Xác định vai trò của vi khuẩn escherichia coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn hướng nạc giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại một số trang trại chăn nuôi tập trung trên địa bàn huyện ba vì hà nội và đề xuất biện - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
*************************
TẠ THỊ KIM NGÂN

XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA VI KHUẨN ESCHERICHIA COLI TRONG HỘI
CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN HƯỚNG NẠC GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN
21 NGÀY TUỔI TẠI MỘT SỐ TRANG TRẠI CHĂN NUÔI TẬP TRUNG
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BA VÌ – HÀ NỘI VÀ ĐỀ XUẤT
BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ CHUYÊN NGÀNH : THÚ Y
MÃ NGÀNH : 60.64.01.01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. BÙI TRẦN ANH ĐÀO

HÀ NỘI- 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự cố gắng của bản thân tôi luôn nhận
được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường, bạn bè, đồng nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Bùi Trần Anh Đào – người đã tận
tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo bộ môn
Bệnh lý, các thầy cô giáo khoa Thú y, Viện đào tạo sau đại học (nay thuộc Ban
quản lý đào tạo) – Học viện Nông Nghiệp Việt Nam, bộ môn Vi trùng –Viện Thú y
Quốc gia đã giành nhiều thời gian và công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập
và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các chủ trại tại xã Ba Trại, Quảng Oai, Thụy An,
Cẩm Lĩnh – huyện Ba Vì – Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Tôi xin được cảm ơn bạn bè, gia đình đã giúp đỡ, động viên để tôi hoàn
thành chương trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 08 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Tạ Thị Kim Ngân
2.2.2 Đặc tính nuôi cấy và sinh vật hoá học 19
2.2.3 Đặc tính gây bệnh của vi khuẩn E. coli 21
2.2.4 Khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli 26
2.2.5 Vai trò của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn 28
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv

3 ĐỐI TƯỢNG, NGUYÊN LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 30
3.1 Nội dung nghiên cứu 30
3.1.1 Xác định tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con hướng nạc từ sơ
sinh đến 21 ngày tuổi tại các trang trại chăn nuôi tập trung trên địa
bàn huyện Ba Vì – Hà Nội. 30
3.1.2 Phân lập và xác định các đặc tính sinh học, serotyp kháng nguyên, yếu
tố gây bệnh và độc lực của vi khuẩn E. coli. 30

3.1.3 Xác định tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn E. coli phân
lập được và đề xuất phác đồ điều trị. 30

3.2 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 31
3.2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 31

3.2.3 Thời gian nghiên cứu 31

3.3.

Nguyên liệu dùng trong nghiên cứu 31



3.4.10 Xác định tính kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được 39

3.4.11 Thử nghiệm một số phác đồ điều trị tiêu chảy cho lợn 40

3.4.12 Phương pháp xử lý số liệu 41

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
4.1 Xác định tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con hướng nạc từ sơ
sinh đến 21 ngày tuổi tại các trang trại chăn nuôi lợn tập trung trên địa
bàn huyện Ba Vì – Hà Nội 42
4.1.1 Tình hình mắc hội chứng tiêu chảy ở lợn con hướng nạc từ sơ sinh đến
21 ngày tuổi tại một số trại chăn nuôi lợn tập trung ở một số xã trên
địa bàn huyện Ba Vì – Hà Nội. 42

4.1.2 Tỷ lệ mắc tiêu chảy do vi khuẩn E. coli phân lập từ lợn con hướng nạc
theo mẹ mắc hội chứng tiêu chảy trên địa bàn huyện Ba Vì. 43

4.1.3 Triệu chứng lâm sàng và tổn thương đại thể của lợn con theo mẹ bị
tiêu chảy do E. coli 43

4.2 Phân lập và xác định các đặc tính sinh hóa, serotyp kháng nguyên, yếu
tố gây bệnh và độc lực của vi khuẩn E. coli 46

4.2.1 Kết quả phân lập vi khuẩn E. coli từ các mẫu bệnh phẩm của lợn con
hướng nạc theo mẹ mắc tiêu chảy 46

4.2.2 Kết quả giám định một số đặc tính sinh học của các chủng vi khuẩn E.
coli phân lập được 48


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT E.coli Escherichia coli
ColV Colicin V
ST Heat Stable Toxin
LT Heat Labile Toxin
ETEC Enterotoxigenic
RPF Rapid Permeability Factor
DFP Delayed Permeability Factor
KHKTNN Khoa học kỹ thuật nông nghiệp
cs Cộng sự

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page viii

DANH MỤC BẢNG


Page ix

DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang

3.1 Quy trình phân lập và giám định vi khuẩn E. coli 33
4.1.3a Lợn tiêu chảy phân lỏng 45
4.1.3b Thể trạng gầy yếu 45
4.1.3c Ruột non sinh hơi, xuất huyết màng treo ruột, hạch ruột sưng 45
4.2.1a Khuẩn lạc vi khuẩn E. coli trên thạch EMB 48
4.2.1b Khuẩn lạc vi khuẩn E. coli trên thạch MacConkey 48
4.2.2a Hình thái khuẩn lạc vi khuẩn E. coli 50
4.2.2b Khả năng di động và sinh indol của vi khuẩn Ecoli 50
4.2.3
Tỷ lệ serotype kháng nguyên O của các chủng vi khuẩn E. coli phân lập 52

4.2.4a So sánh tỷ lệ các chủng E.coli mang gen quy định sản sinh độc tố
đường ruột theo lứa tuổi 54
4.2.4b So sánh tỷ lệ các chủng E.coli mang gen quy định sản sinh kháng
nguyên bám dính theo lứa tuổi 56
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

1. MỞ ĐẦU



nuôi hiện đại, khoa học, nhưng vẫn chịu ảnh hưởng lớn của dịch bệnh tiêu chảy do
vi khuẩn E. coli gây ra.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Xác định
vai trò của vi khuẩn Escherichia coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn hướng nạc
giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại một số trang trại chăn nuôi tập trung
trên địa bàn huyện Ba Vì – Hà Nội và đề xuất biện pháp phòng trị”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Chứng minh vai trò của vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con
hướng nạc giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi, xác định tính mẫn cảm của vi
khuẩn E. coli với kháng sinh. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất biện pháp
chẩn đoán và điều trị bệnh có hiệu quả.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Nghiên cứu này đã chứng minh vai trò của vi khuẩn E. coli trong bệnh tiêu
chảy ở lợn từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi tại các trại chăn nuôi lợn hướng nạc trên địa
bàn huyên Ba Vì - Hà Nội.
- Đã đưa ra phác đồ điều trị có hiệu quả, giúp cho thú y cơ sở và các hộ chăn
nuôi tham khảo trong phòng trị hội chứng tiêu chảy cho lợn con theo mẹ bị tiêu
chảy, góp phần giảm thiệt hại và tăng thu nhập trong chăn nuôi lợn.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các nghiên cứu
tiếp theo, đồng thời đóng góp tư liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu thú y và
người chăn nuôi.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Một số hiểu biết chung về hội chứng tiêu chảy
2.1.1. Khái niệm chung về hội chứng tiêu chảy

thể, từ đó dẫn đến quá trình trao đổi chất, bắt đầu từ rối loạn tiêu hóa, hấp thu đến
rối loạn trao đổi chất của các cơ quan, trao đổi chất ở mô và tế bào của cơ thế, làm
giảm sức đề kháng là điều kiện để các yếu tố gây bệnh trong ruột tăng cường số
lượng và độc lực. Khi gia súc bị nhiễm lạnh kéo dài làm giảm phản ứng miễn dịch,
giảm tác dụng thực bào, do đó gia súc dễ bị nhiễm khuẩn gây bệnh (Hồ Văn Nam
và cs, 1997), đồng thời mạch máu ngoại vi co lại, máu dồn vào các cơ quan nội
tạng, khi đó thành ruột bị sung huyết gây trở ngại tiêu hóa, thức ăn bị ứ trệ, tạo điều
kiện cho vi khuẩn có hại phát triển, quá trình lên men thức ăn tạo ra nhiều sản phẩm
độc, chất độc gây hưng phấn làm tăng nhu động ruột, tính thấm thành mạch tăng,
tăng tiết nước vào lòng ruột gây tiêu chảy.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) các yếu tố stress lạnh, ẩm ảnh hưởng rất
lớn đến lợn sơ sinh. Trong tiểu khí hậu chuồng nuôi thì quan trọng nhất là nhiệt độ
và độ ẩm, độ ẩm thích hợp nhất cho lợn con là 75 – 85%.
Ở gia súc non, dịch vị chưa có đủ axit HCl tự do nên không hoạt hoá được
men pepsin, do đó không tiêu hoá hết sữa mẹ trong khi sữa là môi trường phát triển
tốt của nhiều loại vi khuẩn (Sử An Ninh, 1995).
Trường hợp điều kiện ngoại cảnh không thuận lợi, thay đổi đột ngột về thức
ăn, vitamin, protein, thời tiết, vận chuyển làm giảm sức đề kháng của con vật, vi
khuẩn thường trực sẽ tăng độc lực và gây bệnh (Bùi Quý Huy, 2003).
Khẩu phần ăn cho vật nuôi không thích hợp, trạng thái thức ăn không tốt,
thức ăn kém chất lượng như mốc, thối, nhiễm các tạp chất, các vi sinh vật có hại dễ
dẫn đến rối loạn tiêu hoá kèm theo viêm ruột, ỉa chảy ở gia súc (Trịnh Văn Thịnh,
1985), (Hồ Văn Nam, 1997).
2.1.2.2. Nguyên nhân do vi khuẩn
Vi khuẩn là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tiêu chảy. Hầu hết
các tác giả nghiên cứu về hội chứng tiêu chảy đều cho rằng trong bất cứ trường hợp
nào của bệnh cũng có vai trò của vi khuẩn.
Trong đường tiêu hoá của gia súc có hệ vi khuẩn gọi là hệ vi khuẩn đường
ruột, được chia thành 2 loại, vi khuẩn có lợi có tác dụng lên men phân giải các chất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

nguyên F4 (K88) cao hơn nhiều so với lợn mắc tiêu chảy ở các lứa tuổi khác.
Lê Văn Tạo (1996) phân lập E. coli từ bệnh phẩm của lợn dưới 30 ngày tuổi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

thấy các chủng E. coli thuộc serotype kháng nguyên O thường gây bệnh phân trắng
lợn con ở các cơ sở chăn nuôi phía Bắc là O
111
, O
86
, O
26
, O
141
và O
1
.
Vũ Bình Minh, Cù Hữu Phú (1999) khi nghiên cứu về E. coli và
Salmonella ở lợn tiêu chảy cho biết tỷ lệ phát hiện E. coli độc trong phân là 80-
90% số mẫu xét nghiệm.
Đào Trọng Đạt và cs (1996) cho biết: Trong số các vi khuẩn đường ruột gây
bệnh, E. coli chiếm tỷ lệ cao nhất (45.6%), vi khuẩn yếm khí C.perfringens gây
bệnh khi có điều kiện thuận lợi và khi nó trở thành vai trò chính, vi khuẩn này là
nguyên nhân gây viêm ruột hoại tử, xuất huyết trầm trọng ở lợn sơ sinh, tổn thất do
bệnh gây ra là từ 50-100%.
Theo Radostits (1994), Salmonella là vi khuẩn có vai trò quan trọng trong
quá trình gây hội chứng tiêu chảy. Hiện nay các nhà khoa học đã ghi nhận có
khoảng 2.200 serotype Salmonella và được chia ra 67 nhóm huyết thanh dựa vào
cấu trúc kháng nguyên.
Theo Nguyễn Như Pho (2003), khả năng gây bệnh của các loại vi khuẩn đối

chết cao.
* Tiêu chảy do nấm mốc
Nấm mốc dễ xâm nhập vào thức ăn từ khi còn là nguyên liệu đến khi ra sản
phẩm nếu như các khâu bảo quản hay chế biến không đảm bảo đúng yêu cầu kỹ
thuật. Một số loài như: Aspergillus, Penicillinum, Fusarium có khả năng sản sinh
nhiều độc tố, nhưng quan trọng nhất là nhóm độc tố Aflatoxin (Aflatoxin B1, B2,
G1, G2, M1).
Độc tố Aflatoxin gây độc cho người và gia súc, gây bệnh nguy hiểm nhất cho
người là ung thư gan, huỷ hoại gan, độc cho thận, sinh dục và thần kinh. Aflatoxin
gây độc cho nhiều loài gia súc, gia cầm, mẫm cảm nhất là vịt, gà, lợn. Lợn thường
bỏ ăn, thiếu máu, vàng da, ỉa chảy ra máu. Nếu trong khẩu phần có 500-700 µg
Aflatoxin/kg thức ăn sẽ làm cho lợn con chậm lớn, còi cọc, giảm sức đề kháng với
các bệnh truyền nhiễm khác (Lê Thị Tài, 1997).
Độc tố nấm mốc với hàm lượng cao có thể gây chết hàng loạt gia súc, với
biểu hiện là nhiễm độc đường tiêu hoá, gây tiêu chảy dữ dội, mà thường chúng ta
không nghĩ đến nguyên nhân này, nên mọi phác đồ điều trị kháng sinh đều không
hiệu quả. Ngoài việc gây tiêu chảy cho gia súc, độc tố nấm mốc còn gây độc trực
tiếp cho người từ thực phẩm bị nhiễm nấm mốc hoặc gián tiếp từ những độc tố tồn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

dư trong thức phẩm (Biro, 1985).
* Tiêu chảy do ký sinh trùng
Ký sinh trùng nói chung và ký sinh trùng đường tiêu hóa nói riêng là một trong
số những nguyên nhân gây tiêu chảy ở lợn cũng như ở các loài gia súc khác. Cơ chế
của chúng là cướp đi chất dinh dưỡng của cơ thể vật chủ, tiết độc tố gây độc cơ thể vật
chủ, làm giảm sức đề kháng. Ngoài ra, ký sinh trùng còn gây tổn thương niêm mạc
đường tiêu hoá, gây viêm ruột, ỉa chảy (Phạm Văn Khuê, Phan Lục, 1998).
Có nhiều loại ký sinh trùng gây tiêu chảy ở lợn như: cầu trùng Eimeria,
Isospora suis, Crytosporidium, Ascaris suum, Trichuris suis hoặc một số loài giun

rõ được từng quá trình.
Dưới tác động của các yếu tố gây bệnh đã tạo nên một áp lực lớn ở ống tiêu
hóa, kết quả là làm tăng nhu động ruột dẫn đến tiêu chảy. Đầu tiên tiêu chảy là một
phản ứng có lợi nhằm bảo vệ cơ thể, đẩy các tác nhân bệnh ra ngoài, nhưng nguyên
nhân bệnh không ngừng phát triển và kích thích gây tổn thương niêm mạc gây tiêu
chảy kéo dài.
Theo Phạm Ngọc Thạch (1996), khi thiếu mật thì tới 60% mỡ không tiêu hoá
được gây ra chứng đầy bụng khó tiêu và ỉa chảy, hoặc việc giảm hấp thu cũng dẫn
đến ỉa chảy.
Theo Hồ Văn Nam và cs (1997), quá trình rối loạn càng trầm trọng hơn khi
hệ vi sinh vật trong ống tiêu hóa ở trạng thái cân bằng, vi khuẩn có hại phát triển
mạnh, lên men, gây thối. Bên cạch đó độc lực do vi khuẩn có hại tiết ra nhiều hơn,
độc tố vào máu quá trình sẽ làm rối loạn chức năng giải độc gan và quá trình thải
lọc của thận.
Vũ Văn Ngũ và cs (1982), Trịnh Văn Thịnh (1985) cho rằng: do một tác
nhân bất lợi nào đó, trạng thái cân bằng của khu hệ vi khuẩn đường ruột bị phá vỡ
tất cả hoặc chỉ một loài nào đó sinh sản quá nhiều sẽ gây hiện tượng loạn khuẩn,
gây ra sự biến động ở nhóm vi khuẩn đường ruột, cũng như ở nhóm vi khuẩn vãng
lai, các vi khuẩn gây bệnh có cơ hội tăng mạnh cả về số lượng và độc lực, các vi
khuẩn có lợi cho quá trình tiêu hoá do không cạnh tranh nổi nên giảm đi, cuối cùng
loạn khuẩn xảy ra, hấp thu bị rối loạn gây tiêu chảy.
2.1.4. Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy
Bệnh lý lâm sàng của hội chứng tiêu chảy ở gia súc là sự biến đổi về tổ chức,
tình trạng mất nước và điện giải, trạng thái trúng độc của cơ thể bệnh.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

Khi nghiên cứu về tiêu chảy ở lợn do vi khuẩn E. coli, Nguyễn Như Pho
(2003) cho rằng, ruột chỉ sung huyết, không thấy xuất huyết, không có vết loét hoặc
hoại tử như trong bệnh phó thương hàn.

mất nước. Vì vậy, trong điều trị tiêu chảy luôn luôn phải đặt vấn đề điều trị mất
nước lên hàng đầu (Archie, 2000).
Lợn bị tiêu chảy giảm khả năng tiêu hoá, chuyển hoá và hấp thụ các chất
dinh dưỡng nên lợn gầy còm, chậm tăng trọng, dễ dàng mắc các bệnh khác (Phạm
Sỹ Lăng và cs, 1997).
Ở lợn, hiện tượng tiêu chảy thường có quá trình nhiễm khuẩn. Khi tiêu chảy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11

do nhiễm khuẩn, các triệu chứng trầm trọng hơn và hậu quả để lại nặng nề hơn.
Bệnh có thể lây lan và kế phát nhiều bệnh khác, gây thiệt hại cho ngành chăn nuôi.
Như vậy, với mỗi một nguyên nhân gây bệnh khác nhau sẽ để lại những hậu quả
khác nhau.
2.1.6. Một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy
Hội chứng tiêu chảy ở gia súc do nhiều nguyên nhân gây ra. Chính vì vậy, sự
xuất hiện của bệnh phụ thuộc vào sự xuất hiện các nguyên nhân và sự tương tác
giữa nguyên nhân với cơ thể gia súc. Các yếu tố như tuổi gia súc, mùa vụ, thức ăn,
chuồng trại, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng đều có ảnh hưởng đến hội chứng tiêu
chảy ở gia súc.
Khi nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai
sữa của các hộ chăn nuôi gia đình tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(2006b) cho rằng bệnh chịu ảnh hưởng rõ rệt của lứa tuổi mắc bệnh, mùa vụ trong
năm, các loại thức ăn, nền chuồng và tình trạng vệ sinh thú y.
Về mùa vụ, hội chứng tiêu chảy ở lợn con theo mẹ xảy ra quanh năm, nhưng
cao nhất là tháng 5 - 8 (Hoàng Văn Tuấn và cs, 1998). Trong năm, lợn nuôi ở mùa
xuân và mùa hè mắc tiêu chảy cao hơn (13,67 - 14,75%) so với hai mùa còn lại
(9,18 - 9,68%) (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b).
Về độ tuổi mắc bệnh, tỷ lệ lợn tiêu chảy giảm theo tuổi, cao nhất ở giai đoạn
sau cai sữa đến 2 tháng (13,9%), sau đó giảm dần và chỉ còn 5,55% ở lợn trên 6
tháng tuổi (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 2006b). Fairbrother (1992) cho rằng khi hội

giữa cơ thể và môi trường.
Theo Phạm Khắc Hiếu và Trần Thị Lộc (1998), để phòng tiêu chảy trước hết
cần hạn chế loại trừ các yếu tố stress sẽ mang lại hiệu quả tích cực, đồng thời, khắc
phục những yếu tố khí hậu, thời tiết bất lợi để tránh rối loạn tiêu hoá, giữ ổn định
trạng thái cân bằng giữa cơ thể và môi trường. Lợn con mới sinh phải được sưởi ấm
ở nhiệt độ 37
o
C trong 7 ngày, sau đó giảm nhiệt độ dần, nhưng không được thấp
hơn 30
o
C.
Một số tác giả đã tập trung nghiên cứu chế tạo và sử dụng vacxin phòng bệnh
nhằm kích thích cơ thể chủ động sản sinh kháng thể chống lại mầm bệnh. Lê Văn
Tạo (1996) đã chọn chủng vi khuẩn E. coli mang kháng nguyên K88 kết hợp với ít
nhất 2 yếu tố gây bệnh khác nhau là Ent và Hly dùng để sản xuất vacxin cho uống
và tiêm phòng bệnh cho lợn con phân trắng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13

Các tác giả Nguyễn Thị Nội, Nguyễn Ngọc Nhiên, Cù Hữu Phú (1989) tiến
hành nghiên cứu một loại vacxin tổng hợp gồm các chủng vi khuẩn Salmonella, E.
coli và Streptococcus để phòng bệnh tiêu chảy cho đến hiện nay vẫn đang được tiếp
tục nghiên cứu.
Ngoài vacxin, các chế phẩm khác đã và đang được phát triển để phòng bệnh
tiêu chảy. Trần Xuân Hạnh và cs (2002) đã chế tạo sinh phẩm E. coli sữa và
C.perfringentoxid dùng phòng bệnh tiêu chảy cho lợn con. Phan Thanh Phượng và
cs (2008a), đã nghiên cứu đưa kháng thể E. coli dạng bột từ lòng đỏ trứng gà đã
được miễn dịch các chủng K88, K99, 987p vào phòng bệnh cho lợn. Phan Thanh
Phượng và cs (2008b) đã nghiên cứu, khảo sát và đưa vào ứng dụng theo khu vực 2
loại kháng thể dạng bột và dạng đông khô phòng trị bệnh E. coli và tụ huyết trùng

hưởng tới khả năng tiết sữa của lợn mẹ, ảnh hưởng tới lợn con.
- Cho lợn được bú sữa đầu, sau khi đẻ xong cần cho lợn sơ sinh bú sữa đầu để
đảm bảo lợn sơ sinh được tiếp nhận kháng thể từ sữa đầu của lợn mẹ đã được tiêm
phòng miễn dịch với các chủng E. coli gây bệnh đặc hiệu.
- Tiêm bổ sung chế phẩm sắt cho lợn con trong ngày đầu sau đẻ.
- Tiêm vaccin E. coli cho lợn mẹ mũi thứ nhất 21 ngày trước khi đẻ, tiêm
nhắc lại lúc 7 ngày trước khi đẻ để tạo hàm lượng kháng thể cao truyền qua sữa đầu
cho lợn sơ sinh.
- Tiêm kháng thể E. coli (dạng lỏng) hoặc cho uống kháng thể kháng E. coli
(dạng bột) nhằm đưa kháng thể thụ động vào phòng trị bệnh. Liều lượng và cách
dùng tuân theo chỉ định của nhà sản xuất.
- Dùng thuốc kháng sinh hoặc chế phẩm vi sinh vật để phòng trị.
Ngoài ra còn có thể lựa chọn sử dụng các chế phẩm men tiêu hóa để hạn chế
sự sinh trưởng, phát triển của các vi khuẩn có hại ở đường ruột, tạo sự cân bằng vi
khuẩn để phòng bệnh.
Như vậy việc xác định nguyên nhận, sử dụng kháng sinh trong điều trị tiêu
chảy do nhiễm khuẩn được nhiều người nghiên cứu và đưa ra nhiều phác đồ khác nhau.
Một điều được thống nhất rằng để sử dụng kháng sinh có hiệu quả cần phải xem xét
khả năng mẫn cảm hay tính kháng thuốc của vi khuẩn.
2.1.7.2. Điều trị bệnh
Lê Minh Chí (1995) cho rằng điều trị mất nước là bắt buộc và là điều kiện để hạ
thấp mức độ thiệt hại do bệnh tiêu chảy gây ra. Theo Phạm Ngọc Thạch (2005), nên
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 15

tập trung vào 3 vấn đề trong điều trị bao gồm: loại trừ những sai sót trong nuôi dưỡng
như thức ăn kém phẩm chất (ôi mốc), chăm sóc nuôi dưỡng tốt; khắc phục rối loạn tiêu
hoá và chống nhiễm khuẩn và điều trị hiện tượng mất nước và chất điện giải.
Khôi phục và ổn định trạng thái cân bằng hệ vi sinh vật đường ruột sẽ có ảnh
hưởng tốt đến hiệu quả điều trị. Đỗ Trung Cứ và cs (2000) sử dụng chế phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status