Vận dụng tư tưởng đạo đức của hồ chí minh vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh trường trung cấp kinh tế, kỹ thuật, côn - Pdf 33

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
--------------------

HỒ THỊ BÍCH NGỌC

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA HỒ CHÍ MINH
VÀO VIỆC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH
TRƯỜNG TRUNG TẤP KINH TẾ, KỸ THUẬT, CÔNG
NGHỆ VIỆT ANH (NGHỆ AN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn
giáo dục chính trị


Vinh, 2010

MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU
1.

Lí do chọn đề tài

2.

Tình hình nghiên cứu đề tài

3


NỘI DUNG
CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯ
TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH VÀO QUÁ TRÌNH
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH CÁC

7

TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP

1.1.

Khái luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức

7

1.2.

Nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Hồ Chí

22

Minh
CHƯƠNG 2:

CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ
BẢN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC
ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG CẤP

TÀI LIỆU THAM KHẢO

3


A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm lo bồi dưỡng thế hệ trẻ, đặc
biệt là học sinh (HS), sinh viên (SV) trở thành những con người cách mạng
chân chính. Người luôn đánh giá cao vị trí và tầm quan trọng của họ trong sự
nghiệp cách mạng, tương lai của dân tộc, bởi trong mọi công việc, thanh niên
luôn hăng hái, xung phong và họ xứng đáng là cánh tay phải đắc lực của Đảng.
Cách mạng tháng Tám thành công, nhân ngày khai giảng đầu tiên của năm học
mới tháng 9/1946, trong thư gửi thanh niên, HS toàn quốc, Người căn dặn:
“Non sông Việt Nam có trở nên đẹp tươi hay không, dân tộc Việt Nam có bước
tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không,
chính là nhờ một phần lớn vào công học tập của các cháu” [24; 33].
Trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng đạo đức của Người có
tầm quan trọng đặc biệt, bởi chính Người đã đề ra và thực hiện một cuộc cách
mạng trên lĩnh vực đạo đức. Người luôn quan tâm đến vấn đề giáo dục đạo
đức cho các thế hệ thanh niên Việt Nam nói chung, HS Trung cấp chuyên
nghiệp (TCCN) nói riêng, nhằm giúp họ trở thành những người công dân tốt,
cán bộ tốt của nhà nước. Đến cuối đời, trong bản “Di chúc” thiêng liêng để lại
cho toàn dân tộc, Người vẫn dành một phần trang trọng để bàn về đạo đức
cách mạng và vấn đề rèn luyện đạo đức cách mạng cho thế hệ trẻ, đào tạo họ
trở thành những người vừa “hồng” vừa “chuyên” để có thể kế thừa và xây
dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH).
Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta đã thường xuyên
chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện cả về
chính trị, tư tưởng, đạo đức, văn hoá, thể chất và tri thức; Đồng thời tạo mọi

bộ, toàn diện, phải đào tạo người lao động không chỉ có kiến thức sâu về
chuyên môn mà còn cần phải có cuộc sống văn hoá lành mạnh, có lập trường
kiên định. Trong bài nói chuyện tại lớp đào tạo hướng dẫn viên trại hè cấp I
vào ngày 12 tháng 6 năm 1956, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định con

5


người phải có tài và đức. Có tài không có đức, tham ô hủ hóa có hại cho nước.
Có đức không có tài như ông bụt ngồi trong chùa, không làm hại ai nhưng
cũng không giúp ích gì được ai.
Hiện nay, vấn đề giáo dục và rèn luyện phẩm chất đạo đức cho thế hệ
trẻ trong các trường TCCN nói chung và Trường Trung cấp Kinh tế, Kỹ thuật,
Công nghệ (KT, KT, CN) Việt Anh (Nghệ An) nói riêng đã được quan tâm,
tuy nhiên kết quả đạt được vẫn còn hạn chế và nhiều vấn đề đặt ra. Để góp
phần khắc phục những hạn chế đó, tạo ra những chuyển biến trong việc giáo
dục đạo đức cho HS các trường TCCN, tôi đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng tư
tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh vào việc giáo dục đạo đức cho học sinh
Trường Trung cấp Kinh tế, Kỹ thuật, Công nghệ Việt Anh (Nghệ An)”
làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục thanh niên là một lĩnh vực đã có
nhiều nhà khoa học, với nhiều công trình, bài viết đề cập đến. Theo chúng tôi,
các công trình có thể chia làm hai nhóm sau:
Nhóm thứ nhất, để cụ thể hoá vấn đề giáo dục đạo đức cho HS trong
các trường Đại học (ĐH), Cao đẳng (CĐ) và TCCN, thời gian qua đã có
những nghiên cứu về thực trạng của vấn đề này, từ đó tìm ra các giải pháp để
nâng cao chất lượng. Đó là các công trình: Nguyễn Đông Anh (2002), “Đổi
mới nội dung và phương pháp đánh giá kết quả rèn luyện phẩm chất chính
trị, đạo đức, lối sống của SV và HS ở các trường ĐH và Trung học chuyên

Trung cấp KT, KT, CN Việt Anh (Nghệ An) thì chưa được tác giả nào đề cập
đến. Vì vậy, chúng tôi tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của việc giáo
dục đạo đức cho HS và đề ra một số giải pháp phù hợp với thực tế nhằm
mang lại hiệu quả giáo dục cao.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ những nội dung cụ thể của tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh, đề tài góp phần khẳng định sự cần thiết và những giải pháp cơ bản

7


nhằm giáo dục đạo đức cho học sinh trung cấp chuyên nghiệp, mà trước hết là
tại Trường Trung cấp KT, KT, CN Việt Anh, theo tư tưởng Hồ Chí Minh
trong giai đoạn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết các nội dung chủ yếu sau:
- Di sản tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, trên cơ sở đó làm rõ nội
dung cơ bản tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cho HS TCCN.
- Điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực trạng về công tác giáo dục đạo đức
cho HS ở Trường Trung cấp KT, KT, CN Việt Anh (Nghệ An).
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
đạo đức cho cho HS ở Trường Trung cấp KT, KT, CN Việt Anh (Nghệ An)
hiện nay.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đề tài được tiến hành nghiên cứu trong phạm vi Trường Trung cấp
KT, KT, CN Việt Anh (Nghệ An).
- Đề tài được triển khai trong giới hạn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh
vào việc giáo dục đạo đức cho HS ở Trường Trung cấp KT, KT, CN Việt Anh
(Nghệ An).

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn trình bày
trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của việc vận dụng tư tưởng đạo đức Hồ Chí
Minh vào quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh các Trường Trung cấp
chuyên nghiệp.
Chương 2: Cơ sở thực tiễn và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh Trường Trung cấp Kinh tế, Kỹ
thuật, Công nghệ Việt Anh (Nghệ An) trong giai đoạn hiện nay.

9


B. NỘI DUNG
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA
HỒ CHÍ MINH VÀO QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC
SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG CẤP CHUYÊN NGHIỆP
1.1. Khái luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức:
1.1.1. Khái niệm, nguồn gốc, bản chất và vai trò của đạo đức
1.1.1.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một phạm trù rất rộng, nhưng lại rất cụ thể. Trong cuộc
sống hàng ngày, chúng ta thường nhắc đến cụm từ đạo đức với nhiều phương
diện: đạo đức gia đình, đạo đức xã hội, đạo đức kinh doanh, đạo đức nghề
nghiệp… nói rộng ra là đạo đức của cả một dân tộc. Tuy nhiên khi sử dụng
cụm từ này, không nhiều người quan tâm đến nội hàm của khái niệm. Vậy
đạo đức là gì?
Với tư cách là một bộ phận của tri thức triết học, những tư tưởng đạo
đức học đã xuất hiện cách đây hơn 20 thế kỷ trong triết học Trung Quốc, Ấn
Độ, Hy Lạp cổ đại.
Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là Mos (moris) - lề thói

hội. Đức dùng để nói đến nhân đức, đức tính. Nhìn chung Đức là biểu hiện
của Đạo, là đạo nghĩa, là nguyên tắc luân lý. Như vậy, có thể nói đạo đức của
người Trung Quốc cổ đại chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc
sống đặt ra mà mỗi người phải tuân theo.
Đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc,
quy tắc nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan
hệ với nhau, với xã hội, với tự nhiên trong hiện tại hoặc quá khứ cũng như
tương lai, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức
mạnh của dư luận xã hội. Hay nói cách khác, đạo đức là một dạng ý thức xã

11


hội gồm những nguyên tắc, chuẩn mực giá trị được xã hội thừa nhận, có tác
dụng chi phối, điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ xã hội, gia
đình, tập thể. Ý thức đạo đức tạo cho con người quan niệm đúng về cái thiện
và ác, cái xấu và tốt, lương tâm và trách nhiệm; để có ứng xử đúng với mình,
với người khác, với tập thể và xã hội. Đạo đức là nền tảng tinh thần xã hội,
góp phần quan trọng ổn định và phát triển xã hội. Xã hội càng phát triển, vai
trò của đạo đức càng quan trọng. Đạo đức được xem là khái niệm luân thường
đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt - xấu, đúng - sai, được sử dụng
trong 3 phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và trừng
phạt, đôi lúc còn được gọi là giá trị đạo đức; nó gắn với nền văn hoá, tôn giáo,
chủ nghĩa nhân văn, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử
từ hệ thống này. Có nhiều dạng đạo đức: đạo đức công dân, đạo đức tôn giáo,
gia đình, xã hội…Trong sự nghiệp cách mạng, đạo đức là nền tảng, là “cái
gốc của người cách mạng”.
Đạo đức là một hiện tượng lịch sử và xét cho cùng, là sự phản ánh của
các quan hệ xã hội. Có đạo đức của xã hội nguyên thuỷ, đạo đức của chế độ
chủ nô, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản, đạo đức cộng sản. Lợi ích của

Trước C. Mác và Ph. Ănghen, các nhà triết học (kể cả duy tâm và duy
vật) đều rơi vào quan điểm duy tâm khi xem xét đến vấn đề xã hội và đạo
đức. Họ không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận
động của xã hội nói chung và đạo đức nói riêng. Khác với các quan điểm trên,
C. Mác và Ph. Ănghen đã từng chứng minh rằng, trước khi sáng lập các quan
điểm tư tưởng, lý luận, con người đã hoạt động thực tiễn, tức là đã sản xuất ra
các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Toàn bộ tư tưởng thể hiện trong
các hình thái ý thức xã hội của một thời đại đều bắt nguồn từ điều kiện sinh
hoạt vật chất của xã hội đó. Ý thức xã hội của con người là sự phản ánh tồn
tại xã hội của họ. Các hình thái ý thức xã hội khác nhau phản ánh những mặt
khác nhau của đời sống xã hội. Đạo đức cũng vậy, nó là một hình thái ý thức
xã hội phản ánh sự tồn tại xã hội dưới dạng các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn
mực nhằm điều chỉnh hành vi của con người.

13


Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể hiểu khái
niệm đạo đức như sau:
Đạo đức là phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, là tổng hợp những
nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh hành vi và đánh giá
cách ứng xử của con người trong các mối quan hệ giữa con người với con
người, giữa cá nhân và xã hội.
Như vậy, đạo đức không phải có sẵn ở đâu đó, nó được hình thành từ
khi có xã hội loài người và tồn tại vĩnh viễn cùng loài người. Tuy nhiên, hệ
thống các nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức lại có tính lịch sử vì với
tư cách là một hình thái ý thức xã hội, đạo đức cũng phản ánh tồn tại xã hội,
mà tồn tại xã hội lại không bất biến. Hình thái ý thức xã hội đạo đức giúp con
người điều chỉnh hành vi của mình, hướng con người tới cái tốt, cái thiện.
1.1.1.2. Nguồn gốc và bản chất của đạo đức

con người. Con người trước hết phải sống vì cái tôi, cho cái tôi.
Quan niệm trên đây là sai lầm, các loại sinh vật chưa bao giờ ý thức
được về nó. Mọi hoạt động của loài vật hoàn toàn chỉ dựa vào tính bản năng.
Điều này được C. Mác chỉ rõ: một người kiến trúc sư dù tồi nhất, vẫn hành
động khác về chất so với những con ong khéo léo nhất. Do đó, không thể lấy
loài vật ra để so sánh với loài người. Bản chất nổi bật nhất của con người
không phải ở bản chất tự nhiên. Cái tạo nên con người, làm cho con người
khác hoàn toàn loài vật chính là từ bản chất xã hội. Trong tính hiện thực của
nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
* Quan điểm xã hội:
Những người theo quan điểm xã hội cho rằng, cơ sở nguồn gốc đạo đức
là từ đời sống xã hội, nhưng khi giải thích về bản chất đạo đức họ lại gắn
những suy nghĩ chủ quan vào đó. Họ coi đạo đức là những quy ước chung, có
tính chất chủ quan xã hội. Những chuẩn mực đạo đức hiện tồn tại trong xã hội
là do chủ quan con người đặt ra, thành những tôn ti trật tự xã hội. Mỗi người
phải có nghĩa vụ, suy nghĩ và hành động theo những khuôn mẫu đó, nếu làm
trái sẽ bị đánh giá là vô đạo đức.

15


Có thể nói, tất cả các quan điểm trên đều chưa giải thích một cách đầy
đủ và khoa học về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Họ không thấy được
cơ sở cho đạo đức ra đời, đó chính là hiện thực xã hội, họ xoá nhoà bản chất
giai cấp của đạo đức. Những học thuyết đó đều nhằm bảo vệ lợi ích của giai
cấp thống trị trong xã hội.
* Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin:
Khác với những quan điểm trên, Chủ nghĩa Mác - Lênin đã giải thích
một cách khoa học về nguồn gốc và bản chất của đạo đức. Chủ nghĩa Mác Lênin cho rằng, đạo đức là một phạm trù thuộc hình thái ý thức xã hội, xuất
hiện từ rất sớm trong lịch sử, nó mang tính lịch sử. Chính con người bằng

triển đạo đức là một quá trình phủ định biện chứng, một mặt các hình thái sau
kế thừa các hình thái trước, mặt khác bản thân nó tự biến đổi để phù hợp với
tồn tại xã hội tương ứng. Quy luật của sự biến đổi bao giờ cũng theo xu
hướng tiến bộ và sáng tạo ra những giá trị mới. Nguyên nhân sâu xa là do lực
lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển và hoàn thiện. Nhưng cũng phải
thấy rằng, nếu con người không tự cố gắng biến đổi mình cho phù hợp với
yêu cầu cuộc sống thì ý thức và quan niệm cũ về đạo đức sẽ trở thành vật cản
đối với sự phát triển xã hội.
1.1.1.3. Chức năng và vai trò của đạo đức đối với sự phát triển của xã hội
a. Chức năng của đạo đức
* Chức năng giáo dục
Con người muốn làm được điều thiện, tránh được điều ác, muốn cho
những hành vi của mình được xã hội chấp nhận, không bị dư luận xã hội lên
án thì họ phải nắm được những quan điểm, chuẩn mực đạo đức cơ bản. Chẳng
hạn, nguyên tắc sống của con người phải trung thực, thật thà. Nhìn vào
nguyên tắc này, mỗi người phải tự giác tuân theo, hoặc ai vi phạm, như ăn
cắp, nói dối sẽ bị dư luận phê phán. Vì vậy, chức năng giáo dục của đạo đức
đóng vai trò quan trọng nhất trong việc hình thành nhân cách con người.
Cùng với quá trình giáo dục thì quá trình tự giáo dục sẽ giúp con người
càng hiểu rõ vai trò to lớn của lương tâm, nghĩa vụ, danh dự và những phẩm

17


chất đạo đức cần thiết của cá nhân mình đối với đời sống của cộng đồng. Nhờ
có chức năng giáo dục và tự giáo dục, con người học tập được những tấm
gương đạo đức cao cả, xả thân làm việc nghĩa, hy sinh quên mình cho đất
nước, kiên cường đấu tranh cho pháp lý…Chính vì vậy, làm cho xã hội ngày
càng công bằng, văn minh, tiến bộ.
* Chức năng điều chỉnh hành vi

các nhà xã hội học xem xét và bàn luận tới.
Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (thế kỷ VI tr CN) đã khuyên
học trò “Tiên học lễ, hậu học văn”. Ông mong muốn xã hội phát triển bình
ổn, gia đình sống hạnh phúc, con người giữ được đạo lý. Mạnh Tử rất đề cao
đạo đức đến mức ông đề xuất quản lý xã hội bằng đức trị. Trong xã hội Ấn
Độ cổ đại, học thuyết của Đạo Phật do Thích Ca Mâu Ni sáng lập đã đề cập
đến nhiều vấn đề về đạo đức. Cái cốt lõi nhất của hệ thống đạo đức Phật giáo
là khuyên con người sống thiện, biết yêu thương nhau, giúp đỡ nhau, tránh
điều ác. Trong xã hội Hi Lạp - La Mã cổ đại, đặc trưng cơ bản nhất về giáo
dục con người được thông qua những truyền thuyết, các sử thi nhằm đề cao
những giá trị đạo đức. Đó là nữ thần Atina xinh đẹp như mặt trăng, đầy tình
nhân ái đối với con người. Hình tượng thần Dớt có tài - đức vẹn toàn. Ôđixê
là bản trường ca bất hủ, một biểu tượng cao đẹp về tính trung thực, lòng dũng
cảm, sự trong sáng trong tình bạn, tình yêu….Tất cả những hình tượng đó đều
là những phẩm giá đạo đức tốt đẹp của con người.
Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức được các nhà nghiên cứu xã hội đặt ra rất
sớm. Đặc biệt trong các truyền thuyết, ca dao, tục ngữ, nhân dân ta đã đề cao
những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức giúp con người hướng tới
những điều tốt đẹp. Truyện Tấm Cám, Cây tre trăm đốt, Trạng Quỳnh đều
giáo dục con người hướng thiện và có nhân cách cao đẹp trong cuộc sống.
Vấn đề đặt ra là tại sao con người lại sớm quan tâm đến đạo đức? Bởi
vì đạo đức có một vai trò to lớn đối với sự phát triển của xã hội:
Thứ nhất, đạo đức là nhu cầu khách quan của đời sống xã hội. Trong
đời sống của con người, đạo đức là vấn đề thường xuyên được đặt ra và giải

19


quyết nhằm đảm bảo cho các cá nhân và cộng đồng tồn tại, phát triển. Sống
trong xã hội, ai cũng phải suy nghĩ về những vấn đề đạo đức để tìm ra những

con người tới cái chân, thiện, mỹ.
Như vậy, đạo đức có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội.
Xã hội loài người càng tiến lên thì vai trò của đạo đức cũng tăng lên, có thể đạo
đức sẽ nắm vai trò điều khiển xã hội, thay thế chức năng quản lý con người của
pháp luật. Khi xã hội đạt đến trình độ văn minh cao thì một số hình thái ý thức
xã hội sẽ mất đi, nhưng đạo đức vẫn tồn tại và phát triển cùng với con người.
Tuy nhiên, cần thấy rằng sự tác động của đạo đức đến đời sống xã hội
có tính hai mặt. Nếu hệ thống các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực đạo đức
tiến bộ, phù hợp với đời sống xã hội, với xu thế vận động của xã hội thì nó sẽ
có tác động tích cực, thúc đẩy xã hội phát triển; Nếu ngược lại, nó sẽ gây lên
những tác động tiêu cực cản trở sự phát triển xã hội. Vì vậy, trong quá trình
xây dựng xã hội mới, chúng ta phải kế thừa và phát triển những giá trị đạo
đức truyền thống phù hợp với xã hội ngày nay, loại bỏ những chuẩn mực đạo
đức cũ không còn phù hợp, đồng thời xây dựng những chuẩn mực đạo đức
mới nhằm thúc đẩy xã hội phát triển.
1.1.2. Giáo dục đạo đức và vai trò của nó đối với sự phát triển nhân
cách học sinh Trung học chuyên nghiệp
1.1.2.1. Khái luận chung về giáo dục đạo đức
Hiểu theo nghĩa rộng, giáo dục con người là một quá trình giáo dục
toàn diện cả về trí tuệ và phẩm chất đạo đức. Và trong xã hội hiện nay, khi mà
mặt trái của nền kinh tế thị trường đã len lỏi vào khắp các mối quan hệ trong
cuộc sống con người, làm băng hoại và xói mòn các giá trị đạo đức thì vấn đề
giáo dục phẩm chất đạo đức lại càng được đặt ra bức thiết. Nhận thức được sự
cần thiết đó, Đảng ta đã chủ trương phát động “Học tập và làm theo tấm
gương đạo đức Hồ Chí Minh” một cách rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tâm niệm vì lợi ích mười năm thì
phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Điều đó đã lý giải vì

21


1.1.2.2. Vai trò của giáo dục đạo đức đối với sự phát triển nhân cách
học sinh Trung học chuyên nghiệp
Giáo dục đạo đức cho HS, SV là nhiệm vụ quan trọng bên cạnh việc
dạy kiến thức, dạy nghề. Giáo dục đạo đức là nhằm hướng tới mục đích đào
tạo những con người không chỉ có tài mà còn có đức, để các em trưởng
thành và trở thành người có ích cho xã hội. Vấn đề đạo đức và giáo dục đạo
đức cho HS, SV ở nước ta mấy năm gần đây đã trở thành điểm nóng không
chỉ của ngành giáo dục mà còn của toàn xã hội. Công tác giáo dục đào tạo
HS, SV - đội ngũ trí thức tương lai cần theo một phương hướng cơ bản là
phải thực sự coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng, kết hợp chặt chẽ giữa
giáo dục tri thức với giáo dục lý tưởng, đạo đức cho HS. Xác định đạo đức
là "gốc" của người cách mạng, nó không chỉ là nền tảng nhân cách trong sự
thống nhất với tri thức, mà còn là điều kiện tiên quyết để trau dồi tri thức nói
chung, nâng cao trình độ lý luận nói riêng. Có thể thấy, đạo đức trong sáng
của người HS là một trong những điều kiện, hơn nữa là điều kiện tiên quyết,
là tiền đề để trau dồi lý luận. Không những thế, lý luận ở đây cũng không chỉ
là tri thức, là học vấn nói chung mà là lý luận cách mạng - Đó là lý luận
không chỉ giải thích thế giới mà cốt lõi là để cải tạo thế giới. Vì vậy, nếu học
tập không nhằm mục đích thực tiễn, phục vụ nhân dân thì không thể lĩnh hội
được tinh thần thực chất của lý luận.
Việc học tập chỉ thực sự có kết quả với động cơ đúng đắn. Tất nhiên,
kết quả của học tập không chỉ phụ thuộc vào người học mà còn phụ thuộc vào
người dạy, vào điều kiện học tập, việc tổ chức quản lý học tập... Mặc dù vậy,
phẩm chất đạo đức của người HS vẫn là điều kiện tiên quyết để học tập có kết
quả. Nó là động lực để phát huy tính chủ động, tích cực trong những điều kiện
lịch sử - cụ thể, để biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục nói
chung, giáo dục tri thức nói riêng. Việc coi trọng giáo dục đạo đức, xây dựng

23


24


Bàn về giáo dục đạo đức trong nhà trường, GS. Trần Thanh Đạm cho
rằng giáo dục đạo đức khó hơn trí dục vì giáo dục đạo đức không có một đề
cương, giáo án nào có sẵn. Giáo dục đạo đức không tách ra đứng một mình
mà được lồng ghép vào từng bài giảng, thấm sâu vào HS mỗi ngày. Theo GS.
Trần Thanh Đạm, kiến thức nào cũng có tính tư tưởng. Không chỉ các môn
khoa học xã hội mà các môn khoa học tự nhiên cũng mang tính giáo dục trong
đó. Giáo dục đạo đức không chỉ là những lời nói suông theo kiểu đao to búa
lớn mà thấm vào từng trang sách, bài học qua những việc làm cụ thể và những
hành động thiết thực. Cha mẹ làm gương cho con cái, thầy cô mẫu mực trước
học trò, người lớn tạo niềm tin cho lớp trẻ… Hiện nay nhà trường rất quan
tâm tới việc giáo dục đạo đức cho HS nhưng vẫn còn tồn tại những mặt trái
của cuộc sống: HS đánh nhau, vô lễ với thầy cô giáo, ý thức phấn đấu kém…
Nhiều người lo ngại cho sự xuống dốc của đạo đức xã hội, trong đó có sự
băng hoại về giá trị đạo đức của giới trẻ. GS. Nguyễn Lộc - Phó viện trưởng
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam lo lắng rằng, tuy là một trong 7 vấn đề xã
hội cần ưu tiên nhưng hiện nay, giáo dục đạo đức đang bị lãng quên. Sự
xuống cấp của đạo đức có nhiều nguyên nhân, trách nhiệm thuộc về nhiều
ngành, nhưng trước hết trách nhiệm đó là của nhà trường - nơi giáo dục đạo
đức con người từ khi mới cắp sách đi học đến lúc bước chân vào đời.
1.2. Nội dung cơ bản tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người con ưu tú của dân tộc Việt Nam, là vị
lãnh tụ thiên tài của Đảng và nhân dân ta, anh hùng giải phóng dân tộc, danh
nhân văn hoá thế giới. Người đã kết tinh trong mình những phẩm chất và giá
trị tinh thần cao quý nhất của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam. Hồ Chí
Minh đã để lại cho Đảng ta, nhân dân ta và nhân loại tiến bộ một di sản tinh
thần vô giá, đó là tư tưởng và tấm gương đạo đức trong sáng, mẫu mực, kết
tinh những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status