Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng trong quá trình đổi mới ở Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN MẠNH HÀ

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
VÀ SỰ VẬN DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2011 MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1


Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam qua các
thời đại
13
1.3.
Khái quát về tư tưởng, đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
13
1.3.1.
Tư tưởng nhà nước pháp quyền của nhân loại
13
1.3.2.
Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
17
1.3.3.
Các đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền
19
1.4.
Những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước pháp quyền
25
1.4.1.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân
25

1.4.1.1.
Nhà nước của dân
25
1.4.1.2.
Nhà nước do dân
27
1.4.1.3.

38
1.5.3.
Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính
38
1.5.4.
Tổ chức và hoạt động của các cơ quan xét xử và giám sát thi
hành luật
38
1.6.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
39
1.7.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của quần chúng nhân dân
đối với hoạt động và sức mạnh của nhà nước
40
1.8.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật và quản lý
xã hội bằng pháp luật
42
1.8.1.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của pháp luật
42
1.8.2.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quản lý xã hội bằng pháp luật
45
1.9.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa dân chủ và
pháp luật
49


2.1.1.1.
Những thành tựu nổi bật
64
2.1.1.2.
Những tồn tại và hạn chế trong hoạt động của bộ máy nhà nước
65
2.1.2.
Thực trạng của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay
67
2.1.2.1.
Những thành tựu cơ bản
67
2.1.2.2.
Một số tồn tại và bất cập
69
2.2.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền
trong giai đoạn hiện nay ở nước ta
73
2.2.1.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do
dân và vì dân
73
2.2.2.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực hiện nguyên
tắc tập trung dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
74
2.2.3.
Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giáo dục pháp luật và
giáo dục đạo đức, xây dựng, nâng cao đạo đức cán bộ, đẩy

tộc tiên phong trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân vì độc
lập tự do và phẩm giá con người.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của
Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh có nội dung rộng lớn, bao quát
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam.
Đó là tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng
con người; về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; kết hợp sức mạnh

2
dân tộc với sức mạnh thời đại; về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn
kết dân tộc; về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng Nhà nước thực sự của
dân, do dân và vì dân; về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang
nhân dân; về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân; về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm,
chính, chí công, vô tư; về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau;
về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người
lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, về pháp luật là đề tài được các
Nhà khoa học đặc biệt quan tâm, đã có rất nhiều công trình khoa học khảo
cứu về lĩnh vực này.
Bước sang thế kỷ XXI, trước những cơ hội và thách thức mới, nhất là
khi nước ta đã chính thức hội nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO),
càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn về lý luận và nhận thức đòi
hỏi phải làm sáng tỏ thì việc nghiên cứu, bảo vệ, vận dụng và phát triển chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cuộc sống càng trở
nên cấp bách, quan trọng.
Thực tiễn đã chứng minh Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh ngày càng có giá trị to lớn, dẫn đường cho mọi thắng lợi của cách mạng
Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành tài sản tinh thần quý báu của
Đảng và nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật là đề

Do đó em mạnh dạn chọn đề tài luận văn của mình là: "Tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước pháp quyền và sự vận dụng trong quá trình đổi mới ở Việt Nam".
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số công trình nghiên cứu về tư tưởng nhà nước, pháp luật,
gần đây là về nhà nước pháp quyền của chủ tịch Hồ Chí Minh. Có thể nêu
một số công trình tiêu biểu như:

4
Những công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, như các tác
giả Nguyễn Đình Lộc, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của dân, do dân
và vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998; Vũ Đình Hòe, Pháp quyền
nhân nghĩa Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; Tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1995; Lê Thị
Phương Thảo (chủ biên), Tư tưởng Hồ Chí Minh (Tập bài giảng), Nxb Đại học
quốc gia Hà Nội, 2001. Các công trình này đã tập trung nghiên cứu tư tưởng
Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước cách mạng Việt Nam, có đề cập đến vai
trò, đóng góp của Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng Hiến pháp 1946, 1959.
Đồng thời, từ phân tích nội dung các bản hiến pháp mà đích thân Hồ Chí
Minh trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, có gợi mở một số khía cạnh trong tư tưởng
lập hiến của Người. Công trình của Văn phòng Quốc hội: Tổ chức bộ máy
nhà nước Việt Nam qua 4 bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980 và 1992); Hoàng
Văn Hảo, Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước kiểu mới sự hình thành và phát
triển, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995; Võ Nguyên Giáp (chủ biên), Tư
tưởng Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997; Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử lập hiến, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 1997; Nguyễn Xuân Tế, Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước pháp luật, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Song Thành, Chủ tịch
Hồ Chí Minh - người xác lập những nguyên lý cơ bản về nhà nước dân chủ ở
nước ta, Tạp chí Cộng sản, 1992; Nguyễn Duy Gia, Một số quan điểm của
Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước kiểu mới, Tạp chí Cộng sản,

5. Những đóng góp của luận văn
Những đóng góp của luận văn gồm có:
Một là, về lý luận: luận văn nghiên cứu có hệ thống các khái niệm là
cơ sở hình thành và phát triển của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp

6
luật; tìm hiểu và phân tích một số nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước và pháp luật;
Hai là, về thực tiễn: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và
pháp luật trong giai đoạn hiện nay ở nước ta.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Những quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước pháp quyền.
Chương 2: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền
ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 7
Chương 1
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
VỀ NHÀ NƢỚC PHÁP QUYỀN

1.1. Khái quát sự hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc
pháp quyền
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật là di sản quý báu cho
chúng ta kế thừa trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập
quốc tế. Đó chính là sự kế thừa nhuần nhuyễn, chọn lọc tinh hoa văn hóa pháp
lý chính trị của nhân loại và của dân tộc Việt Nam. Hồ Chí Minh đã có

biểu. Bản thân Nho giáo là hệ thống các quan điểm về quản lý xã hội, có cả
mặt tiến bộ, có cả mặt hạn chế. Người đã nhận rõ những hạn chế, bất cập
trong tư tưởng Nho giáo như: yếu tố duy tâm lạc hậu, coi khinh lao động chân
tay, phân biệt đẳng cấp, coi khinh, trói buộc phụ nữ… Hồ Chí Minh không
hoàn toàn chịu ảnh hưởng một cách rập khuôn những tư tưởng Nho học, mà
trong tư tưởng và hành động. Điều quý báu là ở chỗ Người luôn phát huy
những giá trị tích cực; đồng thời, hạn chế, khắc phục những nhược điểm của
hệ tư tưởng này. Người không chỉ nghiên cứu một chiều mà đã ý thức rất rõ
việc lưu giữ, phát huy, kế thừa một cách có chọn lọc, sáng tạo những yếu tố
tiến bộ, nhân văn của hệ tư tưởng Nho giáo.
Điểm tích cực của Nho giáo là đã đề xướng triết học hành động cùng
tư tưởng nhập thế, hành đạo, giúp dời, lý tưởng về một xã hội bình trị, một
"thế giới đại đồng", triết lý nhân sinh về tu thân dưỡng tính (chính tâm tu
thân), từ Thiên tử cho đến thứ dân ai cũng phải lấy tu thân làm gốc.
Nho giáo cũng đề cao văn hóa, lễ giáo, tạo ra truyền thống hiếu học
khác hẳn với chủ trương "ngu dân" để "dễ trị" của các học thuyết cổ đại

9
khác. Học thuyết "Đức trị" của Nho giáo chính là cơ sở lý luận của tư tưởng
Hồ Chí Minh về kết hợp đạo đức và pháp luật nhưng trên lập trường mácxít.
Hồ Chí Minh đã khái quát thành công thức: Những người An Nam chúng ta
hãy tự hoàn thiện mình, về mặt tinh thần bằng cách đọc các tác phẩm của
Khổng Tử và về mặt cách mạng thì cần đọc các tác phẩm của Lênin. Chúng
ta thấy, Hồ Chí Minh tiếp thu Nho giáo cũng giống như Mác tiếp thu phép
biện chứng của Hêghen. Bởi lẽ, trật tự các giá trị đạo đức Nho giáo là: Nhân,
Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Còn trật tự và chuẩn mực đạo đức của người cách mạng
trong tư tưởng Hồ Chí Minh là: Trí, Tín, Nhân, Dũng, Liêm. Người cũng
căn dặn: cơ sở, điều kiện để có thể thực hiện "tề gia trị quốc bình thiên hạ"
như Nho giáo, trước hết phải là "tu thân": "Phải chính tâm tu thân thì mới có
thể trị quốc bình thiên hạ". "Tu thân" - tự mình phải sửa mình, tự mình phải

người đúng tội không phân biệt thân thích hay xa lạ; v.v…
1.2.1.3. Sự kế thừa những quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Tam dân
của Tôn Trung Sơn
Nghiên cứu về Tôn Trung Sơn, Hồ Chí Minh khẳng định: "Chủ nghĩa
Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta".
Các tiêu chí của thuyết Tam dân đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh rút gọn trong
quốc hiệu của nước ta là: "Độc lập - Tự do - Hạnh phúc". Trong bài phát biểu
tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Chính phủ cố gắng làm đúng theo ba chính
sách: Dân sinh, Dân quyền và Dân tộc" [31, tr. 440].
Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa tư tưởng về nhà nước và pháp luật của
Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn là: các vấn đề dân
tộc, dân quyền, dân sinh của Việt Nam được Hồ Chí Minh giải quyết trên cơ
sở lý luận Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật.

11
1.2.2. Tiếp thu các tư tưởng tiến bộ về nhà nước và pháp luật ở
phương Tây và chủ nghĩa Mác - Lênin
Hồ Chí Minh đã tiếp thu giá trị tư tưởng nhân quyền với nội dung là
quyền tự do cá nhân thiêng liêng trong bản Tuyên ngôn năm 1976 của nước
Mỹ. Hồ Chí Minh đã trích luận điểm bất hủ của Thomas Jeffeson - nhà khai
sáng nổi tiếng trong lịch sử đấu tranh của nhân dân Mỹ: "Tất cả mọi người
đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể
xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền sống, quyền tự do và quyền
mưu cầu hạnh phúc". Nhưng Hồ Chí Minh không dừng ở đó, Người phát triển
thêm: "Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: Tất cả các dân tộc trên thế giới đều
sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và
quyền tự do".
Cuối năm 1917, Hồ Chí Minh từ Anh sang Pháp, đến với quê hương
của lý tưởng Tự do - Bình đẳng - Bác ái. Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp

dân tộc không con đường nào khác con đường cách mạng vô sản"

[36, tr. 314].
Từ đó cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam được định hướng đúng đắn là
độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tư tưởng Hồ Chí Minh từ đó
thuộc hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, mang tính cách mạng, khoa học và
nhân văn cao cả.
Hồ Chí Minh không chỉ vận dụng mà còn phát triển một cách sáng tạo
lý luận Mác - Lênin. Người coi việc học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, trước hết
phải nắm lấy cái cốt lõi, linh hồn sống của nó là phép biện chứng. Chân lý là
cụ thể, cách mạng là sáng tạo luôn thể hiện trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Có
thể khẳng định rằng: Tư tưởng Hồ Chí Minh nằm trong hệ tư tưởng của chủ
nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc chủ yếu của tư
tưởng Hồ Chí Minh.

13
1.2.4. Kế thừa truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam qua các
thời đại
Tự hào với truyền thống vẻ vang của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa
tất cả những kinh nghiệm quý báu của cha ông trong suốt cả quá trình dựng
nước và giữ nước. Trải qua 4 ngàn năm dựng nước và giữ nước đã hun đúc
cho dân tộc Việt Nam truyền thống yêu nước, tinh thần nhân ái, đoàn kết,
kiên cường bất khuất, tự lực, tự cường, thông minh sáng tạo. Tinh thần yêu
nước đã trở thành đạo lý sống, và là một nhân tố cơ bản đứng đầu trong bảng
giá trị tinh thần của con người Việt Nam. Nguyễn Tất Thành đã sớm tiếp thu
tinh thần đó và đã trở thành một định hướng cơ bản trong cuộc đời hoạt động
cách mạng của mình. Đó cũng là động lực tinh thần chi phối mọi suy nghĩ,
hành động trong suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đó cũng
chính là cơ sở tư tưởng để người tiếp thu tinh hoa của văn hóa Đông, Tây và
đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, đến với chủ nghĩa xã hội khoa học.

đạo đức của Khổng Tử tuy còn có những mặt hạn chế song cũng có nhiều giá
trị tích cực bởi pháp luật của nhà nước pháp quyền là pháp luật được xây
dựng, áp dụng và đánh giá trên cơ sở đạo đức xã hội, pháp luật phải phù hợp
với đạo đức và thiếu đạo đức thì không thể có một xã hội phát triển bền vững.
Theo Mạnh Tử, Vua vâng mệnh trời để trị dân, nhưng mệnh trời phải
hợp với lòng dân, vai trò chủ chốt là của dân và sự phụ thuộc của nhà cầm
quyền vào nhân dân. Tuân Tử đã kết hợp " lễ trị với luật" để trị nước. Có thể
coi đây là cầu nối giữa tư tưởng nhân trị - lễ trị của Khổng - Mạnh và tư
tưởng pháp trị sau này.
Tư tưởng chính trị của phái pháp gia mà đại biểu là Hàn Phi Tử đã
phát triển tư tưởng pháp trị lên đỉnh cao, coi pháp luật là cơ sở duy nhất để
quản lý xã hội, pháp luật phải thay đổi theo thời cuộc "thời biến, pháp biến",
Hàn Phi đã khẳng định "không có thứ pháp luật luôn đúng". Theo Hàn Phi

15
pháp luật phải được viết thành văn và công bố rộng rãi cho mọi người. Pháp
luật phải nghiêm minh và có chế độ thưởng phạt đúng đắn.
Các nhà tư tưởng phương Đông ít bàn luận về nhà nước, pháp luật hơn
mà chủ yếu quan tâm đến đường lối, phương thức cai trị con người và xã hội.
Các nhà tư tưởng phương Đông đều coi trọng nguyên tắc bình đẳng trước
pháp luật. Hàn Phi Tử cho rằng, ý muốn cá nhân của các bậc quân Vương là
cội nguồn của tình trạng vô pháp luật; pháp luật đối với người quý tộc và kẻ
hèn mọn phải như nhau. Đồng thời nhà nước pháp quyền cũng không loại trừ
đạo đức, thiếu đạo đức xã hội sẽ hỗn loạn. Tư tưởng này đã được kế thừa và
phát triển qua nhiều thời đại và đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
Nhà nước pháp quyền là một hiện tượng chính trị - pháp lý phức tạp
được hiểu và nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau, song chúng ta có thể hiểu
nhà nước pháp quyền theo cách đơn giản, đó là một nhà nước quản lý kinh tế -
xã hội bằng pháp luật và nhà nước hoạt động tuân theo pháp luật. Nhà nước
pháp quyền là nhà nước phục tùng pháp luật mà chủ thể phục tùng pháp luật

+ Nhà nước - xã hội chính trị hoặc xã hội công dân mà thực chất là
một khế ước xã hội trong đó công dân nhượng một phần quyền lực chung cho
quyền lực nhà nước.
+ Bảo toàn quyền tự nhiên của con người là tiêu chí quan trọng để xác
định giới hạn và phạm vi hoạt động của nhà nước.
Montesquieu (những năm 1698-1755) đã khẳng định nếu như quyền
lập pháp, hành pháp, tư pháp nằm trong tay một người hay một cơ quan thì
con người sẽ không có tự do. Nếu như quyền tư pháp hợp nhất với quyền
hành pháp thì tòa án sẽ trở thành kẻ đàn áp nhân dân và tất cả sẽ bị hủy diệt.
Ngoài ra còn nhiều nhà tư tưởng nhà nước pháp quyền khác như:
Roussou (1712 - 1778), Kant (1724 -1804), Heeghen (1770-1831) và tiếp đó
là nhà tư tưởng nhà nước pháp quyền vĩ đại C.Mác, Ph.Ăngghen.

17
1.3.2. Khái niệm, các đặc điểm cơ bản của nhà nước pháp quyền
Nhà nước pháp quyền là một chế độ chính trị mà ở đó nhà nước và cá
nhân phải tuân thủ pháp luật, mọi quyền và nghĩa vụ của tất cả, của mỗi người
được pháp luật ghi nhận và bảo vệ các quy trình và quy phạm pháp luật được
bảo đảm thực hiện bằng một hệ thống tòa án độc lập.
Nhà nước pháp quyền có nghĩa vụ tôn trọng giá trị nhất của con người
và đảm bảo cho công dân có khả năng, điều kiện, chống lại sự tùy tiện của cơ
quan nhà nước bằng việc lập ra cơ chế kiểm tra tính hợp hiến và hợp pháp của
pháp luật cũng như các hoạt động của bộ máy nhà nước. Nhà nước pháp quyền
phải đảm bảo cho công dân không bị đòi hỏi bởi những cái ngoài Hiến pháp và
pháp luật đã quy định. Trong hệ thống pháp luật thì Hiến pháp giữ vị trí tối cao
và nó phải được xây dựng trên cơ sở đảm bảo quyền tự do và quyền công dân.
Nhà nước pháp quyền là vị thế pháp lý hay một hệ thống thể chế, nơi
mỗi người đều phải phục tùng và tôn trọng luật pháp, từ cá nhân đơn lẻ cho
tới cơ quan công quyền. Nhà nước pháp quyền như vậy liên hệ chặt chẽ với
sự tôn trọng trật tự thứ bậc của các quy phạm, tôn trọng sự phân chia quyền

Trong khuôn mẫu đó, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước phải được xác
định một cách rõ ràng và các quy phạm mà những cơ quan này tạo ra chỉ có
hiệu lực với điều kiện tuân thủ toàn bộ các quy phạm có hiệu lực cao hơn.
Cao nhất của hệ thống các quy phạm pháp luật là Hiến pháp.
Mỗi nhà tư tưởng đều có cách nhìn khác nhau về nhà nước pháp
quyền, những tựu chung lại các nhà tư tưởng thời cách mạng tư sản đều quan
niệm nhà nước pháp quyền có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trong nhà
nước pháp quyền, con người là mục tiêu và giá trị cao nhất.
Thứ hai, đề cao vai trò của pháp luật, pháp luật được coi như đại
lượng làm thước đo chung để hướng dẫn và đánh giá hành vi con người, mọi
quan hệ xã hội cơ bản được điều chỉnh bằng pháp luật.

19
Thứ ba, pháp luật giữ vị trí thống trị trong đời sống xã hội, trong đó đề
cao vai trò của Hiến pháp và các đạo luật.
Thứ tư, quyền lực nhà nước được phân định rõ ràng theo ba chức năng
cơ bản của nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Ba chức năng này
giao cho ba cơ quan khác nhau, có vị trí độc lập và ngang nhau trong kìm chế
và đối trọng để kiểm soát và hạn chế sự lạm dụng quyền lực.
Thứ năm, đảm bảo tính độc lập của cơ quan tư pháp trên cơ sở chỉ tuân
theo pháp luật, không bị can thiệp từ phía các cơ quan và các cá nhân khác.
Các nhà triết học tư sản cũng cho rằng, Nhà nước phải đứng dưới
pháp luật, tuân theo pháp luật mặc dù nhà nước ban hành ra pháp luật, bởi vì
có một thứ pháp luật khách quan mà tinh thần của nó là nhà nước và pháp luật
thực định do nhà nước ban hành cần phải tuân thủ, đó là pháp luật tự nhiên.
Pháp luật tự nhiên có trước nhà nước, được lý trí công nhận, giữ vai trò lãnh
đạo cuộc sống và điều chỉnh hành vi của con người. Do vậy, có thể nói học
thuyết nhà nước pháp quyền đã đứng trên thế giới quan triết học pháp quyền
để xác định bản chất và chân lý của pháp luật.

của nhà nước pháp quyền:
Một là, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quyền lực nhà
nước bắt nguồn từ đâu? Quyền lực nhà nước của ai? Đó là câu hỏi lớn của nhiều
thời đại. Tùy theo điều kiện phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa của
mỗi thời đại và mỗi dân tộc mà người ta đưa ra những câu trả lời khác nhau.
Trước tiên, quyền lực nhà nước được coi là bắt nguồn từ một lực
lượng siêu nhiên tức là chú, trời. Quyền lực đó được trao cho Vua thay trời trị
vì dân. Với quan niệm ấy, quyền lực nhà nước là tài sản riêng của vua và tồn
tại vĩnh viễn như một thiên lệnh. Vì thế quyền lợi cá nhân và hoàng tộc là cái
chi phối nhà Vua, chứ không phải quyền lợi của nhân dân.

Trích đoạn Kết hợp giáo dục pháp luật và đạo đức trong việc thực hiện pháp luật Thực trạng hoạt động của bộ máy nhà nước Việt Nam hiện nay Thực trạng của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân và vì dân Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc thực hiện nguyên
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status