Tư tưởng kinh tế của Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh là một hiện tượng hiếm thấy trong lịch sử VN và cả lịch sử thế giới: vừa thấu hiểu
sâu sắc văn hóa phương Đông, vừa lịch duyệt văn hóa phương Tây, nhưng cả hai đều trên cơ sở
nhuần nhuyễn bản sắc văn hóa VN.
Lại cũng vì nhuần nhuyễn bản sắc VN và thấu hiểu sâu sắc văn hóa phương Tây, đã từng lăn lộn
nhiều năm tháng trong nhiều nước phương Tây, ông hiểu nó tận tường, nên ông đối diện với nó
một cách rất tự tin, ung dung, không chút mặc cảm. Cũng như vậy, Hồ Chí Minh tiếp thu học
thuyết Mác - Lênin và chủ nghĩa cộng sản từ lập trường một nhà ái quốc để tiếp thu và chắt lọc
những giá trị của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Từ Cách mạng Tháng Tám cho tới kháng chiến thắng lợi
Hồ Chí Minh là linh hồn của những tư tưởng kinh tế kháng chiến. Có thể kể đến những tư tưởng
kinh tế chính của Hồ Chí Minh trong thời kỳ này:
Cán bộ xã viên hợp tác xã Hồng Tháivà đại biểu nhân dân
huyện Ninh Giang phấn khởi chào đón chủ tịch HCM về thăm, 15-2-1965
1- Vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Chính tư tưởng này về sau, trong thời kỳ đánh Mỹ, đã được
tiếp tục thực hiện dưới khẩu hiệu “vừa chiến đấu vừa sản xuất”.
2- Tư tưởng tự lực cánh sinh. VN bước vào cuộc kháng chiến trong tình trạng “tứ cố vô thân”.
Do đó, tự lực cánh sinh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Kết quả của tư tưởng đó, như chính Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết:
“Ta phải làm tự cấp tự túc, dù nó phong tỏa 10 năm, 15 năm ta cũng không sợ”. (1)
“Đương đầu trong một cuộc chiến tranh với một nước mạnh như Pháp mà không phải vay mượn,
trong lúc chính Pháp lại nợ chồng chất…”. (2)
3- Tư tưởng lấy dân làm gốc. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng dân làm gốc được hiểu theo cả hai mặt:
phải dựa vào dân để phát triển kinh tế và phát triển kinh tế là để phục vụ dân. Chính Hồ Chí
Minh đã giải thích mối quan hệ này:
“Dựa vào lực lượng của dân, tinh thần của dân để gây hạnh phúc cho dân…”. (3)
“Muốn tăng gia sản xuất phải làm thế nào? Không phải Chính phủ bỏ 10 -15 triệu để mở nhà
máy, làm thế này thế khác; phải đem hết sức dân, tài dân, của dân… làm cho dân”. (4)
4- Tư tưởng nhiều thành phần kinh tế. Chữ dân trong tư tưởng Hồ Chí Minh cũng chính là dân
tộc. Dân tộc là một khối cộng đồng, gồm nhiều thành phần giai cấp, nhiều thành phần kinh tế.
Ông đã viết rất nhiều thư cho tổng thống Mỹ, bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ, các chính khách Mỹ,
các chính khách Anh, các tổng thống của các nước Ân Độ, Pakistan, Myanmar, Indonesia để tỏ
tình đoàn kết. Như vậy, tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh không chỉ hướng nội mà còn
hướng ngoại. Từng bôn ba khắp các nước phương Tây, ông hiểu thế nào là phương Tây. Ông
không nhìn phương Tây bằng con mắt cừu thù và đố kỵ một cách thiển cận. Ông hiểu chỗ nào
đáng đề phòng, chỗ nào có thể bắt tay hợp tác.
Ngày 9-10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 48, trong đó điều 1 qui định: “Các
hãng kỹ nghệ hoặc thương mại ngoại quốc hiện có ở VN vẫn được phép tiếp tục kinh doanh như
cũ”. (9)
Ngay trong khi kháng chiến diễn ra dữ dội, ông vẫn tuyên bố: “Chúng tôi rất hoan nghênh tư bản
Pháp và tư bản các nước khác thật thà cộng tác với chúng tôi. Một là để xây dựng lại VN sau lúc
bị chiến tranh tàn phá, hai là để điều hòa với kinh tế thế giới và giữ gìn hòa bình”. (10)
Từ sau khi hòa bình lập lại
Có thể nêu một số tư duy kinh tế tiêu biểu của ông trong thời kỳ này:
- Về chủ nghĩa xã hội: “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung
sướng, ai nấy được đi học, ốm đau có thuốc, già không lao động được thì nghỉ, những phong tục
tập quán không tốt dần dần được xóa bỏ… Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng
tăng, tinh thần ngày càng tốt, đó là chủ nghĩa xã hội”. (11)
“Hiện nay, chúng ta đang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, một cuộc cách mạng nhằm đánh
thắng lạc hậu và bần cùng, để xây dựng hạnh phúc muôn đời cho nhân dân ta, cho con cháu
ta…”. (12)
“Nói một cách tóm tắt, mộc mạc, chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm làm cho nhân dân lao động
thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời
hạnh phúc”. (13)
- Về làm chủ tập thể: Hồ Chí Minh chính là người đầu tiên ở VN có những định nghĩa ngắn gọn
nhưng đầy đủ, mộc mạc nhưng sâu sắc về làm chủ tập thể:
“Ngày nay tất cả những người lao động - lao động chân tay và lao động trí óc - đều phải nhận
thật rõ: mình là người chủ nước nhà.
… Đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm tròn nghĩa vụ của người chủ. Nghĩa vụ đó là: cần kiệm
xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội nhằm mục đích không ngừng nâng cao đời sống
Đảng thì thông minh, ngoan ngoãn hơn.
Vậy thì ta nên đưa ai đi (đây là nói về tuyển người đi học nước ngoài - Đ.P.)? Con của người
ngoài Đảng hay con của người trong Đảng? Đảng ta là Đảng của giai cấp, đồng thời cũng là của
dân tộc, không thiên tư, thiên vị. Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết. Đảng lo việc
cho cả nước”.
“Làm cách mạng thắng lợi đã giành lại ruộng đất, nhà máy, hầm mỏ, đường sắt, bến tàu. Nhưng
ruộng đất, máy móc tự nó không đẻ ra của cải. Điều quan trọng là sau khi đã làm chủ được nó,
chúng ta phải biết bắt nó đẻ ra của cải ngày càng nhanh, càng nhiều, đời sống chúng ta ngày càng
dồi dào, nếu không thì chúng ta thực hiện chủ nghĩa xã hội mà mức sống của chúng ta vẫn hết
sức tồi tàn”. (18)
“Muốn làm chủ được tốt, phải có năng lực làm chủ. Chúng ta học tập chính là để có đủ năng lực
làm chủ, có đủ năng lực tổ chức cuộc sống mới Bởi vậy ý thức làm chủ không phải chỉ tỏ rõ ở
tinh thần hăng hái, mà phải say mê học tập để không ngừng nâng cao năng lực làm chủ của
mình”.(19)
- Về kế hoạch hóa: “Tiến nhanh tiến mạnh không phải là phiêu lưu, làm ẩu. Phải thiết thực đi
từng bước, phải tính toán những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Chớ đem chủ quan
của mình thay cho điều kiện thực tế…”. (20)
“Mỗi vấn đề phải có một kế hoạch cụ thể, phải đi thật sâu để giải quyết cho kỳ được… Đừng để
kế hoạch phình ra, nếu để kế hoạch phình ra thì liệu có khả năng làm được không? Đừng để cho
tình trạng mình lại tự lừa mình ”. (21)
- Về hợp tác hóa: “Qui mô hợp tác xã không nên quá to, quá to thì khó quản lý. Cũng không nên
quá nhỏ, quá nhỏ thì sức người ít, khó phát triển. Nên tùy theo điều kiện của mỗi địa phương ”.
(22)
“Hiện nay các tỉnh đang mở rộng phong trào hợp tác hóa. Việc xây dựng hợp tác xã cần chú
trọng đến chất lượng, không nên chạy theo số lượng. Nếu xã, huyện nào cũng có hợp tác xã, mà
hợp tác xã không hơn gì các tổ đổi công và gia đình làm ăn riêng lẻ, thì có tốn công tuyên truyền
bao nhiêu cũng ít người muốn vào hợp tác xã”.
“Làm sao mà biết được hợp tác xã làm ăn phát triển? Phải căn cứ vào đời sống của nông dân, thu
nhập của xã viên càng ngày càng tiến lên”. (23)
- Về dân chủ: “Các chú diễn giảng hai tiếng dân chủ sao mà rắc rối, dài dòng thế? Dân chủ thật
(4): Như trên.
(5): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, HN 2002, tr. 49.
(6): Bài viết Đời sống mới, lấy tên là Tân Sinh.
(7): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, đ d, tr. 61-62.
(8): Nguyễn Xiển - nguyên chủ tịch Ủy ban Hành chính Bắc bộ. Hồi ký về sự nghiệp đắp đê sau
cách mạng. Tạp chí Xưa & Nay, số tháng 5-1995, tr. 131.
(9): Công báo, 1945, số 1, tr.12.
(10): Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, đ d, tr. 169.
(11): Bài nói chuyện với Trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình ngày 17-8-
1962. Tạp chí Nghiên Cứu Giáo Dục số 37, tháng 5-1975. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr. 591.
(12): Bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II, ngày 27-2-1961. Báo Nhân Dân
ngày 28-2-1961. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr. 292.
(13): Hồ Chí Minh. 30 năm hoạt động của Đảng. Bài viết cho tạp chí Những vấn đề hòa bình và
chủ nghĩa xã hội, số 2, 1960. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr. 17.
(14): Bài nói chuyện tại Đại hội Công đoàn toàn quốc lần thứ II ngày 27-2-1961, Hồ Chí Minh
toàn tập, tập 10, đ d., tr. 290.
(15): Hồ Chí Minh. Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội. Tr. 310- 311.
(16): Nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Bác Hồ với quê hương Nghệ Tĩnh.
Nghệ Tĩnh, 1977, tr. 78. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr. 444.
(17): Bài nói chuyện tại lớp bồi dưỡng cán bộ về công tác mặt trận tháng 8-1962. Báo Nhân Dân
ngày 31-8-1962. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr. 605.
(18): Báo Nhân Dân, ngày 16-1-1960.
(19): Báo Nhân Dân, 14-3-1960.
(20): Hồ Chí Minh. Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội. Bài viết cho báo Nhân Dân
số ra ngày 27-3-1961. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 10, tr. 315.
(21): Phát biểu của Hồ Chí Minh tại cuộc họp Ban Bí thư ngày 20-3-1964. Biên bản cuộc họp
Ban Bí thư ngày 20-3-1964. Lưu trữ tại phòng tư liệu Viện Hồ Chí Minh, ĐVBQ 139, tr. 92.
(22): Báo Nhân Dân, 2-9-1962.
(23): Nói chuyện với Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An, đ.d, tr. 441.
(24): Tố Hữu: Nhớ lại một thời (Hồi ký), đ d, tr. 280.