Vận dụng tư tưởng dân chủ của hồ chí minh để phát huy dân chủ ở huyện buôn đôn, tỉnh đắk lắk giai đoạn hiện nay - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô trong Khoa lý
luận chính trị, đặc biệt là các thầy cô trong chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí
Minh, quý thầy cô giáo đã tạo điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến
quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận.
Để có thể hoàn thành chuyên đề này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc đến cô Trần Minh Tâm - người đã nhiệt tình và tận tâm hướng dẫn cũng
như giúp đỡ tôi rất nhiều ngay từ ngày đầu tiên cho đến khi hoàn thành khóa
luận.
Tôi xin cảm ơn Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân huyện Buôn Đôn, các ban
ngành đoàn thể của huyện đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và
tập thể Lớp Giáo dục chính trị k11 đã động viên, giúp đỡ tôi trong quá trình
thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
Dù có rất nhiều cố gắng tuy nhiên khóa luân này không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp từ quý thầy cô và người đọc để khóa
luận được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Đắk Lắk, ngày tháng năm 2015
SINH VIÊN
HOÀNG THỊ ĐẸP
i
MỤC LỤC
ii
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam,
một nhà chính trị lỗi lạc, anh hùng giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hóa
lớn của thế giới. Tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá, trường tồn
của dân tộc ta. Suốt cuộc đời mình người luôn đấu tranh cho nhân dân Việt
Nam có được một cuộc sống độc lập dân chủ và giàu mạnh. Trong đó vấn đề

dân chủ là một việc làm cần thiết của toàn Đảng, toàn dân trong cả nước nói
chung và ở huyện Buôn Đôn nói riêng.
Xuất phát từ tình hình đó, tôi chọn đề tài “Vận dụng tư tưởng dân
chủ của Hồ Chí Minh để phát huy dân chủ ở huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk
Lắk giai đoạn hiện nay” làm khóa luận tốt nghiệp.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Trình bày một cách có hệ thống những quan điểm cơ bản về tư
tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh.
- Phân tích đánh giá thực trạng tình hình thực hiện dân chủ ở
huyện trong giai đoạn hiện nay.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả
trong việc thực hiện công tác dân chủ ở huyện Buôn Đôn hiện nay.
2
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Vấn đề dân chủ và thực hiện dân chủ là vấn đề ngày càng có vai trò và
ý nghĩa vô cùng to lớn trong đời sống xã hội. Liên quan đến đề tài này đã có
rất nhiều nhà nghiên cứu, học giả nghiên cứu, nhiều bài viết được in trên các
báo, tạp chí như:
GS. TS. Hoàng Chí Bảo (2010). Dân chủ và dân chủ ở cơ sở nông
thôn trong tiến trình đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Công trình này
tác giả đã nêu bật tầm quan trọng của dân chủ và dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là
dân chủ cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay; Những hạn chế yếu kém trong
quá trình thực hiện dân chủ; Giải pháp khắc phục góp phần thực hiện ngày
càng có hiệu quả cao hơn việc phát huy dân chủ trong thời kỳ đổi mới đất
nước.
TS. Phạm Hồng Chương (2004). Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ,
Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. Công trình này đã trình bày cơ sở hình thành,
phát triển và những nội dung cơ bản trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
cũng như những yêu cầu, điều kiện để đưa tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh
vào các lĩnh vực đời sống xã hội.

3.3. Nội dung nghiên cứu
- Trình bày và phân tích những quan điểm cơ bản về tư tưởng dân chủ
của Hồ Chí Minh. Phân tích những tài liệu, bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh
về dân chủ.
- Tìm hiểu, phân tích tình hình thực hiện dân chủ tại huyện Buôn Đôn
hiện nay.
- Đề ra một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong việc
thực hiện dân chủ tại huyện Buôn Đôn giai đoạn 2015 - 2020.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
Để đề tài đạt được kết quả như trên, khóa luận của tôi chủ yếu dựa trên
phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy
vật lịch sử. Đây là cơ sở phương pháp luận khoa học để nghiên cứu học tập và
vận dụng phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ.
Ngoài ra, tôi còn sử dụng thêm một số phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp lịch sử - lôgíc:
Để có cái nhìn tổng quan về tình hình dân chủ của huyện Buôn Đôn tôi
đã sử dụng phương pháp lịch sử - lôgíc, từ đó khái quát lên việc thực hiện dân
chủ của huyện Buôn Đôn hiện nay.
- Phương pháp khảo sát thực tế:
5
Để có được đánh giá sát về việc thực hiện dân chủ tại địa phương, tôi
đã tiến hành về trực tiếp tại huyện Buôn Đôn để quan sát thực tế địa phương
và tiến hành khảo sát một số nội dung liên quan đến đề tài.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp:
Khi đã có kết quả nghiên cứu thực tế việc sử dụng phương pháp phân
tích và tổng hợp để đưa ra đánh giá về việc thực hiện dân chủ ở huyện Buôn
Đôn hiện nay.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu:
Để có kết quả nghiên cứu tôi đã sử dụng phương pháp so sánh - đối
chiếu kết quả nghiên cứu với những công trình nghiên cứu nói chung và đưa

kiện kinh tế hàng hóa đã xuất hiện.
Về mặt chính trị tư tưởng: dân chủ cao nhất của nông dân là bạo động
chống lại chế độ chuyên chế, lật đổ bạo chúa tham quan, cường hào với ước
mơ một xã hội công bằng có vua sáng tôi hiền. Và nó chỉ dừng lại ở yêu cầu
bình đẳng xã hội, bình đẳng về tài sản mà mức độ phát triển cao nhất là chủ
nghĩa bình quân về kinh tế - xã hội và tư tưởng bạo động về chính trị.
Trần Quốc Tuấn đã từng tổng kết thắng lợi của cuộc kháng chiến chống
quân Nguyên là do vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước chung sức.
Nguyễn trãi đã ví dân như nước, nước có thể chở thuyền và lật thuyền. Chính
vì thế các vương triều tiến bộ phải lo giữ lòng dân và phải áp dụng một số
hình thức dân chủ với nhân dân, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc.
Dân chủ trong truyền thống văn hóa Việt Nam với các giá trị của nó, dù
còn giản đơn, chưa trở thành một học thuyết, nhưng cũng chính là một cơ sở
văn hóa vững chắc, thuận lợi để Hồ Chí Minh có thể so sánh, chọn lọc, tiếp
thu những giá trị dân chủ của nhân loại và chủ nghĩa Mác - Lênin.
1.1.2. Tinh hoa văn hóa của nhân loại
Thứ nhất, nó được thể hiện ở sự tác động của các giá trị có ý nghĩ dân
chủ của phương đông
Trước hết là về nho giáo, Hồ Chí Minh phê phán những yếu tố lạc hậu,
khai thác lựa chọn những triết lý về sức mạnh của nhân dân, gần dân, thân
dân, những ước vọng về một xã hội bình trị, an ninh, hòa mục, một thế giới
đại đồng, bình đẳng về tài sản.
Trong bài báo phong trào cộng sản quốc tế viết năm 1924. Hồ Chí
Minh đã phân tích các vấn đề kinh tế như chế độ ruộng đất, chế độ lao động
của Trung Hoa cổ và tóm tắt tư tưởng tiến bộ của các nhà tư tưởng phương
Đông: “Khổng Tử khởi xướng thuyết đại đồng và truyền bá sự bình đẳng về
tài sản. Ông từng nói: thiên hạ sẽ thái bình khi thế giới đại đồng. Người ta
8
không sợ thiếu, chỉ sợ không có đều. Bình đẳng sẽ xóa bỏ nghèo nàn… Việc
thủ tiêu bất bình đẳng về hưởng thụ, hạnh phúc không phải cho một số đông

tiến hóa của nhân loại là con đường hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí
Minh.
1.1.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin
Đây là cở sở lý luận chủ yếu tạo nên và hoàn thiện tư tưởng dân chủ
của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh chú ý đến giá trị dân chủ cao nhất của chủ
nghĩa Mác - Lênin là sự giải phóng của tổ quốc và cùng với sự giải phóng này
là giải phóng triệt để về con người. Với Người, không có giải phóng dân tộc
thì không thể nói tới bất kỳ một giá trị dân chủ nào cho con người, nhưng giải
phóng phải đi tới giải phóng con người một cách triệt để.
1.1.4. Phẩm chất Hồ chí Minh
Một là, về phẩm chất trí tuệ của Hồ chí Minh.
Cũng như nhiều nhà ái quốc khác, Hồ Chí Minh đi phương Tây tìm
đường cứu nước, đi tìm một mô hình phát triển mới cho dân tộc. Nhưng sự vĩ
đại và vượt trội về trí tuệ của Hồ Chí Minh so với các nhà đương thời là ở
chỗ: Cùng với sự tiếp nhận những giá trị mới của nhân loại là dân chủ, cái
mới mà Việt Nam chưa có, đồng thời Người cũng phát hiện thấy tư tưởng dân
chủ tư sản và các mô hình xã hội của nó là những cái đã trở nên già cỗi,
không còn mới đối với sự phát triển của nhân loại nữa, dù mới so với Việt
Nam lúc đó, nhưng bản chất của dân chủ tư sản không tương thích với văn
hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Điều đó giải thích tại sao các nhà ái quốc
trước Hồ Chí Minh đã không thấy được vấn đề đó mà tiếp thu tư tưởng dân
chủ tư sản và du nhập nó vào nước ta.
Hai là, về hoạt động thực tiễn của Hồ Chí Minh:
Không chỉ tiếp thu một học thuyết khoa học về giải phóng dân tộc và
con người, Hồ Chí Minh còn đến nước Nga, nơi học thuyết đó đang được đưa
vào cuộc sống, để chứng kiến cuộc đấu tranh của nhân dân lao động nhằm
xây dựng chế độ dân chủ vô sản - chế độ Xô viết - một chế độ dân chủ hơn
chế độ dân chủ tư sản phương Tây. Tại đây, Hồ Chí Minh lại được chiêm
10
nghiệm từ hiện thực của một hình thức dân chủ mới nhất của nhân loại - dân

chính trị, khi Người nhấn mạnh vấn đề nhà nước. Xem dân chủ là một hình
thái nhà nước, một thiết chế xã hội - nước ta là một nước dân chủ, Hồ Chí
Minh chỉ rõ rằng: “Ở nước ta chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm
chủ. Nhân dân bầu ra các Hội đồng nhân dân, Ủy ban kháng chiến hành chính
địa phương, và Quốc hội cùng Chính phủ Trung ương” [17, tr.218].
Trong các cuộc bầu cử, công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không
phân biệt gái trai, tôn giáo, mức tài sản, trình độ văn hóa, không phân biệt nòi
giống đều được tham gia. Đó là một cách rất hợp lý để nhân dân lao động
thực hành quyền thống trị của mình.
Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay
mặt cho mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ” [20, tr.218 - 219].
Thứ hai: Dân chủ theo phương thức tổ chức xã hội hiện đại - (nội dung
chính trị) trong việc cử ra, tổ chức nên bộ máy nhà nước, và xem chế độ nhà
nước chỉ là một yếu tố tồn tại của nhân dân nhưng không bao trùm lên tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ là một hình thức tồn tại đặc biệt của
nhân dân.
Điều này chỉ rõ, trong khi hoàn thiện chế độ nhà nước thì đồng thời
cũng mở rộng và hoàn thiện quan hệ dân chủ trong các yếu tố của sự tồn tại
của nhân dân, mở rộng phạm vi tự quản của nhân dân, thúc đẩy sự phát triển
của nền dân chủ. Quan niệm đó nêu rõ đặc tính dân chủ phải được thấm sâu
vào tất cả các lĩnh vực quan hệ, giữa các cá nhân, cộng đồng, giữa các nhóm
và tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị… để hướng tới một xã hội đảm bảo
được sự phát triển tự do của mỗi thành viên và là điều kiện cho sự phát triển
tự do của tất cả mọi người trong xã hội.
Trong khái niệm về dân chủ, vấn đề nhất quán và sáng tỏ nhất là sự
khẳng định ngay chế độ dân chủ của nước ta phải thể hiện “bao nhiêu lợi ích
đều vì dân”, “quyền hành”, “trách nhiệm, lực lượng” là “của dân”, “đều ở nơi
dân”. Quan niệm đó cũng chỉ ra phương thức tổ chức, vận hành của xã hội
12
dân chủ là chế độ đại diện, ủy quyền trong đó - chính quyền và đoàn thể đều

quyền hành và lực lượng to lớn của nhân dân để hoàn thành các nhiệm vụ vì
lợi ích của nhân dân.
Để phát huy đầy đủ tiềm năng của các động lực bộ phận, tạo nên sự
phát triển tổng hợp mạnh mẽ của đất nước phải giải quyết đúng đắn mối quan
hệ về lợi ích của tất cả các thành phần trong xã hội, làm cho động lực của các
bộ phận dân cư trong xã hội sắp xếp theo một hướng nhất định. Dân chủ là
giải pháp hữu hiệu để tạo nên sự nhất trí căn bản về lợi ích của các thành phần
kinh tế, các giai tầng và các cộng đồng dân tộc trong xã hội nước ta. Sự nhất
trí đó tạo thành sức mạnh tổng hợp của dân tộc, tạo nên nội lực mạnh mẽ đưa
đất nước vượt qua tất cả khó khăn, thử thách. Hồ Chí Minh viết: “Có phát huy
dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa
cách mạng tiến lên” [21, tr.593] và “Chế độ tuyển cử của chúng ta thực hiện
dân chủ đồng thời thực hiện sự đoàn kết toàn dân” [21, tr.591].
Vai trò động lực của dân chủ đã được thể hiện rất rõ rệt trong toàn bộ
tiến trình cách mạng nước ta. Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem
lại độc lập cho Tổ quốc, đáp ứng mơ ước ngàn đời của đa số cư dân Việt
Nam, mang lại tự do và vị trí của người làm chủ cho họ đã tạo nên nguồn nội
lực cực kỳ vĩ đại cho hai cuộc kháng chiến oanh liệt.
Thành công của cuộc đổi mới ngày nay, xét tới cội nguồn, cũng được
khởi đầu bằng quá trình dân chủ hóa trong các lĩnh vực tạo nên động lực
mạnh mẽ đưa đất nước ta vượt qua thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội trong
thập kỷ 80.
Đó là một số hiện thực sinh động minh chứng về tầm quan trọng và sự
vững bền của động lực dân chủ đối với sự phát triển xã hội, đối với sự tiến
hóa cảu dân tộc ta.
Như vậy, dân chủ là mục tiêu, đồng thời là động lực của sự phát triển
xã hội.
1.2.2.2. Thực hành dân chủ là chìa khóa của sự phát triển
Xuất phát từ quan niệm về quyền hành, lực lượng cũng như lợi ích đều
thuộc về nhân dân, Hồ Chí Minh coi thực hành dân chủ là sự huy động và sử

15
động của xã hội, của đất nước. Với dân chủ, nhân dân có thể thực hiện được
bất cứ nhiệm vụ nào vì sự nghiệp giải phóng của chính bản thân nhân dân.
Hồ Chí Minh tổng kết: “Thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng có
thể giải quyết mọi khó khăn” [24, tr.249].
1.2.3. Bản chất và đặc điểm
1.2.3.1. Bản chất dân chủ
Dân chủ mang tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc
Thứ nhất: Theo quan điểm Mácxít, khi xem xét bản chất của dân chủ
phải quán triệt việc coi dân chủ là một phạm trù chính trị và nhìn nhận nó
theo ba nguyên tắc phương pháp luận mà Lênin đã chỉ ra:
Một là: Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế: nguyên tắc này
cho thấy tính chất và trình độ của bất kỳ nền dân chủ nào cũng bị quy định
bởi tính chất và trạng thái của nền kinh tế.
Hai là: Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp: nguyên tắc này cho thấy
chỉ có xuất hiện chế độ tư hữu thì vấn đề dân chủ mới được đạt ra và nó bị
chế định bởi tính chất của quan hệ sản xuất và trình độ phát triển khác nhau
của nền kinh tế xã hội.
Ba là: Chính trị là sự tham gia vào các công việc của nhà nước: nguyên
tắc này cho thấy thước đo trình độ dân chủ ở một chế độ xã hội là mức độ và
khả năng thu hút quần chúng vào các công việc của nhà nước và xã hội.
Theo Hồ Chí Minh: Dân chủ mới là “điều kiện để tiến đến chủ nghĩa xã
hội” [19, tr.174] và “thực hiện dân chủ mới là bước đầu tiến lên chủ nghĩa
cộng sản” [20, tr.251]. Bản chất giai cấp không chỉ thể hiện qua nội dung mục
tiêu chính trị mà còn biểu hiện ở sự lãnh đạo của Đảng của giai cấp công
nhân, ở cơ sở gai cấp của chế độ dân chủ là liên minh công nông và ở quyền
làm chủ của nhân dân lao động, ở việc dân chủ với nhân dân, chuyên chính
với bọn phản bội lợi ích của nhân dân và dân tộc.
16
Thứ hai: Bản chất của chế độ dân chủ thể hiện qua phương thức tổ

thật trung thành của nhân dân” [24, tr.498].
Mặt khác, Hồ Chí Minh luôn chỉ rõ phương thức lãnh đạo của Đảng là
bằng chủ trương, đường lối và thông qua tổ chức của mình trong hệ thống
chính trị để lãnh đạo, nhưng Đảng không bao biện, làm thay.
Hai là, cùng với pháp luật, đạo đức là giới hạn của dân chủ, là công cụ
kiểm tra và định hướng dân chủ
Là nhà hoạt động chính trị nhưng Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đạo
đức, đến sự rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, cho nhân dân. Theo Hồ
Chí Minh, Độc lập của dân tộc phải gắn liền với Tự do và Hạnh phúc của
nhân dân. Độc lập gắn liền với Dân chủ. Độc lập mà dân còn đói, còn dốt thì
độc lập cũng chẳng có ý nghĩa gì. Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là
dân, vì dân là chủ, nhà nước dân chủ không chỉ lấy quyền lực của mình ở
nhân dân, không chỉ chịu sự kiểm tra, phê bình thường xuyên của nhân dân,
không chỉ có một hoạt động là thân dân, gần gũi dân, phục vụ dân, xuất phát
từ nguyện vọng của nhân dân mà còn phải đáp ứng được tiêu chuẩn đạo đức
trước nhân dân để có thể khai thác, phát huy được trí tuệ của nhân dân, học
được từ dân, phát hiện những sáng kiến của dân - hoàn chỉnh nó làm thành
luật để xây dựng và bảo vệ nền dân chủ.
Hồ Chí Minh nói: “Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính” và
cho rằng: “Thiếu một đức thì không thành người”. Với đức “cần, kiệm, liêm,
chính” và có “kính yêu dân” người cán bộ mới biết lắng nghe và học hỏi được
dân, biết bồi dưỡng phát huy năng lực sáng tạo và trên cở sở đó nêu cao sự
đóng góp mọi mặt của nhân dân và nâng cao dân chủ.
Với Hồ chí Minh, đạo đức và pháp luật là thống nhất, cái này là động
cơ thì cái kia là động lực. Đạo đức có trước pháp luật, đạo đức là gốc, gốc có
bền thì cây mới vững và tươi tốt. Người có đạo đức là người “hết lòng hết sức
phục vụ nhân dân”.
Quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nước lấy dân làm
gốc, dân là chủ, cán bộ là đầy tớ, cán bộ phải yêu dân, kính dân, trong dân là
18

19
Quan điểm Hồ Chí Minh về dân chủ trong lĩnh vực chính trị cho thấy
rằng, quyền lực của nhân dân được khẳng định bằng Hiến pháp và Pháp luật,
được bảo đảm trong việc tổ chức ra nhà nước dân chủ mới của dân, do dân, vì
dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân, quan điểm đó được thể hiện ở những vấn đề
cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Khẳng định quyền lực của nhân dân
Hồ Chí Minh viết: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì
dân là chủ” [19, tr.515]. Quyền là chủ và làm chủ của nhân dân được khẳng
định qua Tuyên ngôn độc lập do Hồ Chí Minh soạn thảo, trong đó các giá trị
về dân chủ gắn liền với độc lập, tự do của Tổ quốc gắn liền với bình đẳng và
công bằng xã hội.
Hiến pháp 1946 đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện quyền lực
của nhân dân trong điều kiện lịch sử hết sức khó khăn lúc đó. Trong lời nói
đầu của hiến pháp năm 1946 đã khẳng định ngay “Nhiệm vụ của dân tộc ta
trong giai đoạn này là bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết
quốc gia trên nền tảng dân chủ” [9, tr.7]. Trên cơ sở đó, Quốc hội Việt Nam
có nhiệm vụ phải xây dựng Hiến pháp nhà nước trên ba nguyên tắc sau:
- Đoàn kết dân không phân biệt nòi giống, gái trai, giai cấp, tôn giáo.
- Đảm bảo các quyền tự do dân chủ.
- Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của dân.
Hiến pháp năm 1946 cũng quy định những quyền cụ thể cho Quốc hội,
Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án và chính quyền cấp tỉnh. Toàn bộ quyền
lực ở và chỉ ở nơi dân mà thôi. Điều đó thể hiện rõ khái niệm dân chủ theo tư
tưởng Hồ Chí Minh “ Tất cả quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”, “địa vị
cao nhất là dân, vì dân là chủ” [19, tr.515].
Điều 6 của Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: “Tất cả các cơ quan Nhà nước
là phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và
chịu sự kiểm soát của nhân dân” [9, tr.29].
20

21
nước. Và để có dân chủ chính trị phải hình thành một thiết chế nhà nước pháp
quyền dân chủ nhằm thực hiện và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.
Hai là, Nhà nước vì dân
Hồ Chí Minh đã nêu một loạt những luận điểm về xây dựng một nhà
nước dân chủ. Đó là các quan điểm về bản chất, về mục tiêu, về nội dung
chức trách và nhiệm vụ của nhà nước vì dân.
Người viết: “Chính quyền dân chủ có nghĩa là chính quyền do người
dân làm chủ” [19, tr.365] vì “Chính quyền từ xã đên Chính phủ Trung ương
do dân cử ra” [18, tr.698] và “Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ
nhân dân; tổ chức giáo dục, động viên nhân dân xây dựng cuộc sống mới”
[22, tr.606].
Nhân dân dùng quyền là chủ để tổ chức ra nhà nước và bên cạnh nhiệm
vụ đảm bảo mọi điều kiện cho việc phục vụ lợi ích của nhân dân như đảm bảo
an ninh của đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội…Nhà nước dân chủ
còn có nhiệm vụ phải phát triển quyền dân chủ và các sinh hoạt chính trị của
nhân dân.
Hồ Chí Minh nói: “Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên
được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [21, tr.594].
Theo Hồ Chí Minh, dân chủ và phát huy dân chủ, phát triển quyền dân
chủ là một quy luật phát triển của nhà nước xã hội chủ nghĩa; nó phản ánh
nhu cầu tự hoàn thiện của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Vấn đề phát huy dân chủ, phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính
trị của nhân dân còn có ý nghĩa quyết định trong việc tập hợp và phát huy mọi
tiềm lực trong nhân dân để tiến hành thành công sự nghiệp xây dựng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.
Như vậy, dân chủ trong lĩnh vực chính trị là xây dựng nhà nước của
dân, do dân, vì dân có nhiệm vụ thực hiện và phát triển nền dân chủ, tạo ra
những điều kiện đảm bảo quyền lực của nhân dân đối với cơ quan và viên
chức nhà nước, mặt khác nó thực hiện chuyên chính với kể thù của dân chủ.

Đảng phải thật vững mạnh, có đủ phẩm chất và năng lực của người lãnh đạo.
Hồ Chí Minh cho rằng, Đảng phải chú ý thực hành dân chủ rộng rãi, Đảng
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status