Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o TRẦN TRUNG MỸ
Tên đề tài:
“PHÂN LẬP VÀ XÁC ĐỊNH VAI TRÒ CỦA E.COLI TRONG
HỘI CHỨNG TIÊU CHẢY Ở LỢN CON DƢỚI 2 THÁNG TUỔI
TẠI MỘT SỐ HUYỆN CỦA TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ”
Chuyên ngành: Thú y
Mã số: 60 62 50 LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học:
1. TS. Đỗ Ngọc Thúy
(Bộ môn vi trùng - Viện Thú y quốc gia)
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô giáo
khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Bộ môn Vi trùng - Viện Thú y Quốc gia đã dành nhiều thời gian và
công sức giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tiến hành đề tài nghiên cứu
của mình.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn TS. Đỗ Ngọc Thúy phó trưởng Bộ môn Vi
trùng - Viện Thú y Quốc gia, GS.TS. Nguyễn Quang Tuyên - Viện Khoa
học sự sống - Đại học Thái Nguyên đã tạo điều kiện, giúp đỡ và tận tình
hướng dẫn để tôi hoàn thành luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn các cán bộ, công nhân viên chức Bộ môn Vi
trùng - Viện Thú y Quốc gia, cán bộ công nhân viên Chi cục Thú y tỉnh Thái
Nguyên, cán bộ công nhân viên Trạm Thú y huyện Định Hóa, Phú Lương và
Đồng Hỷ đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu khoa học.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới người thân trong gia đình, bạn bè,
đồng nghiệp luôn động viên giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như
trong quá trình thực hiện luận văn này.
2.2.1. Đối tượng nghiên cứu 35
2.2.2. Địa điểm nghiên cứu 35
2.2.3. Mẫu bệnh phẩm 35
2.2.4. Môi trường, hóa chất, dụng cụ, động vật thí nghiệm 35
2.2.5. Thời gian nghiên cứu. 36
2.3. Phương pháp nghiên cứu 36
2.3.1. Phương pháp điều tra dịch tễ học 36
2.3.2. Thu thập mẫu và phân lập vi khuẩn 37
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 46
3.1. Kết quả nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở
lợn từ sơ sinh đến dưới 2 tháng tuổi tại Thái Nguyên 46
3.1.1. Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện thuộc
tỉnh Thái Nguyên 46
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
3.1.2. Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo mùa vụ 49
3.1.3. Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo ph-ơng thức
chăn nuôi 53
3.2. Biến động số lượng vi khuẩn hiếu khí và vi khuẩn E. coli trong phân
lợn con dưới 2 tháng tuổi 55
3.2.1. Biến động số lượng vi khuẩn hiếu khí 56
3.2.2. Biến động số lượng của vi khuẩn E. coli 57
3.3. Kết quả phân lập vi khuẩn E. coli từ các mẫu bệnh phẩm 59
3.3.1. Kết quả phân lập vi khuẩn E. coli từ các mẫu phân 59
3.3.2. Kết quả phân lập vi khuẩn E. coli từ các mẫu là phủ tạng 62
3.4. Kết quả giám định một số đặc tính sinh hóa của các chủng vi khuẩn
: Brain Heart Infusion
CS
: Cộng sự
ColV
: Colicin V
Cl. perfringens
: Clostridium perfringens
CFU
: Colony Forming Unit
DHL
: Deoxycholate Hydrogensulfide Lactose
DNA
: Deoxyribonucleic Acid
E. coli
: Escherichia coli
EDTA
: Ethylene Diamine Tetraacetic Acid
ETEC
: Enterotoxigenic Escherichia coli
FAO
: Food and Argriculture Oganization
KL
: Khuẩn lạc
LD50
: Lethal Dose 50
LT
: Heat Labile Toxin
MR
: Methyl Red
NCCLS
Trang
Bảng 2.1: Tiêu chuẩn đánh giá mức độ mẫn cảm và kháng kháng sinh
theo NCCLS (1999) 45
Bảng 3.1. Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy tại một số huyện 47
Bảng 3.2: Tỷ lệ lợn mắc tiêu chảy và chết theo mùa vụ 50
Bảng 3.3. Tỷ lệ lợn tiêu chảy và chết do tiêu chảy theo phương thức
chăn nuôi 53
Bảng 3.4: Số lượng vi khuẩn hiếu khí ở lợn con dưới 2 tháng tuổi 56
Bảng 3.5: Biến động số lượng vi khuẩn E. coli trong phân lợn con dưới
2 tháng tuổi 57
Bảng 3.6: Kết quả phân lập vi khuẩn E. coli trong phân lợn con dưới 2
tháng tuổi ở 2 trạng thái 59
Bảng 3.7: Kết quả phân lập vi khuẩn E. coli từ phủ tạng lợn con dưới 2
tháng tuổi chết do tiêu chảy 62
Bảng 3.8: Đặc tính sinh hóa của một số chủng E. coli phân lập được 63
Bảng 3.9: Tỷ lệ các chủng vi khuẩn E. coli mang các yếu tố gây bệnh 65
Bảng 3.10: Kết quả xác định serotyp kháng nguyên O của các chủng vi
khuẩn E. coli phân lập được từ lợn bệnh 67
Bảng 3.11: Kết quả xác định độc lực trên chuột bạch của một số
chủng E. coli phân lập 69
Bảng 3.12: Kết quả xác định khả năng mẫn cảm với kháng sinh của các
chủng vi khuẩn E. coli 72
Bảng 3.13: Kết quả thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh tiêu chảy
lợn từ sơ sinh đến 60 ngày tuổi 76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
, thịt gà là 48,6 triệu tấn (chiếm 20,93%). Ở nước ta, nghề chăn nuôi lợn đã có
từ lâu đời và ngày càng phát triển, đạt được nhiều thành tựu quan trọng trên
hầu hết các lĩnh vực như chọn tạo giống, dinh dưỡng, kỹ thuật chăn nuôi quy
trình vệ sinh và thú y… Do vậy, năng suất và chất lượng sản phẩm chăn nuôi
lợn không ngừng được nâng cao, số lượng đầu lợn tăng ngày càng nhanh.
Theo số liệu của Cục thống kê năm 2007, tổng đàn lợn ở Việt Nam năm 2005
đạt 27,434 triệu con, năm 2006 đạt 26,85 triệu con, đã sớm đạt và vượt mục
tiêu phấn đấu đến năm 2010 đạt 25 triệu con.
Thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng và nạc hoá đàn lợn cũng như
chuyển sang hướng chăn nuôi tập trung, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện
nhiều dự án, chương trình nhằm cải tạo đàn lợn, tăng dần tỉ lệ đàn nái ngoại
và nái lai trong cơ cấu đàn nhằm đáp ứng nhu cầu sản phẩm có chất lượng cao
ở trong nước, cũng như hướng tới xuất khẩu.
Cùng với xu thế của cả nước, tỉnh Thái Nguyên đã thực hiện các dự án
nạc hoá đàn lợn, đưa nái ngoại vào chăn nuôi ở các nông hộ từ những năm 90
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
2
của thế kỷ XX. Đến nay, đã có rất nhiều cơ sở chăn nuôi lợn nái ngoại quy
mô từ 50 - 100 - 150 nái/trại. Đây thực sự là một bước tiến mới trong chăn nuôi
lợn của tỉnh Thái Nguyên, góp phần cung cấp thực phẩm với tỷ lệ nạc cao cho
người tiêu dùng.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển chăn nuôi thì tình hình dịch bệnh
cũng đang diễn biến hết sức phức tạp (dịch tai xanh, dịch lở mồm long
móng…) hàng năm làm chết nhiều đầu lợn. Một trong những bệnh gây thiệt
hại lớn về kinh tế, hay gặp và phổ biến ở lợn con dưới 2 tháng tuổi là bệnh
thực tiễn sản xuất;
- Xác định được mối liên quan giữa các yếu tố ngoại cảnh và vai trò của
vi khuẩn E. coli trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2 tháng tuổi;
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở khoa học phục vụ cho các
nghiên cứu tiếp theo, đồng thời đóng góp thêm tư liệu cho nghiên cứu và
giảng dạy, cho cán bộ thú y cơ sở và người chăn nuôi;
- Kết quả nghiên cứu phục vụ cho công tác bào chế các chế phẩm sinh
học phòng bệnh và thuốc điều trị hội chứng tiêu chảy có hiệu quả.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
4
5
nước tương đương. Nếu mất cân bằng sẽ gây tình trạng bệnh lý mất nước
hoặc tích nước.
Nguyễn Hữu Nam (2002) [25] cho biết khi bị tiêu chảy do khối thức ăn
không tiêu ở ruột làm tăng áp lực thẩm thấu gây hút nước vào trong lòng ruột;
hoặc khi viêm ruột, ngộ độc thức ăn, dịch nhầy của ruột với nước có thể tăng
gấp 80 lần so với bình thường, lượng dung dịch trong ruột tăng lên sẽ kích
thích ruột tăng co bóp sinh ra tiêu chảy và mất nước.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2003) [15] cho biết dịch tiêu hoá tiết ra 8
lít mỗi ngày, kèm theo nhiều chất điện giải, phần lớn là đẳng trương (trừ nước
bọt). Dịch tiêu hoá sẽ được hấp thu toàn bộ, cùng với lượng nước của thức ăn.
Khi cần ống tiêu hoá có thể hấp thu 30 lít mỗi ngày. Ngược lại, khi bị viêm
hoặc ngộ độc ống tiêu hoá có thể “tiết phản ứng” tới 30-40 lít. Vì vậy mất
nước do ỉa lỏng có thể diễn ra nhanh với lượng nước mất rất lớn. Đồng thời
với lượng mất dịch ruột, dịch mật, dịch tụy, làm hao hụt nhanh chóng lượng
kiềm của cơ thể, gây nhiễm toan rất nặng. Từ đó gây rối loạn tuần hoàn, tụt
huyết áp, thận không bài tiết, rối loạn chuyển hoá nặng làm cơ thể nhiễm toan
và nhiễm độc nặng.
Theo Trần Thị Dân (2006) [4] ảnh hưởng rõ rệt nhất của sinh lý tiêu
chảy là mất dịch ngoại bào. Mất 15% làm xuất hiện triệu chứng lâm sàng như
giảm huyết áp, tim đập nhanh… và mất 30% sẽ gây chết. Cung cấp dịch là
biện pháp ưu tiên trong điều trị tiêu chảy. Dịch cấp nên đẳng trương với huyết
tương và chứa đủ K
+
, HCO
3
-
để thay thế các phần đã mất, đồng thời nên thêm
Na
+
Theo Lê Văn Tạo (2005) [43], vi khuẩn E. coli xâm nhập vào trong lớp
tế bào biểu mô ruột, tại đây vi khuẩn phát triển nhân lên lần thứ nhất làm phá
huỷ lớp tế bào gây ra viêm ruột. Cũng tại đây, vi khuẩn sản sinh độc tố đường
ruột (Enterotoxin). Độc tố đường ruột tác động vào quá trình trao đổi muối,
nước ở ruột làm cho nước và chất điện giải không được hấp thu từ ruột vào cơ
thể mà ngược lại được thẩm xuất từ cơ thể vào ruột.
+ Rối loạn cân bằng Na
+
: Na
+
là ion chủ yếu ở khu vực ngoại bào, nó
liên quan chặt chẽ với các ion Cl
-
và HCO
3
-
. Vai trò chủ yếu là cân bằng áp
suất thẩm thấu và cân bằng acid-bazơ qua cặp đệm bazơ H
2
CO
3
/NaHCO
3
. Khi
bị tiêu chảy thì Na
+
huyết tương giảm đi rất nhiều, ngoài ra, nó còn bị giảm
khi cung cấp thiếu trong khẩu phần ăn. Hậu quả là gây nhược trương gian bào
mà nó được gọi theo nhiều tên bệnh khác nhau như bệnh lợn con phân trắng,
bệnh tiêu chảy sau cai sữa, chứng rối loạn tiêu hóa, chứng khó tiêu…
Theo Radostits và cs (1997) [74]: với bất kỳ cách gọi nào thì tiêu chảy
luôn được đánh giá là triệu chứng phổ biến trong các dạng bệnh của đường
tiêu hóa, xảy ra ở mọi lúc, ở mọi nơi và đặc biệt là ở gia súc non với biểu hiện
triệu chứng là ỉa chảy, mất nước và mất điện giải, suy kiệt, có thể dẫn đến
chết do trụy tim mạch.
Theo Trương Quang và cs (2007) [37]: tiêu chảy là một hội chứng gây
ra bởi nhiều nguyên nhân, trong đó có các yếu tố là nguyên nhân nguyên phát
hoặc thứ phát. Nhưng dù bất cứ nguyên nhân nào dẫn đến tiêu chảy thì đều
gây hậu quả là viêm nhiễm, tổn thương đường tiêu hóa và cuối cùng là một
quá trình nhiễm trùng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
Trong hội chứng tiêu chảy, bên cạnh những tác động bất lợi của điều
kiện ngoại cảnh, của ký sinh trùng, sự không phù hợp của khẩu phần ăn của
lợn mẹ cũng như lợn con thì vai trò của các vi khuẩn, virus gây bệnh đường
ruột cũng là yếu tố đóng vai trò rất quan trọng trong sự hình thành bệnh.
* Rối loạn tiêu hóa do thức ăn
Trong chăn nuôi lợn con dưới 2 tháng tuổi, để tăng cường sức khỏe và
khả năng sinh trưởng cho lợn con thì việc thực hiện đúng quy trình chăm sóc,
nuôi dưỡng là rất quan trọng. Thức ăn cho lợn con là vấn đề rất quan trọng,
khi thức ăn kém phẩm chất, thành phần dinh dưỡng không cân đối… đều có
thể làm cho lợn con bị tiêu chảy.
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [6] thức ăn kém phẩm chất, bị ôi
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [33] lợn con từ 5 ngày tuổi trở lên
hàng ngày cần cung cấp lượng nước khoảng 10% so với khối lượng cơ thể.
Trong chuồng cần có máng hoặc vòi uống tự động dành riêng cho lợn con và
nước uống cần đảm bảo sạch sẽ, nếu cho uống nước bằng máng, mỗi ngày
nên thay 2 lần. Không nên cho lợn con uống nước lạnh có nhiệt độ dưới 15
0
C.
* Mối liên quan giữa môi trường và hội chứng tiêu chảy ở lợn con dưới 2
tháng tuổi
Môi trường cũng là một yếu tố gây tiêu chảy lợn con. Môi trường chăn
nuôi bao gồm chuồng nuôi, khu vực phụ cận, nhiệt độ môi trường, ẩm độ môi
trường… Khi môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm thì lợn con dễ mắc hội chứng
tiêu chảy. Đặc biệt là khi nhiệt độ môi trường thay đổi đột ngột mà cơ năng
điều tiết thân nhiệt của lợn con đang còn hạn chế, làm cho lợn con bị stress
nhiệt dẫn đến rối loạn hệ vi sinh vật đường ruột, gây ra hiện tượng tiêu chảy.
Theo Trương Lăng (2004) [17] thời tiết, tiểu khí hậu chuồng nuôi, chế
độ ăn uống, vệ sinh chuồng trại, sự điều hòa tốt giữa độ ẩm và nhiệt độ… đều
ảnh hưởng đến tỷ lệ cảm nhiễm bệnh.
Trần Văn Phùng và cs (2004) [33] cho biết tiểu khí hậu chuồng nuôi
khô, ấm, không có gió lùa là quan trọng trước hết để giảm tỷ lệ tiêu chảy. Vệ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
sinh cũng rất quan trọng cho việc làm giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy ở lợn con. Tẩy
uế và khử trùng cẩn thận chuồng lợn đẻ sau mỗi lô lợn đẻ cũng giúp cho việc
phòng ngừa. Nên nhớ rằng nếu chỉ để dính vài gam phân bẩn cũng làm cho
thường trực trong đường tiêu hóa nói chung và của lợn nói riêng. Trong điều
kiện bình thường, giữa chúng với các loại vi khuẩn khác và cơ thể vật chủ ở
trạng thái cân bằng, ổn định, cùng tồn tại, có lợi cho cơ thể vật chủ. Khi các
tác nhân bất lợi hoặc ngay từ ngoại cảnh, hoặc trong đường tiêu hóa tác động
thì sức đề kháng của lợn giảm xuống, trạng thái cân bằng trên bị phá vỡ. Nhân
cơ hội này, một số vi khuẩn, trong đó có E. coli độc nhân lên về số lượng,
tăng lên về độc lực và gây bệnh.
Đỗ Ngọc Thúy và cs (2008) [51] khi nghiên cứu về đặc tính của một số
chủng E. coli phân lập từ lợn mắc tiêu chảy tại tỉnh Hưng Yên cho biết số
chủng mang kháng nguyên bám dính ở lợn trước cai sữa chiếm tỷ lệ 16,7%,
sau cai sữa là 93,8%.
Bên cạnh E. coli thì vi khuẩn Salmonella cũng là một loại vi khuẩn gây
ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con.
Đoàn Thị Băng Tâm (1987) [46] cho biết sự xuất hiện của Salmonella
phụ thuộc vào các điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng. Mỗi yếu tố bất lợi làm
giảm sức đề kháng của vật nuôi đều phải coi là nguyên nhân tiên phát của sự
xuất hiện bệnh.
Theo Phan Thanh Phượng (1988) [34] vi khuẩn Salmonella thường
xuyên có trong đường ruột lợn và trong những điều kiện chăn nuôi, quản lý
làm cho sức đề kháng của cơ thể giảm, chính vi khuẩn Salmonella trở thành
độc và phát triển mạnh mẽ gây nên viêm ruột, ỉa chảy.
Theo Radostits và cs (1997) [74] thì Salmonella là vi khuẩn có vai trò
quan trọng trong quá trình gây ra hội chứng tiêu chảy. Hiện nay các nhà khoa
học đã ghi nhận có khoảng 2.200 serotyp Salmonella và chia ra 67 nhóm
huyết thanh dựa vào cấu trúc kháng nguyên O.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
hiện cả trong máu, tim, thận.
Khi nghiên cứu vai trò của Salmonella trong hội chứng tiêu chảy ở
lợn, Trương Quang và cs (2007) [37] cho biết Salmonella đóng vai trò
quan trọng trong hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Tỷ lệ các chủng
Salmonella có các yếu tố gây bệnh (yếu tố bám dính, thành phần độc tố
thẩm xuất) và có độc lực mạnh phân lập từ lợn con tiêu chảy cao hơn rất
nhiều so với lợn không tiêu chảy.
Cl. perfringens cũng là loài vi khuẩn gây ra bệnh tiêu chảy ở lợn con.
Đây là một vi khuẩn yếm khí và cũng thường có trong đường tiêu hóa của lợn
con như E. coli và Salmonella.
Theo Nguyễn Văn Sửu và cs (2008) [42] khi xác định tỷ lệ tiêu chảy do
viêm ruột hoại tử tại một số địa phương thuộc tỉnh Thái Nguyên cho biết số
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
13
lượng vi khuẩn Cl. perfringens ở phân lợn con tiêu chảy trung bình là 21,58
triệu trong 1g phân và ở lợn bình thường là 7,98 triệu.
Như vậy, ba loại vi khuẩn E. coli, Salmonella và Cl. perfringens là 3
loại vi khuẩn thường gặp trong hội chứng tiêu chảy ở gia súc nói chung và ở
lợn con nói riêng.
- Tiêu chảy do virus
Bên cạnh các vi khuẩn thì virus cũng là một nguyên nhân quan trọng
gây ra hội chứng tiêu chảy ở lợn con. Vai trò của virus trong hội chứng tiêu
chảy của gia súc đã được nhiều nhà nghiên cứu lưu tâm và đã có nhiều công
trình nghiên cứu đã chỉ ra vai trò của một số virus như Rotavirus, Enterovirus,
Transmissible Gastro Enteritis (TGE) là những nguyên nhân chủ yếu gây
trình tiêu hóa hấp thu, kích thích nhu động ruột, gây tiêu chảy và hiện tượng
nhiễm trùng.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs (2006) [13] khi nghiên cứu về một số đặc
điểm dịch tễ hội chứng tiêu chảy ở Thái Nguyên đã kết luận cầu trùng và một
số giun tròn (giun đũa, giun tóc, giun lươn) là một trong những nguyên nhân
gây tiêu chảy ở lợn con sau cai sữa.
Khi nghiên cứu về tình hình bệnh tiêu chảy ở lợn sau cai sữa và tỷ lệ
nhiễm giun sán ở lợn tiêu chảy tại Thái Nguyên, Nguyễn Thị Kim Lan và cs
(2009) [14] đã nhận xét giun sán đường tiêu hóa có vai trò rõ rệt trong hội
chứng tiêu chảy ở lợn từ sau cai sữa. Ở lợn bình thường và lợn bị tiêu chảy
đều nhiễm các loại giun đũa, giun lươn, giun tóc, giun kết hạt và sán lá ruột,
nhưng ở lợn tiêu chảy tỷ lệ nhiễm cao hơn và mức độ nặng hơn.
- Tiêu chảy do nấm mốc
Nấm mốc trong thức ăn cũng gây ra hiện tượng tiêu chảy ở gia súc nói
chung và ở lợn con nói riêng. Nấm mốc phát triển trên lương thực, thực phẩm
và làm suy giảm hàm lượng các chất dinh dưỡng của cơ chất, còn sản sinh ra
các độc tố. Một số ngũ cốc như ngô, lạc, đậu, các loại hạt có dầu thường rất
thích hợp cho sự sinh sản độc tố của nấm mốc.
Lê Hồng Mận (2004) [21] cho biết lợn bị ngộ độc aflatoxin cấp tính thì
bỏ ăn, tiêu hóa rối loạn, loạng choạng, lúc đầu nhiệt độ tăng, rồi giảm, da
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
vàng, co giật, yếu mệt rồi bị liệt. Lợn bị ngộ độc ở thể thứ cấp tính sốt cao đến
41,5
0
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Cho đến nay, các nhà khoa học đã xác định được 170 typ kháng nguyên O, 80
typ kháng nguyên H, 56 typ kháng nguyên K và một số kháng nguyên F.
Kháng nguyên H không quyết định yếu tố độc lực, không có vai trò bám dính,
nhưng có tác dụng bảo vệ vi khuẩn đường ruột, tránh sự tiêu diệt của đại thực
bào, giúp vi khuẩn sống và nhân lên trong tế bào gan, thận và ngay cả trong
đại thực bào (Weinstein và cs, 1984) [78].
1.2.1.1. Một số đặc điểm của vi khuẩn E. coli
Bình thường E. coli là vi khuẩn cộng sinh, thường trực trong đường
ruột gia súc, gia cầm và người. E. coli là trực khuẩn thuộc họ
Enterobacteriaceae, là vi khuẩn bắt màu Gram âm, 2 đầu tròn, kích thước 2 -
3 x 0,6 m, có lông ở xung quanh nên vi khuẩn có khả năng di động. Vi
khuẩn E. coli không hình thành nha bào nên sức đề kháng yếu, dễ bị diệt ở
nhiệt độ 55
0
C trong vòng 1 giờ, ở 60
0
C sống được 15 - 30 phút. Các chất sát
trùng như acid phenic, clorua thủy ngân (HgCl
2
), formol có thể diệt E. coli
trong vòng 5 phút, nhưng vi khuẩn đề kháng mạnh với sự sấy khô (Lê Văn
Tạo, 2006) [44].
* Đặc tính nuôi cấy
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [56] thì E. coli là trực khuẩn hiếu
khí và yếm khí tùy tiện, có thể sinh trưởng ở nhiệt độ 15 - 24
0
C và nhiệt độ
men, trong khi đó Klebsiella lại lên men các loại đường này. Tất cả các E. coli
đều lên men đường lactoza nhanh và sinh hơi, đó là một đặc điểm quan trọng,
người ta dựa vào đó để phân biệt E. coli và Salmonella. Tuy nhiên, một vài
chủng E. coli không lên men lactoza. E. coli không lên men dextrin, amidin,
glycogen, xenlobioza.
Theo Nguyễn Quang Tuyên (2008) [56], vi khuẩn E. coli còn còn một
số đặc tính sinh hóa như:
- E. coli làm sữa đông sau 24 - 37 giờ ở 37
0
C;
- Phản ứng sinh Indol: dương tính;
- Phản ứng sinh H
2
S: âm tính;
- Phản ứng M.R (Methyl Red): dương tính;
- Phản ứng V.P (Voges Proskauer): âm tính;
- Hoàn nguyên nitrat thành nitrit.
1.2.1.2. Các serotyp E. coli thường gặp trong tiêu chảy ở lợn con