thảo luận tư tưởng HCM đại học thương mại Phân tích bản chất nhân văn trong tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh - Pdf 26

Lời nói đầu
Bước lên từ nền kinh tế phong kiến lạc hậu, trì trệ, lại phải trải qua hai
cuộc chiến tranh giữ nước khốc liệt, nền kinh tế nước ta vốn đã lạc hậu lại càng
thêm kiệt quệ bởi chiến tranh. Vào thời bình, bắt đầu từ cơ sở kinh tế lạc hậu, trì
trệ đó, nước ta xây dựng nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp,
khiến cho đất nước lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng. Trong
khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh tế thị trường mà CNTB đã đạt được những
thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất
lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trường, quản lý xã hội đạt được những thành quả
về văn minh hành chính, văn minh công cộng; con người nhạy cảm, tinh tế, với
khả năng sáng tạo, sự thách thức đua tranh phát triển. Trước tình hình đó, trong
Đại hội Đảng VI, Đảng ta kịp thời nhận ra sai lầm và tiến hành sửa đổi, chuyển
sang xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng XHCN, kích thích sản xuất,
phát triển kinh tế nhằm mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công bằng văn
minh.
Mới chập chững bước vào nền kinh tế thị trường đầy gian khó, phức tạp, nền
kinh tế Việt Nam đòi hỏi sự học tập, tiếp thu kinh nghiệm của nhân loại trên cơ
sở cân nhắc, chọn lùa cho phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của Việt Nam.
Trong quá trình học hỏi đó, triết học Mác- Lênin, đặc biệt là phạm trù triết học
cái chung và cái riêng có vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động nhận thức về
kinh tế thị trường.
Để góp thêm một tiếng nói ủng hộ đường lối phát triển kinh tế mà Đảng
và nhà nước ta đang xây dựng, tôi chọn vấn đề "Mối quan hệ giữa cái riêng và
cái chung và vận dụng trong quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở nước ta"
làm công trình nghiên cứu của mình.
Hoàn thành tiểu luận này, tôi hi vọng có thể góp một phần nhỏ của mình
trong việc làm rõ, củng cố lòng tin của mọi người vào công cuộc đổi mới của
nhà nước ta, và giúp mọi người quen thuộc hơn với một nền kinh tế mới được áp
1
dụng ở Việt Nam- nền kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện thế
giới hiện nay.

khái niệm cái đơn nhất. Cái đơn nhất là một phạm trù triết học dùng để chỉ
những thuộc tính, những mặt chỉ có ở một sự vật nhất định mà không lặp
lại ở những sự vật khác. Ví dụ chiều cao, cân nặng, vóc dáng của một ngời
3
là cái đơn nhất. Nó cho biết những đặc điểm của chỉ riêng ngời đó, không
lặp lại ở một ngời nào khác. Cần phân biệt cái riêng với cái đơn nhất.
Mt khỏc, gia nhng cỏi riờng cú th chuyn húa qua li vi nhau, chng
t gia chỳng cú mt s c im chung no ú. Nhng c im chung ú
c trit hc khỏi quỏt thnh khỏi nim cỏi chung.
Cỏi chung l mt phm trự trit hc dựng ch nhng mt, nhng thuc
tớnh chung khụng nhng cú mt kt cu vt cht nht nh ,m cũn c lp
li trong nhiu s vt hin tng hay quỏ trỡnh riờng l khỏc, nhng mi liờn h
ging nhau, hay lp li nhiu cỏi riờng.
Cỏi chung thng cha ng trong nú tớnh qui lut, s lp li. Vớ d nh
qui lut cung- cu, qui lut giỏ tr thng d l nhng c im chung m mi
nn kinh t th trng bt buc phi tuõn theo.
4
1.2. Mối quan hệ biện chứng giữa cái riêng và cái chung:
Trong lịch sử triết học, mối liên hệ giữa cái riêng và cái chung được quan niệm
khác nhau. Phái duy thực đồng nhất thượng đế với cái chung và cho rằng chỉ có
cái chung mới tồn tại độc lập khách quan và là nguônhiều sản sinh ra cái riêng.
Đối lập lại chủ nghĩa duy thực, các nhà triết học duy danh như P. Abơla (1079-
1142), Đumxcot (1265- 1308) cho rằng chỉ những sự vật, hiện tượng tồn tại
riêng biệt với những chất lượng riêng của chúng mới là có thực còn khái niệm
cái chung chỉ là sản phẩm của tư duy của con người. Thấy được và khắc phục
hạn chế của hai quan niệm trên, triết học duy vật biện chứng cho rằng cái chung
và cái riêng có mối liên hệ biện chứng mật thiết với nhau, và cả hai đều tồn tại
một cách khách quan.
Cái chung tồn tại bên trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn
tại C¸i chung tån t¹i bªn trong c¸i riªng, th«ng qua c¸i riªng mµ biÓu hiÖn sù

khỏc nhau, u l cỏi " riờng", chỳng cú trng lng nguyờn t ca mỡnh, cú hoỏ
tr ca mỡnh, cú in tớch ht nhõn ca mỡnh, cú cu to v nguyờn t ca mỡnh
Nhng tt c nhng nguyờn t u cú cỏi chung: trong mi nguyờn t u cú ht
nhõn, v in t, u cú nhng ht nguyờn t; ht nhõn ca mi nguyờn t u
cú th b phỏ v. Chớnh nh cú nhng c tớnh chung cho mi nguyờn t m
khoa hc mi cú kh nng bin nguyờn t ca mt nguyờn t ny thnh nguyờn
t ca mt nguyờn t khỏc. Nguyờn t, cng nh bt c hin tng no khỏc
trong th gii khỏch quan, l s thng nht ca cỏi khỏc nhau v cỏi ging nhau,
cỏi n nht v cỏi ph bin. Công thức trên có thể là không hoàn toàn đúng
một cách tuyệt đối, nhng trong một chừng mực nào đó thì nó có thể nói đợc
một cách chính xác quan hệ bao trùm giữa cái chung và cái riêng. Cái chung
chỉ giữ phần bản chất, hình thành nên chiều sâu của sự vật, còn cái riêng là
cái toàn bộ vì nó là một thực thể sống động. Trong mỗi cái riêng luôn tồn tại
đồng thời cả cái chung và cái đơn nhất. Nhờ thế, giữa những cái riêng vừa có sự
tách biệt, vừa có thể tác động qua lại với nhau, chuyển hóa lẫn nhau. Sự " va
chạm" giữa những cái riêng vừa làm cho các sự vật xích lại gần nhau bởi cái
chung, vừa làm cho sự vật tách xa nhau bởi cái đơn nhất. Cũng nhờ sự tơng tác
này giữa những cái riêng mà cái chung có thể đợc phát hiện. Về điểm này,
Lênin nói: " Cái riêng chỉ có thể tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung".
Ví dụ, nguyên tử của mọi nguyên tố đều khác nhau, đều là cái " riêng", chúng
có trọng lợng nguyên tử của mình, có hoá trị của mình, có điện tích hạt nhân
của mình, có cấu tạo vỏ nguyên tử của mình Nhng tất cả những nguyên tử
đều có cái chung: trong mọi nguyên tử đều có hạt nhân, vỏ điện tử, đều có
những hạt nguyên tố; hạt nhân của mọi nguyên tử đều có thể bị phá vỡ. Chính
6
nhờ có những đặc tính chung cho mọi nguyên tử mà khoa học mới có khả năng
biến nguyên tử của một nguyên tố này thành nguyên tử của một nguyên tố khác.
Nguyên tử, cũng nh bất cứ hiện tợng nào khác trong thế giới khách quan, là sự
thống nhất của cái khác nhau và cái giống nhau, cái đơn nhất và cái phổ biến.
Trong nhng hon cnh khỏc nhau, cỏi chung cú th chuyn hoỏ thnh cỏi

thích hợp, cố gắng theo kịp tốc độ tăng trưởng của các nước phát triển trên thế
giới, tăng cường cơ sở vật chất cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
8
CHƯƠNG 2:
CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG NHÌN DƯỚI VẤN ĐỀ
KINH TẾ VIỆT NAM VÀ KINH TẾ THẾ GIỚI
Xét về mối quan hệ kinh tế đối ngoại ta thấy nền kinh tế nước ta đang hoà
nhập với nền kinh tế thị trường thế giới, sự giao lưu về hàng hoá, dịch vụ và đầu
tư trực tiếp của nước ngoài làm cho sự vận động của nền kinh tế nước ta gần gũi
hơn với nền kinh tế thị trường thế giới. Tương quan giá cả của các loại hàng hoá
trong nước gần gũi hơn với tương quan giá cả hàng hoá quốc tế. Thị trường
trong nước gắn liền với thị trương thế giới . Nền Kinh tế Việt Nam là một bộ
phận của nền kinh tế thế giới. Chính điều này tạo nên mét chỉnh thể hoàn chỉnh
của nền kinh tế thế giới
Xu hướng chung phát triển kinh tế của thế giới là sự phát triển kinh tế của
mỗi nước không thể tách rời sự phát triển và hoà nhập quốc tế, sự cạnh tranh
giữa các quốc gia đã thay đổi hẳn về chất, không còn là dân số đông, vũ khí
nhiều, quân đội mạnh mà là tiềm lực kinh tế. Mục đích của các chính sách, của
các quốc gia là tạo được nhiều của cải vật chất trong quốc gia của mình, là tốc
độ phát triển kinh tế cao, đời sống nhân dân được cải thiện, thất nghiệp thấp.
Tiềm lực kinh tế đã trở thành thước đo chủ yếu, vai trò và sức mạnh của mỗi dân
téc, là công cụ chủ yếu để bảo vệ uy tín và duy trì sức mạnh của các đảng cầm
quyền.
Như vậy với tư cách là một bộ phận của nền kinh tế thế giới thì việc tiếp thu
những đặc trưng cơ bản những nét chung trong tổng thể đó để hoàn thiện nền
kinh tế Việt Nam là tất yếu . Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu một
cách hình thức phải tiếp thu có chọn lọc cho phù hợp với đièu kiện đất nước
.Phải giữ dược nhưng nét đặc trưng riêng tưc là phải bảo tồn cái đơn nhất của
kinh tế Việt Nam từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường mới về
chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị trường

trung dùa trên hình thức sở hữu công cộng về TLSX. Trong thời gian đầu sau
chiến tranh, với sự nỗ lực của nhân dân ta, cùng sự giúp đỡ của các nước trong
hệ thống XHCN mà mô hình kế hoạch hoá đã phát huy được tính ưu việt của nó.
Từ một nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kế hoạch hoá nhà nước đã
10
tp trung vo tay mỡnh mt lng vt cht quan trng v t ai, ti sn v tin
bc n nh v phỏt trin kinh t. Nn kinh t k hoch hoỏ trong thi k ny
t ra phự hp, ó huy ng mc cao nht sc ngi sc ca cho tin tuyn.Sau
chiến tranh, ta tiếp tục xây dựng nền kinh tế bao cấp, kế hoạch hoá tập trung
dựa trên hình thức sở hữu công cộng về TLSX. Trong thời gian đầu sau chiến
tranh, với sự nỗ lực của nhân dân ta, cùng sự giúp đỡ của các nớc trong hệ thống
XHCN mà mô hình kế hoạch hoá đã phát huy đợc tính u việt của nó. Từ một
nền kinh tế lạc hậu và phân tán, bằng công cụ kế hoạch hoá nhà nớc đã tập
trung vào tay mình một lợng vật chất quan trọng về đất đai, tài sản và tiền
bạc để ổn định và phát triển kinh tế. Nền kinh tế kế hoạch hoá trong thời
kỳ này tỏ ra phù hợp, đã huy động ở mức cao nhất sức ngời sức của cho tiền
tuyến.
Sau ngy gii phúng min Nam, trờn bc tranh v nn kinh t nc ta tn ti
mt lỳc c ba gam mu: kinh t t cp t tỳc, kinh t k hoch hoỏ tp trung v
kinh t hng hoỏ. Do s khụng hi ho gia cỏc nn kinh t v s ch quan cng
nhc khụng cõn nhc ti s phự hp ca c ch qun lý m chỳng ta ó khụng
to ra c ng lc thỳc y nn kinh t phỏt trin m cũn gõy lóng phớ ti
nguyờn, ụ nhim mụi trng Lỳc ny, nc ta ng thi cng b ct gim
ngun vin tr t cỏc nc XHCN. Tt c nhng nguyờn nhõn ú ó khin cho
nn kinh t nc ta trong nhng nm cui thp k 80 lõm vo khng hong trm
trng, i sng nhõn dõn b gim sỳt, thm chớ mt s ni cũn b nn úi e
do. Nguyờn nhõn ca s suy thoỏi ny l t nhng sai lm c bn nh: Sau
ngày giải phóng miền Nam, trên bức tranh về nền kinh tế nớc ta tồn tại một lúc
cả ba gam màu: kinh tế tự cấp tự túc, kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh
tế hàng hoá. Do sự không hài hoà giữa các nền kinh tế và sự chủ quan cứng

ng ta xỏc nh vic i mi c ch kinh t nc ta l mt tt yu khỏch
quan v trờn thc t ang din ra vic ú, tc l chuyn t nn kinh t k hoch
hoỏ tp trung sang nn kinh t th trng cú s qun lý ca nh nc theo nh
hng XHCN. õy l mt s thay i v nhn thc cú ý ngha rt quan trng
trong lý lun cng nh trong thc t. Trong khi đó, nhờ sử dụng triệt để kinh
tế thị trờng, CNTB đã đạt đợc những thành tựu về kinh tế- xã hội, phát triển
lực lợng sản xuất, nâng cao năng suất lao động. Cũng nhờ kinh tế thị trờng,
quản lý xã hội đạt đợc những thành quả về văn minh hành chính, văn minh
công cộng; con ngời nhạy cảm, tinh tế, với khả năng sáng tạo, sự thách thức đua
tranh phát triển. Do mắc phải những sai lầm nh trên mà để phát triển kinh tế
XHCN ở nớc ta không thể chấp nhận việc tiếp tục kế hoạch hoá tập trung nh
12
trớc. Với tinh thần tích cực sửa đổi, sau khi đã nhận ra những sai lầm, tại đại
hội VI của Đảng đã chủ trơng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần và thực
hiện chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá sang cơ chế
hạch toán kinh doanh XHCN. Đến đại hội VII Đảng ta xác định việc đổi mới
cơ chế kinh tế ở nớc ta là một tất yếu khách quan và trên thực tế đang diễn ra
việc đó, tức là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng XHCN. Đây là một sự
thay đổi về nhận thức có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng nh trong
thực tế.
Ta ó chớnh thc chp nhn kinh t th trng mt cỏch c bn, cựng
nhng u im ca nú mt cỏch tng th, lõu di m khụng cũn n thun ph
nhn nh trc na (rng kinh t th trng ch l c trng riờng cú ca CNTB;
nc ta khụng i theo CNTB th cng khụng th ỏp dng kinh t th trng
trong phỏt trin kinh t). ng ta cũn ch rừ rng nn kinh t th trng cú s
phự hp vi thc t nc ta, phự hp vi cỏc qui lut kinh t v vi xu th ca
thi i:
Nu khụng thay i c ch kinh t, vn gi c ch kinh t c thỡ khụng
th no cú sn phm tiờu dựng ch cha mun núi n tớch lu vn

để phát triển kinh tế. Tuy nhiên ta không được phép chỉ tiếp thu hình thức kinh
tế thị trường từ chế độ TBCN (vốn được đẩy lên giai đoạn phát triển rất cao so
với những thời kỳ trước) mà từ đó còn phải xây dựng một nền kinh tế thị trường
mới về chất, thể hiện sự phát triển, phủ định biện chứng đối với nền kinh tế thị
trường TBCN.
3.2. Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:
3.2.1. Nền kinh tế nước ta mang bản chất của nền kinh tế thị trường
thế giới:
Trước hết, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường, nên nó tuân theo
mọi quy luật của kinh tế thị trường: quy luật cung- cầu, quy luật giá trị thặng dư,
quy luật lưu thông tiền tệ
Các loại thị trường, các mối quan hệ thị trường được phát triển phong phú, đa
dạng, thể hiện trình độ cao trong việc phân công lao động thành nhiều ngành
nghề. Sự khác biệt về sở hữu tài sản đã được chấp nhận (không còn chỉ chấp
nhận hình thức sở hữu nhà nước, tập thể như trước) và lợi nhuận trở thành động
lực phát triển. Theo đó, đã hình thành một líp người mới năng động hơn, bám
sát thị trường hơn và "biết làm kinh tế hơn". ở nước ta hiện nay cũng hình thành
và tồn tại cả những khuyết tật của kinh tế thị trường: tâm lý quá coi trọng đồng
tiền, chạy theo lợi nhuận, sự phân cực giàu nghèo quá mức, kinh tế phát triển
14
mt cõn i. Kinh t th trng nc ta cng cú s qun lý ca nh nc
khng ch, gim bt nhng khuyt tt ú cựng nhng tỏc hi ca nú. Nhng tuy
nhiờn, nhng khuyt tt ú vn cũn tn ti õm trong xó hi v trong suy ngh
ca mt s ngi. Các loại thị trờng, các mối quan hệ thị trờng đợc phát
triển phong phú, đa dạng, thể hiện trình độ cao trong việc phân công lao
động thành nhiều ngành nghề. Sự khác biệt về sở hữu tài sản đã đợc chấp
nhận (không còn chỉ chấp nhận hình thức sở hữu nhà nớc, tập thể nh trớc) và
lợi nhuận trở thành động lực phát triển. Theo đó, đã hình thành một lớp ngời
mới năng động hơn, bám sát thị trờng hơn và "biết làm kinh tế hơn". ở nớc ta
hiện nay cũng hình thành và tồn tại cả những khuyết tật của kinh tế thị tr-

ngay t u, ng ta ch trng phỏt trin lc lng sn xut phi i ụi vi
xõy dng quan h sn xut, c bit l nhng yu kộm v qun lý v phõn phi,
xõy dng quan h con ngi vi con ngi, mt xó hi giu tỡnh thng v lũng
nhõn ỏi; tng trng kinh t phi i ụi vi xoỏ úi gim nghốo, lm cho th
trng mang tớnh nhõn vn hn. Chúng ta không coi kinh tế thị trờng là
mục tiêu mà chỉ là một công cụ, giải pháp, phơng tiện để phát triển lực lợng
sản xuất, phát triển kinh tế phục vụ lợi ích của đa số nhân dân lao động,
nhằm mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Cùng với việc
sử dụng động lực của kinh tế thị trờng, ngay từ đầu, Đảng ta chủ trơng phát
triển lực lợng sản xuất phải đi đôi với xây dựng quan hệ sản xuất, đặc biệt
là những yếu kém về quản lý và phân phối, xây dựng quan hệ con ngời với
con ngời, một xã hội giàu tình thơng và lòng nhân ái; tăng trởng kinh tế phải
đi đôi với xoá đói giảm nghèo, làm cho thị trờng mang tính nhân văn hơn.
Di CNTB, kinh t th trng mang tớnh cnh tranh theo kiu cỏ ln nut cỏ
bộ, bt bỡnh ng, bt cụng; nhng nn kinh t th trng trong xó hi XHCN
vn mang tớnh cnh tranh, s dng cnh tranh lm ng lc phỏt trin nhng
khụng cnh tranh dó man; tng trng kinh t i ụi vi cụng bng xó hi,
khuyn khớch lm giu gn vi xoỏ úi gim nghốo v khc phc s phõn cc
giu nghốo, gia tng v mc sng nhng vn gi gỡn c o c, bn sc vn
hoỏ dõn tộc. Dới CNTB, kinh tế thị trờng mang tính cạnh tranh theo kiểu cá lớn
nuốt cá bé, bất bình đẳng, bất công; nhng nền kinh tế thị trờng trong xã hội
XHCN vẫn mang tính cạnh tranh, sử dụng cạnh tranh làm động lực phát triển
nhng không cạnh tranh dã man; tăng trởng kinh tế đi đôi với công bằng xã hội,
khuyến khích làm giàu gắn với xoá đói giảm nghèo và khắc phục sự phân
cực giàu nghèo, gia tăng về mức sống nhng vẫn giữ gìn đợc đạo đức, bản sắc
văn hoá dân tộc.
16
Trong quá trình phát triển, kinh tế nhà nước được chọn lọc, sắp xếp lại, khẳng
định hợp lý phạm vi cần nắm giữ, nắm lấy những mạch máu chủ yếu làm đội
quân chủ lực trong xây dựng và điều tiết kinh tế, làm nòng cốt hướng dẫn cac

trường vốn, thị trường sức lao động , nên chưa thể thực sự hoà nhập với thị
trường thế giới.
Nước ta có truyền thống văn hoá lâu đời, nhân dân ta vốn có sự khéo léo cao
nên có thể phát triển nhiều thành phần kinh tế cần có độ tinh xảo, khéo léo cao
như trạm khắc, đan đặc biệt là những thành phần kinh tế truyền thống, ở các
làng nghề truyền thống như tranh Đông Hồ, sơn mài khảm trai Tuy nhiên,
trong lịch sử nước ta có thể nói chỉ là lịch sử của những cuộc chiến tranh chống
xâm lược mà không có trang nào về việc phát triển kinh tế, trong vốn từ truyền
thông dường như rất xa lạ với thuật ngữ "làm kinh tế". Ngoài ra, ta mới đổi mới
nền kinh tế nên vẫn còn những người thuộc "thế hệ cũ"- thế hệ của cơ chế bao
cấp. Họ "dị ứng" với kinh tế thị trường, coi kinh tế thị trường là một thứ gì đó
rất xấu xa mà mình không thể chấp nhận, và làm theo được; và họ cũng không
đủ năng động để thích ứng với tốc độ phát triển của kinh tế thị trường.
Quan tâm đến các vấn đề chính sách xã hội, bù đắp những tổn thất cho những
người, gia đình có công với cách mạng, thành lập những làng tình thương giúp
đỡ nhiều người không nơi nương tựa , kiểm soát, giảm thiểu những mặt tiêu
cực so kinh tế thị trường gây ra; đó là những biện pháp giảm khuyết tật xã hội
của kinh tế thị trường mà nhà nước ta đã thực hiện. Nhờ đó, nhà nước không còn
là "kẻ gác cổng trung thành cho sở hữu tư nhân" mà đã trở thành một lực lượng
quan trọng trong việc điều tiết xã hội, khống chế khuyết tật xã hội.
Trong quá trình phát triển kinh tế, hội nhập với kinh tế thị trường thế giới, ta
luôn chú ý tới việc đảm bảo độc lập, tự chủ về kinh tế, chính trị và đảm bảo độc
lập, tự do cho dân téc, giữ gìn bản sắc dân téc.
3.2.3. Những thắng lợi bước đầu mà kinh tế thị trường mang lại:
Xét về lĩnh vực con người, người Việt nam hiện nay đã thể hiện sự năng
động, tinh tế, nhạy cảm( đặc biệt là với thị trường) hơn hẳn so với những năm
tám mươi.
Xét về lĩnh vực kinh tế, nhờ chuyển sang xây dựng kinh tế thị trường theo
một đường lối đúng đắn, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng( con người, tự
nhiên, xã hội, điều kiện lịch sử ) củaViệt nam mà nền kinh tế cũng như đời

bao cấp đã ăn sâu vào tận trong ý nghĩ của nhiều người. Xuất phát từ cơ sở vật
chất lạc hậu cùng phương cách quản lý kém hiệu quả đó, nền kinh tế thị trường
nước ta có trình độ phát triển thấp, cơ cấu quản lý còn non yếu. Kinh tế thị
trường nước ta hiện nay được đánh giá là chậm so với thế giới hàng thế kỷ.
Muốn đuổi kịp tốc độ phát triển, cơ sở vật chất của các nước phát triển trên thế
giới ta không thể đi tuần tự từ kinh tế thị trường tự do sang kinh tế thị trường
hiện đại như là hướng phát triển kinh tế thị trường chung của toàn thế giới mà
phải chọn cách "đi tắt" sang kinh tế thị trường hiện đại. Nhưng muốn "đi tắt"
19
được như vậy đòi hỏi ta phải chấp nhận những thách thức rất gay gắt, và sự nỗ
lực ghê gớm. Ta "đón đầu", áp dụng những tiến bộ mới của khoa học kỹ thuật
nhân loại vào sản xuất, đẩy mạnh năng suất lao động cả về số lượng và chất
lượng. Điều này đòi hỏi ta phải đào tạo được "líp người mới", quen thuộc với
khoa học kỹ thuật, không cảm thấy lạ lẫm với những máy móc hiện đại, đòi hỏi
người lao động phải có trình độ cao. Để đáp ứng yêu cầu đó, ta phải đẩy mạnh
phát triển khoa học, giáo dục đào tạo, cũng như có những chính sách phát hiện,
nuôi dưỡng và giữ gìn nhân tài, tránh hiện tượng chảy máu chất xám.
Nước ta có vị trí vô cùng thuận lợi, đồng thời lại có nhiều danh lam thắng
cảnh đẹp được thế giới công nhận. Do đó, điều kiện để phát triển giao thông vận
tải và du lịch là rất lớn. Nhiều nước nói rằng họ "thèm" được có điều kiện như
Việt nam về vị trí địa lý, và nếu có được thì họ sẽ thu về một doanh thu khổng lồ
từ ngành du lịch. Nhưng hiện nay việc phát triển du lịch ở nước ta còn rất hạn
chế, chưa tương xứng với tiềm năng. Điều đó đặt ra một yêu cầu nữa cho công
cuộc phát triển kinh tế ở nước ta: phải đẩy mạnh phát triển du lịch sao cho tương
xứng với tiềm năng của mình, tích cực thu ngoại tệ từ ngành du lịch để phát
triển chính bản thân ngành cùng nhiều ngành nghề khác trong nền kinh tế.
Người Việt nam được đánh giá là khéo léo. Ta có nhiều làng nghề thủ công
mỹ nghệ nổi tiếng như làng tranh Đông Hồ chẳng hạn. Nhiều nước tỏ ra ưa
chuộng hàng thủ công của ta, muốn đặt hàng cùng ta nhưng do hàng rào thuế
quan, phong cách quản lý gây khó khăn, cùng với việc "ngại" áp dụng khoa học

hiệu quả kinh doanh của đơn vị. Điều này đang dần dẫn tới việc các doanh
nghiệp nhà nớc trở thành gánh nặng cho nền kinh tế, không thể giữ vai trò
chủ đạo nh trớc. Theo thống kê, hàng năm tuy 75% số vốn đầu t cho phát triển
kinh tế nhà nớc, và chỉ có 25% dành cho các doanh nghiệp t nhân nhng hiệu
quả kinh tế mang lại của hai thành phần kinh tế này chỉ chênh lệch rất nhỏ
so với tỷ lệ vốn đầu t. Trong những điều kiện mới, ta buộc phải đặt ra vấn
đề nâng cao năng suất làm việc của doanh nghiệp nhà nớc, khiến cho các cơ
quan nhà nớc phải trở nên năng động hơn, bám sát với những biến động của thị
trờng hơn và quan tâm đến hiệu quả sản xuất hơn thì mới có thể tiếp tục giữ
vai trò chủ đạo, định hớng nh trớc.
Hin nay, s qun lý bng phỏp lut ca ta vn cũn nhiu s h, to iu kin
cho ti phm kinh t phỏt trin. Do ú yờu cu t ra l phi thit lp lut phỏp
cht ch, dn a con ngi ti hnh ng t giỏc tuõn theo phỏp lut, sụng vn
minh, cú vn húa, v to mt mụi trng cnh tranh cụng bng, lnh mnh, cú
trt t cho cỏc ch th kinh doanh. Hiện nay, sự quản lý bằng pháp luật của
ta vẫn còn nhiều sơ hở, tạo điều kiện cho tội phạm kinh tế phát triển. Do đó
21
yêu cầu đặt ra là phải thiết lập luật pháp chặt chẽ, dần đa con ngời tới hành
động tự giác tuân theo pháp luật, sông văn minh, có văn hóa, và tạo một môi tr-
ờng cạnh tranh công bằng, lạnh mạnh, có trật tự cho các chủ thể kinh doanh.
Nn kinh t cú s lónh o ca ng Cng sn va cú s qun lý ca nh nc
sao cho va m bo phỏt trin kinh t va m bo phỏt trin xó hi v con
ngi, gim thiu nhng khuyt tt xó hi m kinh t th trng mang li.
Nền kinh tế có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản va có sự quản lý của nhà
nớc sao cho vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa đảm bảo phát triển xã hội và
con ngời, giảm thiểu những khuyết tật xã hội mà kinh tế thị trờng mang lại.
22
KẾT LUẬN
Cái riêng là phạm trù triết học dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng,
một quá trình riêng lẻ nhất định trong thế giới khách quan.

Những vấn đề: Tổ chức và điều tiết thị trường.
Một số kinh nghiệm nước ngoài
Tạp chí cộng sản sè 9/ 1998
Tạp chí kinh tế và phát triển sè 13/ 1996
Tạp chí nghiên cứu kinh tế sè 4/ 1996
Tạp chí phát triển kinh tế sè 68/ 1996
Tạp chí thương mại sè 5/ 1996
Đỗ Đức Thịnh Nhà nước trong kinh tế thị trường các nước đang
phát triển ở châu Á
Tính chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước trong
nền kinh tế thị trường nước ta hiện nay
Phan Quang Tuệ Một số học thuyết kinh tế tiền tệ của các nhà kinh
tế thị trường
Vò Huy Từ Doanh nghiệp nhà nước trong cơ chế thị trường ở
Việt nam
24
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status