có đội ngũ cán bộ giáo viên giỏi, có trình độ chuyên môn cao. Cơ
sở hạ tầng phục vụ cho lĩnh vực giáo dục được đầu tư nhưng so với yêu cầu vẫn
còn khó khăn, bất cập.
Toàn huyện có 70 trường phổ thông trong đó có 41 trường tiểu học, 26
trường trung học cơ sở và 4 trường trung học phổ thông. Huyện có 27/27 xã, thị
trấn đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ. Tuy nhiên,
công tác giáo dục vẫn còn yếu kém, phát triển chậm và không đều, mới khoảng
50% số người trong độ tuổi từ 6 - 9 đi học. Trong đó ở dân tộc Dao, Mông, Xa
Phó tỷ lệ đi học thấp hơn nhiều. Đội ngũ giáo viên vùng cao vừa thiếu vừa yếu

hoạt động của làng văn hóa trên địa bàn huyện, củng cố và tăng cường các thiết
chế văn hoá tại các cấp cơ sở.
Công tác phát thanh truyền hình được đảm bảo, góp phần nâng cao nhu cầu
nghe nhìn của nhân dân. Tổ chức hội nghị tập huấn điều tra thống kê hiện trạng
phổ cập dịch vụ Internet, điện thoại và nghe nhìn năm 2010 cho 27 xã, thị trấn.
Công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực văn hóa văn nghệ được tăng
cường, quản lý chặt chẽ các hoạt động văn hóa trên địa bàn huyện. Tuy nhiên,
chất lượng các mặt văn hóa, giáo dục còn thấp, đạo đức xã hội ở một bộ phận
dân cư còn có biểu hiện xuống cấp, các tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan chưa được
đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả.
* An ninh - quốc phòng
Do địa bàn của huyện nằm trên nhiều tuyến đường quan trọng, cho nên việc
giữ vững an ninh là rất cần thiết, vì nó tạo điều kiện cho kinh tế phát triển, thúc
24
đẩy văn hóa - giáo dục ngày càng đi lên… Cho nên vấn đề cấp bách là phải giữ
vững an ninh - quốc phòng.
Huyện đã xây dựng được khu vực phòng thủ quân sự - quốc phòng, trong
đó trọng tâm là xây dựng các xã, thị trấn vững mạnh toàn diện, an toàn là chính,
cho nên an ninh - quốc phòng của huyện được củng cố vững chắc. Coi trọng
nâng cao nhận thức cho lực lượng vũ trang nhân dân về chiến lược “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch.
Lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên thường xuyên được huấn luyện,
xây dựng vững mạnh về mọi mặt: 100% các đối tượng theo quy định được bồi
dưỡng kiến thức quốc phòng, trên 80% nhân dân được giáo dục kiến thức quốc
phòng - an ninh, 100% các xã có đất thao trường cho công tác huấn luyện. Công
tác tuyển quân hàng năm bảo đảm chi tiêu và chất lượng. Phong trào toàn dân
bảo vệ an ninh Tổ quốc được tăng cường, tình hình an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội được giữ vững.
* Công tác tôn giáo
Với đặc thù là địa phương có tỷ lệ giáo dân chiếm 17,5% dân số toàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status